chương 1. SÁNG KIẾN VÀNH ĐAI VÀ CON ĐƯỜNG TẠI ĐÔNG NAM Á .1 Lý do Trung Quốc xúc tiến Sáng kiến Vành đai và Con đường tại Đông Nam Á .1 Vị trí và vai trò của khu vực Đông Nam Á .2 Nhận thức của Trung Quốc về vai trò của Đông Nam Á trong Sáng kiến Vành đai và Con đường .2 Nhu cầu của Đông Nam Á đối với các dự án cơ sở hạ tầng .3 Hợp tác chính sách trong khuôn khổ Sáng kiến Vành đai và Con đường tại Đông Nam Á .4 Thực trạng triển khai các dự án cơ sở hạ tầng thuộc Sáng kiến Vành đai và Con đường tại Đông Nam Á .1 Cơ sở hạ tầng cảng biển .2 Cơ sở hạ tầng đường sắt .1 Cơ sở hạ tầng đường bộ .2 Các cơ sở hạ tầng năng lượng .3 Các đại dự án, đặc khu kinh tế, khu công nghiệp .79 Tiểu kết chương 2. PHẢN ỨNG CỦA CÁC NƯỚC ĐÔNG NAM Á ĐỐI VỚI SÁNG KIẾN VÀNH ĐAI VÀ CON ĐƯỜNG .1 Nhóm ủng hộ .1 Đặc điểm mối quan hệ .2 Tình hình chính trị nội bộ .3 Các yếu tố bên ngoài .2 Nhóm thận trọng .1 Đặc điểm mối quan hệ .2 Tình hình chính trị nội bộ .3 Các yếu tố bên ngoài .3 Nhóm dao động .1 Đặc điểm mối quan hệ .2 Tình hình chính trị nội bộ .3 Các yếu tố bên ngoài .112 Tiểu kết chương 3 .116 TÀI LIỆU THAM KHẢO. Lý do chọn đề tài Vào mùa đông năm 2014, Trung Quốc (TQ) tổ chức Hội nghị cấp cao Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương (APEC), sự kiện quốc tế quan trọng kể từ Thế vận hội Olympic Bắc Kinh 2008.
Tại đây, Chủ tịch Tập Cận Bình khẳng định vị thế siêu cường của TQ khi đề xuất tham vọng xây dựng một “Con đường tơ lụa mới” như một phần của tầm nhìn rộng lớn hướng đến tương lai. “Triển vọng phát triển của khu vực lệ thuộc vào các quyết định và hành động của chúng ta ngày hôm nay,” ông nói trước các đại biểu tham dự hội nghị, “chúng ta có trách nhiệm kiến tạo và thực hiện giấc mơ Châu Á - Thái Bình Dương cho người dân” (Denyer, 2014). Bài phát biểu này thể hiện sự chuyển mình một cách chính thức của nền ngoại giao TQ từ truyền thống thụ động với phương châm “Ẩn mình chờ thời” do cựu lãnh đạo Đặng Tiểu Bình khởi xướng sang trở nên chủ động hơn với sáng kiến định hình trật tự khu vực và thế giới. Thực tế, APEC không phải là lần đầu tiên ông Tập giới thiệu Sáng kiến Vành đai và Con đường (BRI) với thế giới.
Trước đó, BRI đã được ông ra mắt trong chuyến công du đến Kazakhstan. Tại Trường đại học Nazarbayer ở thủ đô Nur-Sultan, vào ngày 7/9/2013, trong diễn văn với tựa đề “Thúc đẩy tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước và cùng nhau hướng đến một tương lai tươi sáng”, ông đề xuất TQ và Trung Á cần hợp tác xây dựng “Vành đai Con đường tơ lụa trên bộ” (Silk Road Economic Belt - SREB) để củng cố quan hệ kinh tế chặt chẽ hơn, hợp tác sâu sắc hơn và mở rộng không gian phát triển cho liên khu vực Á – Âu (“President Xi Jinping proposes to build a Silk Road Economic Belt with Central Asian countries”, 2013). Chỉ vài tuần sau đó, trong bài phát biểu tại Quốc hội Indonesia, ông Tập khởi xướng “Con đường tơ lụa trên biển thế kỷ XXI” (21st – Century Maritime Silk Road Initiative – MSRI) để thúc đẩy hợp tác trên biển (The State Council of the People’s Republic of China, 2015). Từ đây, ý tưởng về khôi phục con đường tơ lụa cổ xưa của TQ đã thành hình 2 với hai nhánh trên bộ và trên biển, đánh dấu sự khai sinh tầm nhìn đại chiến lược về đối ngoại của thế hệ lãnh đạo thứ năm tại TQ.
Xét trên khía cạnh địa chính trị, TQ bị bao quanh bởi các cường quốc: Nga ở phía bắc, Nhật Bản ở phía đông và Ấn Độ ở phía tây nam. Riêng ở phía đông nam, nước này tiếp giáp với các quốc gia vừa và nhỏ, và hầu như không tạo ra mối đe dọa đáng kể nào đối với TQ. Vì vậy, TQ xem Đông Nam Á (ĐNA) là đối tác để hợp tác lâu dài và là một pháo đài quan trọng để theo đuổi mục tiêu thiết lập một khu vực ngoại vi ổn định. Theo David Shambaugh, là nơi các cường quốc gặp gỡ, ĐNA có ý nghĩa chiến lược quan trọng đối với cả TQ và Hoa Kỳ (Shambaugh, 2020, tr.
Đặc biệt, khu vực này có thể đóng một vai trò hữu ích trong việc cân bằng và ổn định quan hệ giữa Hoa Kỳ, TQ và các cường quốc khác (Xue, 2020, tr. Đồng thời, sự hợp tác chặt chẽ với các nước ĐNA có thể hạn chế ảnh hưởng của Hoa Kỳ tại châu Á – Thái Bình Dương (CA – TBD), từ đó, giảm bớt áp lực mà TQ phải đối mặt trong khu vực ngoại diên của mình. Việc triển khai BRI ở ĐNA dành sự quan tâm đặc biệt của giới nghiên cứu và những nhà làm chính sách tại khu vực và quốc tế vì sự gần gũi về mặt địa lý, mối quan hệ kinh tế sâu rộng, bối cảnh địa chính trị phức tạp, tham vọng tạo ảnh hưởng của TQ và đặc điểm phát triển của từng quốc gia, vốn hứa hẹn sự phân cực về tính chất và mức độ tham gia của các nước ĐNA. Tận dụng các lợi thế sẵn có trong hợp tác kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội với các nước trong khu vực, TQ đã đẩy mạnh “xuất khẩu” BRI trên cả năm trụ cột: chính sách thông thoáng, đường sá liên thông, thương mại thông suốt, tiền tệ lưu thông, lòng dân thông hiểu (Trần Việt Thái, 2017).
Các nước ĐNA, ngoại trừ Singapore, đều trong giai đoạn đang phát triển và có nhu cầu rất lớn về nguồn vốn và kỹ thuật để phát triển cơ sở hạ tầng (CSHT). Theo báo cáo của Ngân hàng phát triển châu Á (ADB), khu vực này cần khoảng 3,147 tỷ USD để đầu tư vào các dự án phát triển CSHT trong giai đoạn 2016 – 2030 (Jamrisko, 2019). Do đó, người viết nhận thấy có một sự tương thích về nhu cầu của TQ và các nước ĐNA. Nếu TQ với nguồn vốn dồi dào mong muốn đầu tư vào khu vực thông 3 qua BRI thì đối tác của họ – các nước ĐNA – đang “khát” vốn cho các dự án CSHT đầy tham vọng.
Vì vậy, các nước này có thể được đáp ứng một phần nhu cầu vốn thông qua các thể chế tài chính được tạo ra để phục vụ cho BRI như Ngân hàng cơ sở hạ tầng châu Á (AIIB), Quỹ Con đường tơ lụa (SRF). Trước đó, ông Tập đã tuyên bố rằng các khoản đầu tư từ những thể chế tài chính mới này sẽ được sử dụng để “phá vỡ nút thắt về kết nối” (break the connectivity bottleneck) ở châu Á (Carsten & Blanchard, 2014). Bên cạnh đó, một số quốc gia ĐNA gặp phải các trở ngại mang tính cơ cấu ngăn cản phát triển kinh tế như Malaysia và Thái Lan bị mắc vào “bẫy thu nhập trung bình”, khiến họ chưa thể đạt được trình độ phát triển cao hơn. Từ các lý do nêu trên, người viết cho rằng các quốc gia ĐNA sẽ hoan nghênh BRI vì các dự án đầu tư với quy mô lớn trên nhiều lĩnh vực sẽ tạo nên xung lực mới thúc đẩy nền kinh tế khu vực phát triển ở cấp độ cao hơn.
Bên cạnh đó, về mặt ngoại giao, các quốc gia ĐNA đều tuyên bố tham gia vào BRI và cử nguyên thủ quốc gia hoặc đoàn đại biểu cấp cao dự các Diễn đàn Vành đai và Con đường về hợp tác quốc tế (Diễn đàn BRI) tổ chức tại Bắc Kinh vào tháng 5/2017 và tháng 4/2019. Trên thực tế, TQ đã ký các biên bản ghi nhớ (MoU) về thúc đẩy chính sách hợp tác và triển khai các dự án của BRI với tất cả các nước trong khu vực (xem Bản đồ 1. Thực tế trên đã đặt ra yêu cầu nghiên cứu sâu về quá trình hợp tác chính sách và triển khai các nội dung của BRI tại ĐNA. Bên cạnh việc tìm hiểu về BRI nói chung, thực trạng hợp tác trong khuôn khổ BRI tại khu vực nói riêng, việc phân tích phản ứng của các nước ĐNA đối với BRI sẽ giúp chúng ta đánh giá BRI tại khu vực một cách toàn diện, có ý nghĩa về mặt khoa học và thực tiễn.
Vì các lý do trên, người viết lựa chọn đề tài “Sáng kiến Vành đai và Con đường: phản ứng của các quốc gia Đông Nam Á” làm đề tài nghiên cứu Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Quan hệ quốc tế. Lịch sử nghiên cứu vấn đề Nhóm các bài viết về động cơ, mục đích của BRI: Một số tác giả nhận định BRI chính là công cụ chiến lược giúp TQ gia tăng ảnh toàn cầu, tìm kiếm sự ảnh hưởng của các nước khác và đối trọng lại với Mỹ. 242) đã so sánh BRI với Đại chiến lược (Grand strategy) của Mỹ sau Thế chiến thứ hai khi đưa ra so sánh về các cơ chế hợp tác mới do TQ đề xướng và các cơ chế do Mỹ thiết lập để định hình nên trật tự thế giới đương tại và chỉ ra rằng TQ đang dùng BRI để xây dựng Trật tự kiểu Trung Quốc (Pax-sinica), tái cấu trúc thế giới theo quan điểm của Khổng Tử về trật tự thứ bậc “Thiên tử - Chư hầu” (all under heaven). Trong khi đó, Lê Vĩnh Trương (2017, tr.
11) nhấn mạnh tính liên hoàn trong chính sách đối nội và đối ngoại của ông Tập, và cho rằng BRI là một phần quan trọng nhằm thực hiện “Trung Hoa mộng” tại hai cột mốc “kỷ niệm trăm năm” (thành lập ĐCSTQ (1921 – 2021) và thành lập nước CHND Trung Hoa (1949 – 2049)). 455 – 463) thì cho rằng BRI là một biểu hiện của những nỗ lực không ngừng nghỉ nhằm thúc đẩy toàn cầu hoá theo chuẩn TQ (Chinese form of globalization). Các học giả như Fallon (2015, tr. 39 – 105), Maçes (2018), Sági & Engelberth (2018, tr.
9), Flint & Zhu (2019, tr. 95 – 101) thì cho rằng TQ củng cố bá quyền khu vực, gạt Mỹ ra rìa châu Á, và làm giảm vị thế toàn cầu của Mỹ thông qua BRI. Trái lại, Ma (2017, tr. 149 – 168), Wang (2016b), và Leverett và Wu (2017, tr.
110) khẳng định rằng TQ đang hướng tới một trật tự đa cực hơn bằng cách làm sâu sắc hơn sự hội nhập kinh tế EU – TQ và nâng cao tính chính danh để gia tăng ảnh hưởng trong kinh tế quốc tế và trật tự tài chính thay vì thay thế sự thống trị của Mỹ ở châu Á và thế giới.