ĐẶT VẤN ĐỀ Tăng trưởng và phát triển kinh tế là mục tiêu hàng đầu của mỗi quốc gia. Tuy nhiên tăng trưởng dựa trên những nguồn lực nào? Đặc biệt là tăng trưởng phải gắn với phát triển bền vững luôn là một câu hỏi lớn cần trả lời. Khi nói về tăng trưởng kinh tế, Nafziger (2005) cho rằng tăng trưởng kinh tế là việc tạo ra nhiều của cải hơn đáp ứng nhu cầu xã hội. Tăng trưởng kinh tế thường được đo lường dựa trên tỷ số tổng sản phẩm trong nước (GDP) hoặc tổng sản phẩm quốc gia (GNP) (Nafziger, 2005; Perkins và ctg.
Nói đến tăng trưởng kinh tế không chỉ đơn thuần là việc tạo ra nhiều của cải hơn, mà là quá trình dịch chuyển cơ cấu kinh tế theo hướng ngành tăng đóng góp của ngành công nghiệp, dịch vụ trong GDP, đặc biệt là sự chuyển dịch theo hướng mở rộng các ngành dịch vụ (Ruttan, 2002). Chính vì vậy, việc xác định các yếu tác động đến tăng trưởng kinh tế luôn là mối quan tâm hàng đầu của nhiều nhà kinh tế. Đã có nhiều nghiên cứu lý thuyết cũng như nghiên cứu thực nghiệm nhằm trả lời câu hỏi mối quan hệ nhân quả giữa tăng trưởng kinh tế và các yếu tố tác động đến tăng trưởng. Các nhà kinh tế học cổ điển (Adam Smith, 1776; David Ricardo, 1987) đặt nền móng lý thuyết tăng trưởng kinh tế, cho rằng yếu tố cơ bản của tăng trưởng là đất đai, lao động và vốn.
Cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ, Charles Cobb và Paul Douglas thiết lập hàm Cobb – Douglas, xác định các yếu tố tác động đến tăng trưởng gồm lao động, vốn và công nghệ. Harrod (1939) và Domar (1946) đã kết hợp với phân tích của Keynes vào phân tích các nhân tố của phát triển kinh tế, với giả định sự kết hợp cố định giữa vốn và lao động. Đóng góp tiếp theo và quan trọng vào sự phát triển của học thuyết về tăng trưởng là mô hình tăng trưởng Solow (1956, 1957). Những năm gần đây, một loạt các nghiên cứu đã tìm hiểu vai trò của tích lũy tư nhân, vai trò của “tri thức mới” đối với sự phát triển trong dài hạn của các quốc gia (Barro và ctg., 2003; Mankiw, 2015; Romer, 1989; Nafzifer, 2005).Theo nghiên cứu thực nghiệm của Prettner (2012), tỷ lệ tăng trưởng không chỉ phụ thuộc vào tiến bộ công nghệ mà còn bởi sự gia tăng bền vững trong kỹ năng của người lao động và chính sách giáo dục tốt.
Bên cạnh đó, chất lượng nguồn nhân lực mà thông qua chất 2 lượng của hệ thống giáo dục – đào tạo tốt, giúp cho các nước đang phát triển rút ngắn khoảng cách với các nước phát triển (Hanushek, 2013). Ngoài ra, một số nghiên cứu mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với các yếu tố vĩ mô như tỷ lệ tiết kiệm, tăng trưởng dân số và tăng trưởng các nguồn lực đối với tăng trưởng (Canlas, 2003) hay nghiên cứu của Martínzez và ctg., (2009), kết luận rằng đầu tư trong nước và sự ổn định của chính sách vĩ mô đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế. Đối với Việt Nam, thành tựu kinh tế đạt được trong những năm qua đã tạo nên nhiều thay đổi sâu sắc, đời sống được nâng cao, cơ cấu kinh tế dịch chuyển theo hướng tích cực. Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 1990-1999 là 7,4%, giai đoạn 2000-2010 là 7,3%, trong những năm gần đây do tác động của cuộc khủng khoảng kinh tế thế giới kinh tế Việt Nam tăng trưởng chậm lại giai đoạn 2011-2014 đạt 5,6% (Tổng hợp từ Niên giám thống kê, 1990-2014).
Tuy nhiên, kinh tế Việt Nam vẫn đang phát triển theo chiều rộng, thiếu bền vững trong bối cảnh ngày càng hội nhập sâu rộng vào kinh tế thế giới. Nhằm tránh bẫy thu nhập trung bình cũng như đuổi kịp các nước phát triển yêu cầu Việt Nam đổi mới mô hình tăng trưởng theo hướng bền vững. Do đó, cần có những nghiên cứu, phân tích để thấy được vai trò của các yếu tố tác động đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam hiện nay, từ đó đưa các chính sách, giải pháp tác động phù hợp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Chính vì vậy, việc lựa chọn nghiên cứu đề tài “Phân tích các yếu tố đóng góp vào tăng trưởng kinh tế Việt Nam - Ứng dụng bảng cân đối liên ngành” là yêu cầu cần thiết.
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU VÀ CÂU HỎI NGHIÊN CỨU 1. Mục tiêu nghiên cứu Nghiên cứu có 3 mục tiêu sau: - Vận dụng bảng cân đôi liên ngành (I/O) để phân tích định lượng các yếu tố vốn, lao động và năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) đóng góp vào tăng trưởng kinh tế Việt Nam. 3 - Vận dụng bảng cân đối liên ngành (I/O) để xác định những ngành kinh tế chủ lực (Những ngành có hệ số liên kết ngược và liên kết xuôi lớn hơn 1) và phân tích định lượng các yếu tố đóng góp vào tăng trưởng của ngành kinh tế chủ lực. - Đưa ra những kết luận và khuyến nghị nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Việt Nam theo chiều sâu.
Câu hỏi nghiên cứu Luận văn nhằm tìm câu trả lời cho ba câu hỏi sau: - Các yếu tố vốn, lao động, năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) đóng góp như thế nào đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam? - Các yếu tố vốn, lao động, năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) đóng góp như thế nào đến tăng trưởng ngành kinh tế chủ lực trong kinh tế Việt Nam? - Những kết luận và khuyến nghị nhằm nâng cao đóng góp của các nhân tố đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam? 1. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu: tốc độ tăng trưởng kinh tế, phân tích đóng góp của các yếu tố vốn, lao động và năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng kinh tế chung của Việt Nam và tăng trưởng của một số ngành kinh tế chủ lực của Việt Nam. Phạm vi nghiên cứu: mô tả thực trạng tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 2005 – 2014. Phân tích định lượng các yếu tố đóng góp và tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 2007-2012.
Ước tính đóng của các yếu tố vốn, lao động và TFP trong tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 2016-2020. Phƣơng pháp nghiên cứu Đề tài nghiên cứu dưới góc độ vĩ mô, kết hợp nghiên cứu lý thuyết với phân tích định lượng đánh giá thực tế. Đo đó, ngoài những phương pháp chung, luận văn sử dụng các phương pháp sau: - Phương pháp mô tả - Phương pháp phân tích định lượng Các phương pháp nghiên cứu này sẽ được trình bày cụ thể ở Chương 3 của luận văn 4 1. Ý nghĩa của đề tài - Ý nghĩa khoa học: Hệ thống hóa cơ sở lý luận về mô hình tăng trưởng, các nhân tố tác động đến tăng trưởng kinh tế.
- Ý nghĩa thực tiễn: đề tài đã áp dụng mô hình lý thuyết vào thực tiễn Việt Nam để xem xét, nhận định được thực trạng và các yếu tố tác động đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam. Đề tài nghiên cứu sẽ giúp cho những nhà hoạch định chính sách có căn cứ để điều chỉnh, quy hoạch và có chính sách, định hướng phát triển kinh tế phù hợp với đặc điểm và tiềm năng kinh tế Việt Nam 1. Kết cấu của đề tài Cấu trúc của luận văn gồm những phần chính sau đây: Chƣơng 1: Giới thiệu – Nội dung của chương này trình bày về lý do lựa chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và ý nghĩa của đề tài. Chƣơng 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trƣớc – Các lý thuyết tổng quát về tăng trưởng và phát triển kinh tế, các mô hình phân tích các yếu tố tác động đến tăng trưởng kinh tế; các nghiên cứu trước có liên quan; lựa chọn các chỉ tiêu nghiên cứu.
Chƣơng 3: Phƣơng pháp và mô hình nghiên cứu – Những nội dung liên quan đến mô hình nghiên cứu đề nghị, dữ liệu nghiên cứu; phương pháp tính các chỉ tiêu từ số liệu nghiên cứu thứ cấp. Chƣơng 4: Phân tích thực trạng tăng trƣởng và các yếu tố tác động đến tăng trƣởng kinh tế Việt Nam- Mô tả tổng quan về tình hình kinh tế Việt Nam, nhận định những ưu điểm, hạn chế còn tồn tại; áp dụng mô hình nghiên cứu đề nghị phân tích tác động của các yếu tố vốn, lao động, TFP đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam. Chƣơng 5: Kết luận và kiến nghị - Dựa trên thực trạng và kết quả nghiên cứu, luận văn sẽ đề xuất các gợi ý chính sách; đưa ra khuyến nghị cũng như nêu ra các hạn chế của đề tài để các nghiên cứu tiếp theo được hoàn chỉnh. 5 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƢỚC Các khái niệm liên quan đến tăng trưởng và phát triển kinh tế; các mô hình nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm; các nghiên cứu trước về các yếu tố đóng góp vào tăng trưởng kinh tế sẽ được trình bày chi tiết trong chương này.
Đồng thời, thông qua các nghiên cứu trước, chương 2 sẽ lựa chọn các yếu tố chỉ tiêu mô tả tăng trưởng và các yếu tố tác động đến tăng trưởng kinh tế, tăng trưởng ngành kinh tế, phục vụ cho việc phân tích tác động của các yếu tố này tác động đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam ở các chương tiếp theo. Các khái niệm liên quan 2. Khái niệm về tăng trưởng và phát triển kinh tế Tăng trưởng kinh tế (economic growth) là sự gia tăng trong sản lượng sản xuất hay thu nhập bình quân của một quốc gia (Nafziger, 2005). Để đánh giá sự tăng trưởng kinh tế của một quốc gia người ta thường sử dụng chỉ tiêu tổng sản lượng quốc gia (GDP) hoặc tổng thu nhập quốc gia (GNP) thường được dùng để đo sản lượng hay thu nhập được tạo ra trong nền kinh tế.
Trong lý thuyết kinh tế, tăng trưởng được chia thành tăng trưởng dài hạn và tăng trưởng ngắn hạn, tăng trưởng dài hạn là tăng trưởng được đo lường trong khoảng thời gian dài từ 30 đến 50 năm. Tăng trưởng trong dài hạn dẫn đến sự thay đổi cơ cấu ngành kinh tế, cơ cấu lao động và cơ cấu tiêu dùng. Cùng với sự tăng trưởng kinh tế là tăng lên trong sản lượng và lao động trong ngành công nghiệp và dịch vụ, trong ngành nông nghiệp giảm dần. Đặc biệt ở các nước có thu nhập cao thì tỷ trọng của sản lượng và lao động tăng ở ngành dịch vụ, thậm chí có sự suy giảm trong ngành công nghiệp (Nafziger, 2005).
Theo nghiên cứu của Maddison (1989 và 1991, trích bởi Barro và ctg., 2003) chỉ ra rằng, một quốc gia có tốc độ tăng trưởng ổn định lâu dài quyết định đến sự thịnh vượng.