mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục các tài liệu tham khảo, khóa luận nghiên cứu đƣợc chia thành 5 chƣơng sau: - Chƣơng 1: Giới thiệu đề tài nghiên cứu Chƣơng này nhằm mục đích trình bày tổng quát về đề tài nghiên cứu, bao gồm lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu, phƣơng pháp nghiên cứ và phƣơng pháp thu thập dữ liệu, đóng góp mà đề tài mang lại cũng nhƣ bố cục của khóa luận. - Chƣơng 2: Cơ sở lý thuyết và lƣợc khảo các công trình nghiên cứu có liên quan Mục đích của chƣơng hai là nêu ra các cơ sở lý thuyết có liên quan sử dụng trong bài nghiên cứu và kết quả của các nghiên cứu trƣớc đây về các yếu tố ảnh hƣởng đến giá cổ phiếu trong bối cảnh thị trƣờng kinh tế thế giới và Việt Nam, là cơ sở để xây dựng mô hình nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu. - Chƣơng 3: Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng ba tác giả tiến hành trình bày về phƣơng pháp nghiên cứu, quá trình thu thập dữ liệu tổng thể, giải thích về các biến đƣợc sử dụng trong mô hình, quy trình nghiên cứu và cách thức kiểm định giả thuyết nghiên cứu. - Chƣơng 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Chƣơng này tác giả sẽ tiến hành thống kê mô tả, phân tích mối quan hệ giữa các biến và phân tích kết quả của mô hình hồi quy tuyến tính trả lời cho câu hỏi nghiên cứu, xem xét tác động của biến độc lập lên biến phụ thuộc.
Đồng thời nhận xét về mức độ ý nghĩa của các nhân tố. - Chƣơng 5: Kết luận và hàm ý chính sách Từ kết quả nghiên cứu của chƣơng bốn, tác ra đƣa kết luận về các yếu tố tác động đến giá cổ phiếu của các doanh nghiệp BĐS trên sàn HOSE và mức độ tác 7 động của từng yếu tố.Từ đó các hạn chế của nghiên cứu và đề xuất giải pháp và hƣớng nghiên cứu tiếp theo. CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ LƢỢC KHẢO CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN 2. CÁC KHÁI NIỆM VÀ LÝ THUYẾT CÓ LIÊN QUAN 2.
Thị trường chứng khoán: Theo Bùi Kim Yến (2016) phát biểu nhƣ sau: “Thị trƣờng chứng khoán là một bộ phận của thị trƣờng vốn dài hạn, thực hiện cơ chế chuyển vốn trực tiếp từ nhà đầu tƣ sang nhà phát hành qua đó thực hiện chức năng của thị trƣờng tài chính là cung ứng nguồn vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế”. Căn cứ vào quá trình luân chuyển nguồn vốn tiền tệ trong nền kinh tế, TTCK đƣợc cấu thành từ thị trƣờng sơ cấp và thị trƣờng thứ cấp. Thị trường sơ cấp (thị trƣờng cấp một) là thị trƣờng mua bán, trao đổi chứng khoán mới phát hành lần đầu của các công ty cổ phần. Giá chứng khoán trên thị trƣờng sơ cấp do các công ty cổ phần phát hành quyết định.
Do vậy, trong thực tế thị trƣờng sơ cấp còn đƣợc gọi là thị trƣờng phát hành chứng khoán. Vai trò cốt lõi của thị trƣờng sơ cấp luân chuyển nguồn vốn đầu tƣ cho nền kinh tế, trong đó các tổ chức phát hành đóng vai trò là ngƣời đi huy động nguồn vốn, ngƣợc lại ngƣời mua chứng khoán đóng vai trò là các nhà đầu tƣ. Thị trường thứ cấp (thị trƣờng cấp hai) là thị trƣờng mua bán, trao đổi chứng khoán đã đƣợc phát hành trên thị trƣờng sơ cấp và phần lớn giao dịch thông qua các 8 công ty môi giới chứng khoán. Tất cả các loại chứng khoán giao dịch trên thị trƣờng thứ cấp có thể đƣợc mua đi bán lại nhiều lần với giá cả cao thấp khác nhau do cung cầu trên thị trƣờng quyết định.
Thị trƣờng thứ cấp đƣợc tổ chức thƣờng xuyên và liên tục, nhờ vậy nó đảm bảo đƣợc tính thanh khoản của các loại chứng khoán đã đƣợc phát hành trên thị trƣờng sơ cấp. Các hoạt động trên thị trƣờng thứ cấp chỉ làm thay đổi quyền sở hữu các chứng khoán đã phát hành của các nhà đầu tƣ trên thị trƣờng chứ không làm gia tăng thêm nguồn vốn đầu tƣ cho nền kinh tế. Căn cứ vào phƣơng thức hoạt động trên thị trƣờng, TTCK đƣợc tạo thành từ Thị trường giao dịch tập trung và Thị trường giao dịch phi tập trung (OTC). Sự khác biệt lớn nhất của hai thị trƣờng này là sự khác nhau về địa điểm giao dịch trên thị trƣờng.
Việc mua, bán và giao dịch trên thị trƣờng giao dịch tập trung đƣợc tổ chức ở một địa điểm nhất định, cụ thể là Sở Giao dịch Chứng khoán, nhà đầu tƣ khi tham gia trên thị trƣờng giao dịch tập trung phải tuân theo các quy định về Luật Chứng khoán. Các mã cổ phiếu giao dịch trên thị trƣờng này đều đã đƣợc niêm yết trên sàn chứng khoán và giá cổ phiếu thay đổi theo quy luật cung cầu của thị trƣờng. Ngƣợc lại, thị trƣờng OTC không có địa điểm cụ thể giao dịch giữa những ngƣời tham gia. Việc mua, bán và giao dịch trên thị trƣờng OTC đƣợc thực hiện chủ yếu do thỏa thuận của các bên khi tham gia.
Ngoài ra, các mã cổ phiếu giao dịch trên thị trƣờng OTC chủ yếu là của các công ty cổ phần chƣa niêm yết trên TTCK. Căn cứu vào phƣơng thức giao dịch, TTCK Việt Nam đƣợc chia làm hai dạng khác nhau sau đây: Thị trường chứng khoán cơ sở và thị trường chứng khoán phái sinh. Đặc điểm khác biệt quan trọng giữa hai thị trƣờng này là sự khác nhau về phƣơng thức giao dịch. Thời điểm thanh toán của chứng khoán cơ sở là ngay sau khi giao dịch trên thị trƣờng còn về thời điểm giao dịch chứng khoán phái sinh là trong tƣơng lai.
Trong khóa luận này tác giả xin trình bày về các loại chứng khoán cơ sở mà cụ thể hơn là cổ phiếu của các doanh nghiệp bất động sản niêm yết trên sàn HOSE. 9 Từ những thông tin khái quát nhƣ trên, có thể thấy rằng TTCK ngày càng khẳng định vai trò quan trọng trong quá trình phát triển nền kinh tế Việt Nam cũng nhƣ trên toàn thế giới. Thứ nhất, có thể nói rằng TTCK là kênh tiếp cận vốn hiệu quả cho các doanh nghiệp trên thị trƣờng và Chính phủ. Thứ hai, TTCK cũng là kênh đầu tƣ sinh lời hiệu quả và tiềm năng bên cạnh các hình thức đầu tƣ khác nhƣ vàng, gửi ngân hàng, bất động sản…Thứ ba, giá chứng khoán cũng phản ánh đƣợc tình hình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp một cách minh bạch và chính xác, từ đó tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các nhà đầu tƣ trong việc đánh giá hoạt động của các doanh nghiệp và lựa chọn danh mục đầu tƣ hiệu quả.
Thứ tư, các chỉ báo trên TTCK cũng phản ánh đƣợc tình hình phát triển của nền kinh tế một cách chính xác và nhanh chóng, từ đó Chính phủ có thể đƣa ra các chính sách điều tiết tình hình kinh tế vĩ mô hiệu quả và kịp thời. Vì vậy, TTCK đƣợc định nghĩa nhƣ là “phong vũ biểu” của nền kinh tế. Cổ phiếu “Cổ phiếu là chứng chỉ do công ty cổ phần phát hành, bút toán ghi sổ hoặc dữ liệu điện tử xác nhận quyền sở hữu một hoặc một số cổ phần của công ty đó.” Theo khoản 1 Điều 121 Luật Doanh nghiệp 2020 do Quốc hội ban hành. Khi một công ty phát hành cổ phiếu ra thị trƣờng, ngƣời mua cổ phiếu đƣợc gọi là cổ đông.
Cổ đông đƣợc tổ chức phát hành cấp một giấy chứng nhận sở hữu cổ phần đƣợc gọi là cổ phiếu và chỉ có công ty cổ phần mới phát hành cổ phiếu. Cổ phiếu là chứng nhận góp vốn của cổ đông, do vậy nó không có kỳ hạn và không đƣợc hoàn vốn. Các cổ đông có thể giao dịch mua, bán cổ phiếu trên thị trƣờng thứ cấp. Khi doanh nghiệp kinh doanh hiệu quả, cổ đông đƣợc hƣởng lợi nhuận từ công ty gọi là “cổ tức” nhƣng ngƣợc lại nếu công ty thua lỗ thì nhà đầu tƣ sẽ sẽ nhận cổ tức rất thấp hoặc không có.
Khi công phá sản hoặc giải thể, cổ đông thƣờng là ngƣời cuối cùng đƣợc hƣởng giá trị còn lại của công ty từ tài sản thanh lý. Cổ phiếu đƣợc chia thành hai loại nhƣ sau: 10 Cổ phiếu thường (cổ phiếu phổ thông): Là giấy chứng nhận quyền sở hữu cổ đông với công ty cổ phần. Cổ đông nắm giữ cổ phiếu này thƣờng là những ngƣời chủ của doanh nghiệp và có quyền kiểm toán hay tham gia vào các cuộc họp của Hội đồng Quản trị, cũng nhƣ có quyền bỏ phiếu biểu quyết vào các vấn đề lớn của doanh nghiệp. Cổ phiếu ưu đãi là một loại chứng khoán giao thoa giữa cổ phiếu và trái phiếu.
Ngƣời nắm giữ cổ phiếu này có thể đƣợc ƣu tiên chi trả cổ tức trƣớc cổ phiếu thƣờng và đƣợc hoàn lại phần vốn góp. Giá cổ phiếu Một cổ phiếu thƣờng mang trong mình rất nhiều giá trị, bao gồm: mệnh giá, thƣ giá, giá trị nội tại và thị giá. Mệnh giá (Par value): Là giá trị đƣợc công ty cổ phần ấn định và đƣợc ghi trên cổ phiếu, còn đƣợc gọi là giá trị danh nghĩa của cổ phiếu. Tại Việt Nam mệnh giá của một cổ phiếu đƣợc quy định thống nhất cho tất cả các công ty cổ phần trên cả nƣớc là 10.
Thư giá (Book value): Là giá trị của một cổ phiếu đƣợc xác định dựa trên số liệu sổ sách kế toán nhằm phản ánh tình trạng nguồn vốn của công ty tại một thời điểm nhất định, còn đƣợc gọi là giá trị sổ sách của cổ phiếu. Thƣ giá của cổ phiếu đƣợc xác định bằng cách lấy tổng số vốn cổ phần theo sổ sách kế toán chia cho số cổ phiếu đang lƣu hành của công ty. Giá trị nội tại (Intrinsic value): Là giá trị bên trong của một cổ phiếu ở thời điểm hiện tại, nó phản ánh đƣợc sức hấp dẫn của cổ phiếu trên thị trƣờng. Giá trị nội tại thƣờng đƣợc sử dụng để ƣớc tính định giá của một doanh nghiệp trên thị trƣờng và triển vọng phát triển của doanh nghiệp đó trong tƣơng lai.
Thị giá (Market value): Là giá thị trƣờng của cổ phiếu giao dịch trên thị trƣờng thứ cấp tại thời điểm giao dịch. Giá thị trƣờng biến động và thay đổi tùy thuộc theo 11 quan hệ cung cầu của thị trƣờng. Thị giá có hai loại là giá mở cửa và giá đóng cửa: trong đó giá mở cửa chính là giá đóng cửa của phiên giao dịch ngày hôm trƣớc và giá đóng cửa chính là giá trị thực của cổ phiếu tại lần khớp lệnh cuối cùng trong ngày giao dịch.