CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Các nghiên cứu về LTCT 1. Góc nhìn dựa trên nguồn lực của DN Xu hướng nghiên cứu đầu tiên về LTCT được các nhà khoa học thừa nhận rộng rãi là “Góc nhìn dựa trên nguồn lực của DN - Resource-based View of the Firm” (RBV). Trong góc nhìn này, các DN về cơ bản có đặc trưng riêng và theo thời gian, việc tích lũy, kết hợp độc đáo của các nguồn lực cho phép DN thu được lợi nhuận vượt trội dựa trên việc sỡ hữu các nguồn lực đặc biệt (Barney, 1986; Barney, 1991).
Theo lý thuyết dựa trên nguồn lực, các nhóm nguồn lực thay vì các đặc điểm cấu trúc toàn ngành hoặc các tính chất liên quan đến sản phẩm hoặc thị trường, chính là yếu tố cốt lõi của LTCT (Peteraf, 1993). Nguyên tắc cơ bản của lý thuyết này là khi một tổ chức sở hữu nguồn lực độc nhất hoặc đặc biệt hơn so với đối thủ, tổ chức có LTCT. Điều đó đặc biệt đúng khi những nguồn lực mà DN sở hữu hỗ trợ DN hiện thực được các mục tiêu chiến lược (Nguyễn Hà Phương, 2013). Ví dụ về các nguồn lực này bao gồm, CSVC hiện đại, nhân sự tài năng, các dữ liệu quan trọng và TSVH như thương hiệu và bằng sáng chế.
Việc sở hữu những nguồn lực độc đáo và không thể dễ dàng sao chép sẽ tạo ra trở ngại lớn cho các đối thủ đang cố gắng sao chép hoặc thay thế các nguồn lực quan trọng của DN. Ngày nay, việc tận dụng dữ liệu và thông tin trở nên cực kỳ quan trọng, giúp các tổ chức phát triển và tạo ra LTCT. Nguyễn Hà Phương (2013) nhấn mạnh, sử dụng thông tin hiệu quả đang ngày càng có vai trò hữu ích trong việc tạo ra LTCT cho DN. DN cần thu thập các dữ liệu thị trường ví dụ như dữ liệu về nhu cầu của KH.
Phân tích dữ liệu giúp DN có cái nhìn tổng quan về hiệu quả và hiệu suất của các quy trình kinh doanh của mình. Tuy nhiên, điều kiện để thực hiện được khai thác dữ liệu hiệu quả đó là DN cần có các công cụ, năng lực cần thiết để xử lý và phân tích dữ liệu (Pellegrino Missaglia & cộng sự, 2020). Điều này có thể đòi hỏi DN phải đầu tư giải pháp phần mềm và đầu tư vào nhân lực có chuyên môn về khoa học dữ liệu. Rõ ràng, việc tập trung vào việc tối ưu hóa quy trình kinh doanh nhờ sử dụng công nghệ cũng góp phần tạo ra LTCT của DN.
10 Một trong những nghiên cứu tiên phong là của Barney (1986) “văn hóa tổ chức” nhằm trả lời cho câu hỏi: trong điều kiện nào văn hóa trở thành LTCT của DN. Khái quát hóa với tất cả các nguồn lực, không chỉ riêng văn hóa tổ chức, Barney (1986) cho rằng nguồn lực của DN là LTCT khi đáp ứng khung tiêu chí được gọi là “VRIN - Valuable, Rare, Inimitable and Non- Substituable - Có giá trị, quý hiếm, không thể bắt chước và không thể thay thế”. Cũng thuộc góc nhìn dựa trên nguồn lực DN (RBV), Barney (1991) đã nghiên cứu về nguồn lực của DN và LTCT bền vững (Firm resources and sustained competitive advantage). Nghiên cứu đưa ra 02 tính chất quan trọng của nguồn lực đó là: “Heterogeneity – Tính không đồng nhất và Immobility – Tính bất động” (Barney, 1991).
Barney (1991) đồng thời nhận định rằng các nguồn tài nguyên khan hiếm và có giá trị có thể tạo ra LTCT. Các nguồn lực này cũng khó nhân bản, thay thế, nhờ đó có thể giúp quốc gia/DN duy trì LTCT. Ví dụ, các DN có quyền sở hữu với các nguồn tài nguyên thiên nhiên, chẳng hạn như quặng cao cấp hoặc nguồn điện rẻ tiền, hoặc tiếp cận với NNL được đào tạo và có tay nghề cao. Lý thuyết LTCT dựa trên nguồn lực có nhiều điểm chung với lý thuyết về “lợi thế cụ thể của DN” (Firm-specific advantages).
Lợi thế cụ thể của DN được định nghĩa là những nguồn lực cụ thể đã được phát triển và tích lũy trong nội bộ DN. Các DN sở hữu các nguồn lực khan hiếm, vô hình và không thể thay thế sẽ có LTCT. Trong khi đó, Fahy (2002) đã khuyên rằng, để tăng cường LTCT, các DN cần phát triển cả nguồn lực hữu hình và các nguồn lực vô hình quan trọng với việc thực hiện mục tiêu KQKD của DN. Việc phát triển các nguồn lực hữu hình, chẳng hạn như tài sản vật chất, tài 11 sản nhà đất và thiết bị, góp phần đầu tư phát triển bền vững cho tương lai của DN.
Tuy nhiên, để đạt được LTCT, các DN cần đặc biệt chú trọng vào việc phát triển các nguồn lực vô hình, đặc biệt là danh tiếng, bằng sáng chế, tài sản trí tuệ và dữ liệu quan trọng. Một số nghiên cứu thuộc góc nhìn “lợi thế cạnh tranh dựa trên nguồn lực DN” quan tâm đến đội ngũ nhân viên có chất lượng cao. Harrigan và Dalmia (1991) đưa ra khái niệm “Nhân viên tri thức” là những người hiểu được làm thế nào để đi đến thành công trong một nhiệm vụ công việc cụ thể hơn những người quản lý của họ. Chính vì điều này, để quản lý “nhân viên tri thức” thì nhà quản lý phải sáng tạo trong cơ chế khuyến khích những tài năng này làm việc bao gồm: phần quyền ra quyết định, phong cách lãnh đạo, con đường thăng tiến, phần thưởng và vai trò nhân viên tri thức trong công việc.
Một số công trình khác tập trung vào việc thiết kế tổ chức để tận dụng lợi thế của nhân viên tri thức. Những nghiên cứu này có điểm chung đó là khuyến khích các DN thực hiện các kế hoạch để đầu tư nâng cao chất lượng của các tài nguyên vô hình, trong đó đặc biệt nhấn mạnh giá trị NNL (Barney, 1991). Trong khi đó, Broderick và Boudreau (1992) đưa ra lời khuyên các nhà quản lý nên sử dụng công nghệ để tạo LTCT. Các DN có thể sử dụng dữ liệu và thông tin để thực hiện điều tra thị trường hiệu quả hơn.
Thông tin KH, xu hướng thay đổi của nền kinh tế toàn cầu sẽ giúp các lãnh đạo DN ra quyết định và thực hiện kế hoạch mang tính khả thi cao hơn. Ngoài ra, Wright và cộng sự (1994) cho rằng, hệ thống thông tin ứng dụng trong quản trị sản xuất sản phẩm cũng giúp DN tối ưu được các quy trình và giảm thiểu chi phí, tạo ra LTCT trong kinh doanh. Các nghiên cứu sau này (Konecnik Ruzzier, 2002; Smithson & cộng sự, 2011; Reyes & cộng sự, 2018) đã khẳng định rằng, Trong thế giới kinh doanh đầy cạnh tranh hiện nay, việc phát triển và quản lý thương hiệu của DN có thể tạo ra LTCT cho DN (Hoang & Nguyen, 2021). Theo các nghiên cứu gần đây, xây dựng một thương hiệu vững mạnh giúp DN tạo ra sự nhận diện tốt hơn trên thị trường trong nước, từ đó nâng cao được thị phần.
Hiện nay, các DN rất chú trọng vào phát triển thương hiệu, và có xu hướng phát triển “hình ảnh thương hiệu xanh – green brand” để tạo ra ấn tượng tốt hơn với KH. Việc xây dựng thương hiệu xanh đòi hỏi DN phải có một kết hoạch bảo vệ môi trường, tăng cường trách nhiệm xã hội; từ đó, 12 sẽ giúp DN thu hút KH quan tâm, hoặc có ý thức bảo vệ môi trường. Trong nỗ lực xây dựng thương hiệu xanh, DN cần phải tập trung thực hiện marketing xanh, truyền tải đến KH thông điệp về trách nhiệm của DN với môi trường và xã hội. Việc xây dựng thương hiệu xanh không chỉ giúp DN tạo nên sự khác biệt trên thị trường mà còn đóng góp tích cực vào việc bảo vệ môi trường và xã hội, giúp DN đạt được LTCT bền vững trên thị trường (Rahmi & cộng sự, 2017; Singh & Sharma, 2022).
Trong khi đó, Baker và Ballington (2002) nghiên cứu về thương hiệu quốc gia và đánh giá các lợi ích mà DN có được nhờ thương hiệu nước xuất xứ (Country origin). “Góc nhìn dựa trên nguồn lực của DN” là xu hướng nghiên cứu đầu tiên về LTCT, đến thời điểm hiện tại xu hướng này vẫn còn nguyên giá trị và các nhà khoa học vẫn tiếp tục nghiên cứu về góc nhìn này. Đây cũng là một nghiên cứu với kết quả khá đa dạng, các kết quả nghiên cứu có nhiều ứng dụng thực tiễn. Nguồn lực mà các công trình nhắc đến gồm: Văn hóa tổ chức, mức độ hợp tác bên trong tổ chức (Barney, 1986; Della-Corte & Sciarelli, 2012); TSHH, TSVH (Fahy; 2002); công nghệ/thông tin và NNL (Lim & cộng sự, 2012); hiệu quả kinh tế theo quy mô và theo phạm vi (Christensen; 2001); hình ảnh thương hiệu, lịch sử phát triển (Suddaby & cộng sự, 2010; Ruzzier, 2002; Smithson & cộng sự, 2011, Cantele & Zardini, 2018); nguồn lực thông tin, hệ thống thông tin (Breznik, 2012; Pilinkiene & cộng sự, 2013); Văn hóa tổ chức (Wang & cộng sự; 2011) và rất nhiều các kết quả nghiên cứu khác.
Phụ lục 2 liệt kê một số yếu tố là LTCT theo lý thuyết góc nhìn dựa trên nguồn lực của DN. Tuy nhiên, một trong những hạn chế của góc nhìn này đã được Kraaijenbrink (2010) chỉ ra đó là làm thế nào để đánh giá được giá trị của nguồn lực và so sánh giá trị nguồn lực đó với đối thủ. Tương tự, Gerhart và Feng (2021) nhận định rằng, cần phải chỉ ra trong điều kiện nào nguồn lực đó sẽ trở thành LTCT của DN. Góc nhìn dựa trên năng lực của DN Để giải quyết hạn chế của “Góc nhìn dựa trên nguồn lực”, một góc nhìn mới đựa đưa ra đó là góc nhìn dựa trên năng lực của DN (Competence-based View).
Theo góc nhìn này, LTCT phụ thuộc vào khả năng tận dụng hiệu quả các nguồn lực 13 hoặc nguồn tài nguyên hạn chế của DN nhằm khai thác dduwoj các cơ hội từ thị trường. Nghiên cứu thuộc góc nhìn này tập trung vào năng lực của DN, đồng thời xác định các cơ hội cạnh tranh trong ngành và hỗ trợ DN sử dụng các nguồn lực nhằm đạt được LTCT. Trong khoa học quản trị chiến lược, có khá nhiều nghiên cứu thuộc“Góc nhìn dựa trên năng lực của DN - Competence-based View” (CBV). Prahalad và Hamel (1993) đã đề xuất thuật ngữ “năng lực cốt lõi” (Core competencies) của DN và ba cách để nhận biết được năng lực cốt lõi đó bao gồm: (1) Năng lực cốt lõi sẽ giúp DN tiếp cận với nhiều thị trường khác nhau; (2) Năng lực cốt lõi sẽ tăng cường sự nhận thức khách hàng về mô hình hoạt động của DN và (3) Năng lực cốt lõi là gần như không thể sao chép (Hamel & Prahalad, 1993).
Trong khi đó, Teece và cộng sự (1997) nghiên cứu năng lực của DN và đưa ra khái niệm năng lực năng động (Dynamic capabilities).