LỜI MỞ ĐẦU 1. Sự cần thiết của đề tài Trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, vấn đề lớn nhất được đặt lên hàng đầu là vấn đề vốn cho nền kinh tế. Thị trường chứng khoán là một kênh quan trọng thu hút vốn dài hạn cho các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp có tiềm năng phát triển ở các khu vực kinh tế quan trọng. Mục tiêu của thị trường chứng khoán là tạo ra một thị trường vốn phục vụ cho các doanh nghiệp đổi mới công nghệ, mở rộng sản xuất, nâng cao sức cạnh tranh trong một nền kinh tế hàng hóa đang phát triển nhanh như ở nước ta.
Khi thực hiện niêm yết trên thị trường chứng khoán, ngoài tình hình hoạt động của doanh nghiệp, tỷ lệ chi trả cổ tức, hình thức chi trả cổ tức luôn là vấn đề nhà đầu tư quan tâm đến để lựa chọn, đánh giá và quyết định đầu tư. Vì thế công ty niêm yết cần xây dựng chính sách chi trả cổ tức hợp lý, thu hút sự quan tâm chú ý của nhà đầu tư. Trong thời gian qua, thị trường chứng khoán Việt Nam chưa thật sự sôi động, thu hút quần chúng nhân dân tham gia. Cần huy độngmọi nỗ lực của các cơ quan quản lý, các công ty cổ phần để đạt được mục tiêu tổng giá trị vốn hóa của thị trường chứng khoán đạt 10%-15% GDP vào năm 2010.
Trong đó chính bản thân các công ty cổ phần đã niêm yết là những đơn vị chủ động tiên phong trong việc tạo ảnh hưởng đến các nhà đầu tư. Ngoài việc quan tâm đến hiệu quả hoạt động đầu tư, khả năng phát triển trong tương lai thì chính sách chi trả cổ tức mà trong đó chính tỷ lệ cổ tức là việc các nhà đầu tư chú ý đến trước khi quyết định có tham gia mua bán cổ phần hay không. Vì vậy xây dựng một chính sách chi trả cổ tức hợp lý là việc các công ty niêm yết không thể bỏ qua khi quyết định niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Mục tiêu của nghiên cứu Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là các lý thuyết về chính sách chi trả cổ tức, tình hình chi trả cổ tức của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong thời gian qua.
Từ đó đề xuất những việc cần thực hiện khi xây dựng -v- chính sách cổ tức phù hợp với tình hình doanh nghiệp đồng thời thu hút được vốn của nhà đầu tư. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam từ ngày thị trường mở cửa năm 2000 đến cuối năm 2005. Luận văn không nghiên cứu khoảng thời gian trước khi các công ty cổ phần này niêm yết. Phương pháp nghiên cứu Phương pháp nghiên cứu của luận văn đi từ cơ sở lý thuyết và thực tiễn tại Việt Nam trong năm năm qua và từ đó đưa ra những nhận xét và những giải pháp khả thi và phù hợp.
Các số liệu trong luận văn được tổng hợp từ các báo cáo tài chính của các công ty niêm yết. Những điểm mới của đề tài Điểm mới của đề tài là đã tổng kết lại tình hình thực hiện, cách thức chi trả cổ tức, mức độ chi trả cổ tức cho cổ đông của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn 2000-2005, nhấn mạnh tầm quan trọng trong việc xây dựng chính sách cổ tức của các công ty niêm yết và đưa ra những cơ sở cho việc lựa chọn chính sách cổ tức phù hợp. Kết cấu đề tài Luận văn được trình bày thành ba phần. Phần 1: Cơ sở lý luận Trong phần này nêu ra những chính sách cổ tức mà các nhà kinh tế học đã nghiên cứu cùng với những luận điểm đang được thảo luận về chính sách cổ tức hiện nay.
Phần 2: Thực tiễn việc chi trả cổ tức của các doanh nghiệp niêm yết ở Việt Nam trong thời gian qua- Các hình thức cổ tức hiện có của các doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam -vi- Phần này đánh giá mức chi trả cổ tức, hình thức chi trả cổ tức phổ biến của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong thời gian qua. Phần 3: Xây dựng chính sách cổ tức tối ưu cho các doanh nghiệp niêm yết ở Việt Nam Phần này đề xuất những việc các doanh nghiệp cần thực hiện khi xây dựng chính sách cổ tức và một số việc các nhà quản lý thị trường chứng khoán thực hiện để hỗ trợ doanh nghiệp và các nhà đầu tư nên quan tâm khi đầu tư vào doanh nghiệp niêm yết. -vii- PHẦN 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CỔ TỨC VÀ CHÍNH SÁCH CỔ TỨC 1. TỒNG QUAN VỀ CỔ TỨC 1.
Lợi nhuận và cổ tức của doanh nghiệp cổ phần Mục đích cơ bản của bất kỳ công việc kinh doanh nào là tạo ra lợi nhuận cho chủ sở hữu. Lợi nhuận là kết quả tài chính cuối cùng, là chỉ tiêu chất lượng đánh giá hiệu quả kinh tế. Lợi nhuận là phần chênh lệch giữa doanh thu và chi phí doanh nghiệp bỏ ra để sản xuất kinh doanh, tạo ra doanh thu đó. Khi công việc kinh doanh của công ty tạo ra lợi nhuận, lợi nhuận được phân phối như sau: - Nộp thuế thu nhập doanh nghiệp theo luật định - Chia lãi cho các đối tác góp vốn theo hợp đồng hợp tác kinh doanh - Trích lập các quỹ chuyên dùng cho doanh nghiệp như quỹ dự phòng tài chính, quỹ đầu tư phát triển, quỹ dự phòng trợ cấp mất việc làm, quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi.
- Giữ lại để tái đầu tư vào hoạt động sản xuất kinh doanh. - Chia cho các cổ đông. Cổ tức được tính chủ yếu trên cơ sở lợi nhuận chưa sử dụng đến của doanh nghiệp cũng như viễn cảnh kinh doanh của doanh nghiệp trong những năm tiếp theo. Sau khi đã được đề xuất bởi hội đồng quản trị và ban kiểm soát trước đại hội cổ đông hàng năm, cổ tức sẽ được thông báo cho các cổ đông, là lượng tiền mặt họ nhận được tính theo số cổ phiếu sỡ hữu hay phần trăm trong lợi nhuận của doanh nghiệp.
Mọi cổ phiếu của cùng một loại có cổ tức như nhau như cổ tức của cổ phiếu phổ thông hay cổ tức cổ phiếu ưu đãi. Sau khi được thông báo cổ tức trở thành khoản phải trả của doanh nghiệp. Các phương thức trả cổ tức Bất cứ sự thanh toán trực tiếp nào của doanh nghiệp cho các cổ đông đều được coi là chính sách cổ tức. -1- Thông thường trả cổ tức được hiểu là sự chi trả, phân phối từ phần vốn lợi nhuận của doanh nghiệp cổ phần cho các cổ đông của doanh nghiệp.
Cổ tức là phần lợi tức mà cổ đông nhận được từ phần lợi nhuận có được từ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp do cổ đông góp vốn. Những sự chi trả từ nguồn khác không phải từ vốn lợi nhuận thì không phải là trả cổ tức. Chỉ những sự chi trả từ vốn lợi nhuận làm thay đổi vốn lợi nhuận mà không làm thay đổi vốn góp cổ phần mới được gọi là trả cổ tức. Hình thức phổ biến nhất của trả cổ tức là bằng tiền mặt.
Ngoài ra doanh nghiệp còn có thể trả cổ tức thông qua trả bằng cổ phiếu hay tài sản. Cổ tức trả bằng tiền mặt Hầu hết cổ tức được trả dưới dạng tiền mặt. Cổ tức tiền mặt được trả tính trên cơ sở mỗi cổ phiếu, được tính bằng phần trăm mệnh giá. Mệnh giá là giá trị được ấn định trong giấy chứng nhận cổ phiếu theo điều lệ hoạt động của công ty.
Ví dụ mệnh giá của là 10. Tỷ lệ chi trả là 12%. Nghĩa là mỗi cổ phiếu nhận được cổ tức là 10. Cổ đông sở hữu 100 cổ phiếu sẽ nhận được tiền cổ tức là 100x1.
Trả cổ tức bằng tiền mặt làm giảm tiền mặt dẫn đến giảm tài sản và giảm vốn lợi nhuận, nghĩa là làm giảm vốn cổ phần cổ đông. Cổ tức trả bằng cổ phiếu Trả cổ tức bằng cổ phiếu là doanh nghiệp đưa ra thêm những cổ phiếu của doanh nghiệp theo tỷ lệ đã được Đại hội cổ đông thông qua. Doanh nghiệp không nhận được khoản tiền thanh toán nào từ phía cổ đông. Hình thức trả cổ tức bằng cổ phiếu được áp dụng khi doanh nghiệp dự định giữ lợi nhuận cho các mục đích đầu tư và muốn làm an lòng cổ đông.
Ví dụ doanh nghiệp tuyên bố trả cổ tức bằng cổ phiếu là 9% một năm. Nghĩa là cổ đông hiện hành sở hữu 100 cổ phiếu sẽ có thêm được 9 cổ phiếu nữa. Việc trả cổ tức bằng cổ phiếu cũng giống như việc tách cổ phiếu. Cả hai trường hợp đều làm số lượng cổ phần tăng lên và giá trị cổ phần giảm xuống.
Trả cổ tức bằng cổ phiếu làm tài khoản chủ sở hữu tăng lên và phần lợi nhuận giảm xuống. Trong khi đó tách cổ phiếu làm giảm mệnh giá mỗi cổ phần. Cổ tức và cổ phiếu quỹ: Cổ phiếu quỹ là cổ phiếu do chính doanh nghiệp phát hành ra thị trường và mua lại. Cổ phiếu quỹ không còn sở hữu các quyền của cổ phiếu lưu hành.
Khi doanh nghiệp dùng cổ phiếu quỹ để trả cổ tức thì thực chất không phải là phát hành thêm, không phải là chuyển từ vốn lợi nhuận thành vốn cổ phần mà chỉ là bán cổ phiếu quỹ cho cổ đông cũ thay cho trả cổ tức bằng tiền mặt. Cổ tức và cổ phiếu thưởng Cổ phiếu thưởng là hình thức doanh nghiệp phát hành thêm cổ phiếu cho người được hưởng tương tự như chia phần lợi nhuận. Cổ phiếu thưởng thường được trả cho người làm việc trong doanh nghiệp như là phần thưởng cho nhân viên khi đạt kết quả tốt. Thông thường doanh nghiệp trả cổ phiếu thưởng bằng cổ phiếu quỹ.
Khi doanh nghiệp thực hiện trả cổ phiếu thưởng sẽ làm thay đổi tỷ lệ nắm giữ cổ phiếu của cổ đông Nếu doanh nghiệp tăng trưởng cao mà doanh nghiệp không chi trả cổ tức bằng tiền mặt thì cổ đông cho rằng trong tương lai doanh nghiệp sẽ chi trả cổ tức cao hơn và doanh nghiệp tăng trưởng hơn nữa nên giá cổ phiếu sẽ không ngừng tăng lên. Giá cổ phiếu sẽ tăng đến một mức độ mà nhà đầu tư không còn muốn mua nữa. Vì vậy khi doanh nghiệp thông báo trả cổ tức bằng cổ phiếu nhằm tăng cổ phiếu lưu hành, giá thị trường của mỗi cổ phần giảm xuống. Trả cổ tức bằng cổ phiếu là chuyển từ phần vốn lợi nhuận sang vốn cổ phần nên không làm giảm tài sản và vốn sở hữu cổ phần cổ đông.