Tổng quan nghiên cứu

Trong giai đoạn 2016 – 2021, ngành xi măng Việt Nam ghi nhận sự phát triển vượt bậc về quy mô với tổng sản lượng xuất khẩu năm 2021 đạt 45,7 triệu tấn, mang lại giá trị kim ngạch 1,77 tỷ USD và đưa Việt Nam vào top 3 quốc gia sản xuất xi măng lớn nhất thế giới với công suất thiết kế đạt 107 triệu tấn/năm. Tuy nhiên, sự phát triển này đang đối mặt với bài toán mất cân đối cung cầu nghiêm trọng khi công suất sản xuất thực tế lên tới 120 – 130 triệu tấn, trong khi sức tiêu thụ nội địa chỉ duy trì ở mức xấp xỉ 60 triệu tấn/năm. Áp lực dư cung buộc các doanh nghiệp phải đẩy mạnh kênh xuất khẩu để giải phóng hàng tồn kho và duy trì dòng tiền.

Nghiên cứu tập trung giải quyết vấn đề cốt lõi: Đánh giá thực trạng xuất khẩu, phân tích năng lực cạnh tranh quốc tế và định hướng chuyển dịch thị trường của xi măng Việt Nam trong bối cảnh giá than đá chiếm khoảng 30% giá thành sản xuất liên tục tăng cao, cùng các cam kết phát thải ròng bằng không của thế giới. Mục tiêu cụ thể của đề tài là hệ thống hóa cơ sở lý luận thương mại quốc tế, đo lường lợi thế so sánh thông qua các chỉ số định lượng chuyên ngành, phân tích ma trận điểm mạnh - điểm yếu - cơ hội - thách thức, từ đó đề xuất các nhóm giải pháp đồng bộ.

Phạm vi nghiên cứu bao quát hoạt động sản xuất và xuất khẩu clinker, xi măng của toàn ngành tại Việt Nam trong khung thời gian 2016 – 2021, có đối chiếu với các thị trường tiêu thụ trọng điểm như Trung Quốc, Philippines và khối ASEAN. Ý nghĩa của nghiên cứu thể hiện qua việc cung cấp luận cứ khoa học giúp các nhà hoạch định chính sách và doanh nghiệp tái cơ cấu sản phẩm xuất khẩu, tối ưu hóa chi phí logistics và nâng cao tỷ suất sinh lời trên mỗi tấn sản phẩm.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết Lợi thế so sánh của David Ricardo và mô hình các yếu tố sản xuất của Heckscher - Ohlin để giải thích việc Việt Nam khai thác nguồn tài nguyên đá vôi dồi dào (chiếm khoảng 75% địa hình đồi núi) phục vụ phát triển công nghiệp nặng. Bên cạnh đó, luận văn áp dụng lý thuyết định hướng thương mại quốc tế với hai công cụ định lượng nòng cốt: Chỉ số lợi thế so sánh biểu hiện RCA (Revealed Comparative Advantage) của Bela Balassa (1965) và Chỉ số định hướng khu vực RO (Regional Orientation) của Yeats (1998) kết hợp Yamazawa (1970).

Các khái niệm cơ bản được chuẩn hóa xuyên suốt nghiên cứu gồm:

  • Hoạt động xuất khẩu hàng hóa: Việc đưa sản phẩm xi măng và clinker ra ngoài lãnh thổ hải quan quốc gia nhằm mục tiêu tối đa hóa doanh thu và mở rộng thị trường tiêu thụ.
  • Chỉ số RCA: Thước đo phản ánh năng lực cạnh tranh của một mặt hàng; giá trị RCA lớn hơn 1 chứng minh quốc gia có lợi thế so sánh, và RCA lớn hơn 2,5 thể hiện lợi thế so sánh vượt trội trên thị trường toàn cầu.
  • Chỉ số RO: Tỷ số đo lường mức độ tập trung xuất khẩu sang một khu vực địa lý cụ thể so với các thị trường còn lại trên thế giới; giá trị RO lớn hơn 1 phản ánh xu hướng hội tụ thương mại nội vùng.
  • Sản phẩm clinker và xi măng thành phẩm: Hai dạng thành phẩm xuất khẩu chính, trong đó clinker là sản phẩm bán thành phẩm trung gian có giá trị gia tăng thấp hơn xi măng đóng bao và xi măng rời chuyên dụng.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp chuẩn hóa từ Tổng cục Hải quan, Hiệp hội Xi măng Việt Nam (VNCA), Bộ Công Thương, Cục Khảo sát Địa chất Hoa Kỳ (USGS) và cơ sở dữ liệu thương mại quốc tế Trademap trong suốt giai đoạn 2016 – 2021.

Cỡ mẫu nghiên cứu bao phủ toàn bộ 87 dây chuyền sản xuất clinker lò quay công nghiệp đang hoạt động trên cả ba miền đất nước (58 dây chuyền tại miền Bắc, 24 dây chuyền tại miền Trung và 5 dây chuyền tại miền Nam), kết hợp chuỗi dữ liệu giao thương của 10 thị trường nhập khẩu lớn nhất. Nghiên cứu áp dụng phương pháp chọn mẫu toàn bộ (census sampling) đối với các cơ sở sản xuất công nghiệp được cấp phép nhằm phản ánh bức tranh toàn cảnh, loại bỏ hoàn toàn sai số chọn mẫu. Lý do lựa chọn kết hợp thống kê mô tả, tính toán chỉ số kinh tế lượng thương mại (RCA, RO) và phân tích SWOT là nhằm đảm bảo tính khách quan đa chiều, vừa lượng hóa được mức độ thâm nhập thị trường, vừa nhận diện chuẩn xác các rào cản nội tại và biến số vĩ mô của kinh tế quốc tế.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, sản lượng xuất khẩu xi măng và clinker của Việt Nam tăng trưởng vượt bậc, từ 15,48 triệu tấn năm 2016 lên mức kỷ lục 45,70 triệu tấn vào năm 2021, tương ứng mức tăng trưởng 195,2% sau 6 năm. Tỷ trọng sản lượng xuất khẩu trên tổng tiêu thụ toàn ngành tăng mạnh từ 20,69% năm 2016 lên 43,28% vào năm 2021.

Thứ hai, cơ cấu mặt hàng xuất khẩu tồn tại sự mất cân đối nghiêm trọng khi tỷ trọng clinker luôn áp đảo xi măng thành phẩm. Năm 2021, lượng clinker xuất khẩu đạt 28,54 triệu tấn (chiếm 62,45% tổng lượng xuất khẩu), trong khi xi măng thành phẩm chỉ đạt 16,54 triệu tấn (chiếm 37,55%). Điều này cho thấy Việt Nam chủ yếu xuất khẩu nguyên liệu thô với biên lợi nhuận thấp và chịu tổn hao tài nguyên lớn.

Thứ ba, thị trường xuất khẩu chịu sự phụ thuộc quá lớn vào một số đối tác cụ thể. Năm 2021, Trung Quốc là thị trường tiêu thụ lớn nhất khi chiếm 49,7% về sản lượng và 51,8% về tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam, tiếp theo sau là thị trường Philippines.

Thứ tư, chỉ số RCA của ngành xi măng Việt Nam luôn duy trì ở mức trên 2,5 trong suốt giai đoạn 2016 – 2021, khẳng định lợi thế so sánh rất cao so với các quốc gia trong khu vực như Trung Quốc và Ấn Độ.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân dẫn đến sự tăng trưởng xuất khẩu đột biến xuất phát từ áp lực dư thừa công suất nội địa khi các dự án quy mô lớn liên tục đi vào vận hành giai đoạn 2016 – 2020 (như Thành Thắng 3, Long Sơn 3, Tân Thắng), nâng công suất thiết kế lên 107 triệu tấn trong khi nhu cầu trong nước đi ngang quanh ngưỡng 60 – 64 triệu tấn.

Khi mô phỏng diễn biến dữ liệu qua biểu đồ cột chồng cơ cấu sản phẩm và đường xu hướng chỉ số RCA, bức tranh thương mại hiện lên rất rõ nét: đường biểu diễn RCA của Việt Nam duy trì đà dốc lên ổn định trên ngưỡng 2,5, phản ánh lợi thế chi phí sản xuất và vị trí địa lý thuận lợi cạnh tranh trực tiếp với Trung Quốc. Tuy nhiên, biểu đồ cơ cấu giá trị cho thấy mức độ tổn thương cao do clinker chiếm tới gần 63% sản lượng xuất khẩu. So với Trung Quốc – quốc gia đã chủ động cắt giảm 393 triệu tấn công suất lạc hậu theo chính sách Bầu trời xanh để ưu tiên bảo vệ môi trường – việc Việt Nam đẩy mạnh xuất khẩu clinker giá thấp đồng nghĩa với việc gián tiếp xuất khẩu năng lượng và tài nguyên khoáng sản, trong khi phải gánh chịu toàn bộ lượng phát thải khí nhà kính và chi phí than đốt chiếm 30% đến 35% giá thành.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, tái cơ cấu danh mục sản phẩm xuất khẩu theo hướng nâng cao giá trị gia tăng (Chủ thể thực hiện: Doanh nghiệp sản xuất xi măng và Hiệp hội Xi măng Việt Nam). Doanh nghiệp cần cắt giảm tỷ trọng xuất khẩu clinker thô xuống dưới 35% và nâng tỷ trọng xi măng bao, xi măng rời mác cao (như xi măng bền sunfat, xi măng chịu mặn) lên trên 65% tổng sản lượng xuất khẩu trong lộ trình 2023 – 2026, nhằm cải thiện biên lợi nhuận ròng thêm ít nhất 15%.

Thứ hai, đẩy mạnh đầu tư công nghệ xanh và tối ưu hóa chi phí năng lượng (Chủ thể thực hiện: Doanh nghiệp sản xuất phối hợp với Bộ Xây dựng). Bắt buộc 100% dây chuyền sản xuất có công suất từ 2.500 tấn clinker/ngày trở lên phải hoàn thành lắp đặt hệ thống tận dụng nhiệt khí thải phát điện (WHR) trước năm 2025, giúp tự chủ 20% đến 25% lượng điện tiêu thụ nội bộ, đồng thời triển khai công nghệ đồng xử lý rác thải và nâng tỷ lệ sử dụng tro xỉ nhiệt điện làm phụ gia lên 20% – 25% để giảm giá thành sản xuất.

Thứ ba, đa dạng hóa thị trường xuất khẩu và giảm thiểu rủi ro tập trung (Chủ thể thực hiện: Bộ Công Thương và các doanh nghiệp thương mại). Giảm dần tỷ trọng xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc từ mức xấp xỉ 50% xuống dưới 30% đến năm 2025, mở rộng thị phần sang các quốc gia Nam Á, Trung Đông, Châu Phi, Australia và châu Mỹ nhằm tận dụng các ưu đãi thuế quan từ các hiệp định CPTPP và EVFTA.

Thứ tư, hoàn thiện chính sách vĩ mô về thuế và quản lý tài nguyên (Chủ thể thực hiện: Chính phủ, Bộ Tài chính, Bộ Tài nguyên và Môi trường). Nghiên cứu điều chỉnh linh hoạt thuế xuất khẩu clinker gắn liền với lộ trình kiểm soát phát thải carbon, ban hành các quy chuẩn kỹ thuật nghiêm ngặt giai đoạn 2024 – 2030 để chuẩn bị thích ứng với cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) của thị trường quốc tế.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nghiên cứu mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho 4 nhóm đối tượng chính:

Thứ nhất, các nhà hoạch định chính sách tại Bộ Công Thương, Bộ Xây dựng và các cơ quan quản lý nhà nước. Dữ liệu thực chứng về 87 dây chuyền sản xuất và sự biến động cung cầu trong nước là căn cứ quan trọng để xây dựng quy hoạch phát triển công nghiệp xi măng giai đoạn 2025 – 2035, kiểm soát cấp phép đầu tư mới và điều tiết thuế xuất nhập khẩu phù hợp.

Thứ hai, ban điều hành và chuyên viên chiến lược tại các tập đoàn sản xuất, doanh nghiệp xuất khẩu xi măng (như VICEM, SCG, Insee, Fico). Luận văn cung cấp mô hình phân tích SWOT và dữ liệu chỉ số thị trường giúp doanh nghiệp nhận diện rủi ro phụ thuộc đối tác, từ đó xây dựng kế hoạch mở rộng thị trường ngách và tái cấu trúc danh mục sản phẩm từ clinker sang xi măng cao cấp.

Thứ ba, các tổ chức tài chính, quỹ đầu tư và chuyên viên phân tích chứng khoán ngành vật liệu xây dựng. Báo cáo phân tích chi tiết cơ cấu chi phí giá thành (30% chi phí than, chi phí điện năng) và xu hướng M&A giúp định giá chính xác tiềm năng tài chính và rủi ro hoạt động của các doanh nghiệp trong ngành.

Thứ tư, giảng viên, nghiên cứu sinh và sinh viên chuyên ngành Kinh tế quốc tế, Thương mại quốc tế và Quản trị kinh doanh. Công trình là tài liệu tham khảo mẫu mực về quy trình ứng dụng các chỉ số thương mại quốc tế (RCA, RO) vào phân tích một ngành công nghiệp cụ thể.

Câu hỏi thường gặp

Nguyên nhân cốt lõi nào khiến Việt Nam trở thành quốc gia xuất khẩu xi măng và clinker hàng đầu thế giới? Nguyên nhân chủ yếu do sự chênh lệch lớn giữa năng lực sản xuất và nhu cầu nội địa. Giai đoạn 2016 – 2021, công suất thiết kế toàn ngành đạt 107 triệu tấn và công suất thực tế lên tới 120 triệu tấn, trong khi tiêu thụ trong nước chỉ đạt khoảng 60 triệu tấn. Xuất khẩu 45,7 triệu tấn năm 2021 là kênh giải tỏa áp lực tồn kho cho 87 dây chuyền sản xuất trên cả nước.

Tại sao xuất khẩu nhiều clinker lại bị đánh giá là chưa tối ưu về mặt kinh tế? Clinker là bán thành phẩm trung gian, có giá trị gia tăng thấp nhưng chiếm tới 62,45% tổng lượng xuất khẩu của Việt Nam năm 2021 (28,54 triệu tấn). Việc sản xuất clinker tiêu tốn nguồn than đá chiếm khoảng 30% giá thành và phát thải lượng lớn khí CO2, khiến quốc gia phải chịu gánh nặng môi trường mà chỉ thu về kim ngạch hạn chế so với xi măng thành phẩm đóng bao.

Chỉ số RCA trên 2,5 phản ánh lợi thế cạnh tranh của xi măng Việt Nam như thế nào? Chỉ số RCA liên tục vượt ngưỡng 2,5 trong giai đoạn 2016 – 2021 chứng minh Việt Nam sở hữu lợi thế so sánh biểu hiện rất mạnh trên thị trường quốc tế. Lợi thế này được củng cố bởi nguồn tài nguyên núi đá vôi phong phú tại miền Bắc và miền Trung, cùng sự hiện diện của 41 dây chuyền lò quay công suất lớn từ 4.000 tấn clinker/ngày trở lên.

Nguy cơ lớn nhất đối với các doanh nghiệp xi măng khi thị trường Trung Quốc biến động là gì? Năm 2021, Trung Quốc chiếm 49,7% sản lượng và 51,8% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam. Khi thị trường bất động sản Trung Quốc suy giảm dưới tác động của chính sách ba lằn ranh đỏ, nhu cầu tiêu thụ giảm mạnh sẽ lập tức gây tắc nghẽn dòng lưu thông hàng hóa, đẩy lượng hàng tồn kho của các nhà máy Việt Nam lên mức báo động.

Hệ thống tận dụng nhiệt thừa phát điện WHR mang lại hiệu quả kinh tế ra sao cho nhà máy xi măng? Công nghệ WHR giúp thu hồi nhiệt thải từ lò nung để phát điện, giúp nhà máy tự cấp khoảng 20% đến 25% tổng nhu cầu điện năng sản xuất. Tính đến hết năm 2021, toàn ngành đã có 25 trên tổng số 59 dây chuyền đủ điều kiện hoàn thành lắp đặt hệ thống này, giúp tiết giảm đáng kể chi phí vận hành và giảm lượng phát thải bụi ra môi trường.

Kết luận

  • Luận văn đã phân tích toàn diện bức tranh xuất khẩu xi măng Việt Nam giai đoạn 2016 – 2021 với quy mô sản lượng đạt đỉnh 45,7 triệu tấn và kim ngạch 1,77 tỷ USD năm 2021.
  • Minh chứng khoa học về lợi thế so sánh biểu hiện vượt trội của ngành thông qua chỉ số RCA luôn duy trì trên 2,5, đồng thời chỉ ra mức độ định hướng thị trường cao qua chỉ số RO.
  • Nhận diện chính xác điểm nghẽn cơ cấu khi clinker thô chiếm tới 62,45% tổng lượng xuất khẩu và phụ thuộc gần 50% kim ngạch vào thị trường Trung Quốc.
  • Đánh giá tác động sâu sắc của biến động giá nguyên liệu than đá (chiếm 30% giá thành) cùng các thương vụ M&A làm thay đổi cục diện sở hữu của 87 dây chuyền sản xuất toàn quốc.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp mang tính chiến lược từ công nghệ xanh (WHR, đồng xử lý chất thải) đến chuyển dịch thị trường và hoàn thiện chính sách thuế.

Giai đoạn 2023 – 2025 là thời điểm mang tính bản lề để ngành xi măng Việt Nam chuyển dịch mạnh mẽ từ tăng trưởng nóng về sản lượng sang phát triển bền vững theo chiều sâu. Các cơ quan quản lý và cộng đồng doanh nghiệp cần nhanh chóng tham khảo các phát hiện thực chứng từ công trình nghiên cứu này để chủ động tái cấu trúc mô hình kinh doanh và hội nhập kinh tế quốc tế thành công.