CHƯƠNG 1. PHÊ BÌNH NỮ QUYỀN SINH THÁI VÀ SỰ NGHIỆP SÁNG TÁC CỦA NHÀ VĂN LÝ LAN 1. Giới thuyết về nữ quyền sinh thái 1. Cơ sở hình thành nữ quyền sinh thái 1.
Đôi nét về vấn đề nữ quyền Ở Phương Tây, vào những năm đầu thế kỷ XVIII, các phong trào nữ quyền đã manh nha xuất hiện và trở thành trào lưu với nhiều sức ảnh hưởng trên mọi lĩnh vực, đó là kết quả của các cuộc đối thoại quyết liệt giữa nữ giới và các nhà triết học nam quyền nhằm đấu tranh cho bình đẳng giới. Đến những năm 70 của thế kỷ XX, lý luận phê bình nữ quyền trở nên thịnh hành hơn và được xem là “sự hệ thống hoá lý thuyết dựa trên nền tảng là những tư tưởng nữ quyền và các cao trào đấu tranh chính trị xã hội nhằm thực hiện mục tiêu bình đẳng giới” (Vũ Thị Hạnh, 2018). Lý thuyết nữ quyền đã tác động mạnh mẽ đến đời sống văn hoá, chính trị của cả xã hội phương Tây. Có thể kể đến những nhà nữ quyền tiêu biểu như Simone de Beauvoir, Virginia Woolf, Antoinette Fourque, Luce Irigaray, Béatrice Didier.
Họ ủng hộ nữ quyền với quan điểm “Người ta sinh ra không phải là đàn bà, mà trở thành đàn bà” trích từ công trình Giới thứ hai của Simone de Beauvoir (Trần Huyền Sâm, 2016, tr. Luận điểm này đã vạch trần quan điểm cực đoan của chế độ nam quyền và có thể hiểu rằng: Những yếu kém của đàn bà không phải tự nhiên sinh ra đã có, mà do những định kiến, những áp đặt của người đàn ông tạo ra khiến họ trở thành như vậy. Vì thế, để thiết lập một xã hội bình đẳng, nữ giới phải ra sức đập tan các lý thuyết nam quyền cực đoan đã tồn tại từ nhiều thế kỷ qua. Với tư tưởng tiến bộ, quan điểm về nữ quyền ở các nước Phương Tây đã tác động mạnh mẽ đến các phong trào nữ quyền trên thế giới.
Đặc biệt là Phương Đông, rõ hơn cả là Á Đông, nơi nhiều nước mang tư tưởng Nho giáo “trọng nam khinh nữ” đã tồn tại hàng nghìn năm qua. Trong đó có Việt Nam, nhà xã hội học về giới Hoàng Bá Thịnh đã kế thừa và đưa ra nhận định: “Nữ quyền là quyền phụ nữ và hiểu đầy đủ thì đó là đấu tranh cho quyền bình đẳng của phụ nữ. Với niềm tin dựa trên nguyên tắc cho rằng phụ nữ phải có các quyền và cơ may trong cuộc sống như nam giới về chính trị, kinh tế, luật pháp,…” (Hoàng Bá Thịnh, 2008, tr. Nhận diện tinh thần nữ quyền trong văn học Việt Nam, trường hợp Đạm Phương nữ sử và nữ sĩ Manh Manh được xem là những người khởi xướng cho phong trào này, 9 tuy nhiên nó lại không trở thành một khuynh hướng mạnh mẽ, táo bạo như ở Phương Tây giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX.
Mãi đến sau thời kỳ Đổi mới 1986, nữ quyền mới trở thành tiếng nói phản kháng mạnh mẽ của các nhà văn nữ nhằm mưu cầu quyền sống, quyền được hạnh phúc cá nhân trong các sáng tác, đặc biệt ở thể loại văn xuôi như Gia đình bé mọn của Dạ Ngân, Vũ điệu địa ngục của Võ Thị Hảo, Người đàn bà đứng trước gương của Y Ban, Tiểu thuyết đàn bà của Lý Lan… Trong đó, Lý Lan - một nhà văn nữ quyền tiêu biểu, đã đưa ra ý kiến về việc nghiên cứu văn học ở Việt Nam trong bài Phê bình văn học nữ quyền đăng trên báo Tia Sáng ngày 5/3/2009: “Phê bình văn học nữ quyền không phải là phương pháp phê bình duy nhất hay tiến bộ nhất. Nhưng lý thuyết nữ quyền với tư cách là một bộ môn học thuật đang được nghiên cứu, dạy và học trong tất cả các trường đại học trên thế giới, chủ nghĩa nữ quyền về mặt triết học đã ảnh hưởng sâu sắc đến toàn bộ hệ thống tri thức và thiết chế văn hoá loài người, và phong trào phụ nữ vẫn đang là một động lực xã hội ở khắp hành tinh, thì một thái độ không biết đến nữ quyền, lịch sử và phương pháp của nó, là một thái độ quá cao ngạo” (Trần Huyền Sâm, 2016, tr. Đồng thời, khi hỏi trực tiếp nhà văn Lý Lan “nữ quyền là gì”, nhà văn chia sẻ: “Giống như câu hỏi Phật là gì hay Chúa là gì, chỉ vào một cái chùa/ nhà thờ hay tượng phật/ thánh giá mà nói thì không sai cũng không đúng. Nữ quyền không phải là một tôn giáo, nhưng là một hệ thống niềm tin, tư tưởng, quan điểm triết học, nghiên cứu khoa học về một lịch sử loài người phát triển không cân bằng do kỳ thị giới tính, tạo ra hiện trạng bất bình đẳng giữa hai nửa của nhân loại.
Nữ quyền cũng bao gồm hoạt động và những nỗ lực trong nhiều lĩnh vực khoa học, nghệ thuật, văn học, chính trị,. nhằm xóa bỏ kỳ thị và điều chỉnh bất bình đẳng ở những nơi điều này còn cản trở sự đóng góp của phụ nữ vào nền văn minh nhân loại” (phụ lục 1). Như vậy, có thể nói nữ quyền là sự đấu tranh đòi quyền lợi trên mọi lĩnh vực trong đời sống xã hội của nữ giới với nam giới. Và trong văn chương, bằng ngòi bút của mình, những nhà văn nữ đã cho thấy sự bình đẳng giới giữa nam và nữ, họ xem phụ nữ là một khách thể độc lập, một thế giới riêng đầy bí ẩn và hấp dẫn mang trong mình ba chữ ám gợi “kiếp đàn bà”.
Vì thế, văn học nữ quyền đã trở thành một trào lưu có sức ảnh hưởng mạnh mẽ về giới cũng như chỉ ra các vấn đề về nữ quyền. Đôi nét về vấn đề sinh thái Cùng với sự xuất hiện của lý thuyết nữ quyền ở Phương Tây đầu thập niên 70 của 10 thế kỷ XX, lý thuyết phê bình sinh thái ra đời là hệ quả của ý thức con người trước nguy cơ suy thoái của môi trường tự nhiên, do quá trình đô thị hoá và mất cân bằng sinh thái. Tất cả các ngành khoa học đều hướng trọng tâm chú ý của mình vào vấn đề sinh thái nhằm thức tỉnh nhân loại và kịp thời ngăn chặn những nguy cơ huỷ hoại môi trường sinh thái. Đến giữa những năm 90, lý thuyết sinh thái phát triển thành khuynh hướng nghiên cứu văn học mạnh mẽ ở Mỹ và lan rộng ra toàn thế giới.
Từ đó, xuất hiện nhiều nhà phê bình sinh thái nổi bật như Cheryll Glotfelty, John Ruskin, Karen Thornber, Lawrence Buell,… Trong công trình nghiên cứu Lý thuyết nhập môn: Giới thiệu lý thuyết văn học và văn hoá, Cheryll Glotfelty- nhà phê bình sinh thái đầu tiên của Mỹ, đã định nghĩa đơn giản về phê bình sinh thái: “Phê bình sinh thái là nghiên cứu văn học với chủ đề môi trường” (Hoàng Tố Mai, 2017, tr. Theo Glotfelty, có thể hiểu phê bình sinh thái là lấy mối quan hệ qua lại của tự nhiên và văn hoá làm trọng tâm nghiên cứu văn học, từ đó truy tìm nguồn góc tư tưởng văn hoá dẫn đến các nguy cơ huỷ hoại sinh thái. Trải qua nhiều cuộc đối thoại và xuất hiện hàng loạt các công trình nghiên cứu phê bình sinh thái trên thế giới, khi tới Việt Nam, nơi có nền lý luận phê bình sinh sau đẻ muộn nhưng cũng đã đóng góp những bài tham luận, bài nghiên cứu đáng chú ý cho giới học thuật sinh thái. Trong đó, gần đây nhất có thể kể đến công trình Phê bình sinh thái với văn xuôi Nam bộ của nhiều tác giả do Bùi Thanh Truyền (chủ biên) đã định nghĩa: “Phê bình sinh thái là phê bình văn học nghiên cứu mối quan hệ giữa văn học và tự nhên từ định hướng tư tưởng của chủ nghĩa sinh thái, đặc biệt là chủ nghĩa chỉnh thể sinh thái thông qua việc khám phá thẩm mỹ sinh thái và biểu hiện nghệ thuật của nó trong tác phẩm” (Bùi Thanh Truyền, 2019, tr.
Nhiều nhà văn đã đưa tinh thần sinh thái này vào các sáng tác của mình như Sống mãi với cây xanh của Nguyễn Minh Châu, Thập giá giữa rừng sâu của Nguyễn Khắc Phê, Trăm năm còn lại của Trần Duy Phiên,… Hay gần với chúng ta hơn có thể nhắc tới Khói trời lộng lẫy (2010) của Nguyễn Ngọc Tư khi đan xen thành công câu chuyện tình yêu và thù hận của con người lồng vào tư duy sinh thái để thể hiện nỗi ưu uất, day dứt vì cái đẹp đơn sơ, hoang dại của tự nhiên đột ngột biết mất. Ngoài ra, khi trao đổi với nhà văn Lý Lan, tuy nhà văn không trực tiếp nói về các sáng tác mang phong cách sinh thái nhưng trong tác phẩm của mình, tinh thần sinh thái luôn thường trực với các vấn đề khác, nhà văn cho biết: “Sinh thái là tất cả những gì liên quan đến sự sống, không chỉ của con người trên trái đất. Khi chúng ta ngắm trăng sao 11 hay hưởng thụ tia nắng sớm, chúng ta ý thức sự sống không thể tồn tại mà không có những yếu tố đó. Chúng ta cũng biết rất có khả năng có sự sống ở hình thức nào đó trong vô vàn tinh tú mà mắt ta nhìn được hoặc không thấy được.
Trên mặt đất, sự sống luân lưu không chỉ trong tất cả động vật, thực vật, vi sinh vật, vi rút, mà liên quan chặt chẽ đến tất cả những yếu tố tự nhiên (đất, nước, không khí.) và phi tự nhiên (đập thủy điện, nhựa tổng hợp.) Nên nói đến sinh thái là nói đến những thế giới không giới hạn liên quan nhau, những vũ trụ vô tận ở trong nhau, hay một tổng hợp, thống nhất của tất cả”. Lý Lan còn cụ thể hơn: “Một cách đơn giản, nếu coi “sinh thái tự nhiên” là những gì có sẵn trong trời đất, thì cái gì không “có sẵn” mà do con người tạo ra thì “không phải là một phần của sinh thái tự nhiên” (phụ lục 1). Như vậy, vấn đề sinh thái trong văn học đã trở thành chủ đề tập trung phản ánh mối quan hệ giữa con người với tự nhiên. Ở đó, nhiều nhà văn đã đưa vấn đề về môi trường và số phận, thân phận con người vào chỉnh thể sinh thái; đồng thời cảnh cáo mối lo về nguy cơ huỷ hoại sinh thái dẫn đến việc mất cân bằng tự nhiên, khiến con người càng rời xa tự nhiên, môi trường sinh thái và trở thành nạn nhân và công cụ của thương mại hoá.
Xu hướng lồng ghép vấn đề nữ quyền và sinh thái Vấn đề nữ quyền và vấn đề sinh thái luôn có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Các nhà nữ quyền cho rằng vấn đề về giới tính luôn có sự liên kết với các vấn đề về chủng tộc, giai cấp và môi trường.