Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VĂN HÓA CÔNG VỤ CỦA CÁN BỘ, CÔNG CHỨC ỦY BAN NHÂN DÂN PHƯỜNG 1. Khái quát về văn hóa công vụ của cán bộ, công chức Ủy ban nhân dân phường 1. Khái niệm văn hóa công vụ 1. Các quan niệm về văn hóa “Văn hóa” là thuật ngữ xuất hiện rất sớm trên thế giới với những quan niệm khác nhau từ nghĩa đơn giản, sau đó được bổ sung, hoàn thiện.
Ở phương Đông văn hóa có nghĩa là làm cho đẹp hơn, ở phương Tây nghĩa gốc là “khai khẩn đất hoang”, sau đó chuyển nghĩa thành “vun trồng cây cối” và bổ sung dần thành “vun trồng trí tuệ”. Năm 1871, một định nghĩa khoa học đầu tiên về văn hóa được hình thành bởi nhà nhân học Anh Edward B.Taylor, ông cho rằng: “Văn hóa hay văn minh, hiểu theo nghĩa rộng nhất về dân tộc học của nó, là toàn bộ phức thể bao gồm tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục và những khả năng, những tập quán mà con người có được với tư cách là thành viên xã hội”[20; tr. Từ đó, nhiều định nghĩa khác về văn hóa xuất hiện như: Năm 1982, Hội nghị thế giới về chính sách văn hóa UNESCO đã thông qua tuyên bố chung, trong đó khẳng định về văn hóa: “Theo nghĩa rộng nhất của nó, ngày nay văn hóa có thể được xem là toàn bộ phức thể những nét nổi bật về tinh thần, vật chất, tri thức và tình cảm đặc trưng cho một xã hội hay một nhóm xã hội. Nó không chỉ gồm nghệ thuật, văn học mà còn cả lối sống, các quyền cơ bản của con người, các hệ thống giá trị, truyền thống và tín ngưỡng” [20; tr.
9 Một định nghĩa khác của Nguyên Tổng Giám đốc UNESCO Federico Mayor về văn hóa khi phát động Thập kỷ thế giới phát triển văn hóa (1988 – 1997): “Văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo trong quá khứ và hiện tại. Qua các thế kỷ hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên một hệ thống các giá trị, các truyền thống và các thị hiếu, những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc” [36; tr. Theo Từ điển Triết học, “Văn hóa là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình thực tiễn xã hội lịch sử và tiêu biểu cho trình độ đạt được trong lịch sử phát triển xã hội. Theo nghĩa hẹp hơn, người ta vẫn quen nói về văn hóa vật chất (kỹ thuật, kinh nghiệm, sản xuất, giá trị vật chất) và văn hóa tinh thần (khoa học, nghệ thuật và văn học, triết học, đao đức, giáo dục…).
Văn hóa là một hiện tượng lịch sử, phát triển phụ thuộc vào sự thay thế các hình thái kinh tế xã hội” [33; tr. Việt Nam là một quốc gia có nền văn hóa lâu đời, có nhiều quan niệm, định nghĩa về văn hóa, trong đó Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra định nghĩa một cách khái quát về văn hóa, Người viết: “Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” [19; tr. Xét từ các đặc trưng cơ bản của văn hóa, Giáo sư Trần Ngọc Thêm đưa ra định nghĩa “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội” [27; tr. Huỳnh Văn Thới khi nghiên cứu về Văn hóa công vụ đã đưa ra khái niệm “Văn hóa là toàn bộ các giá trị vật chất và tinh thần do loài người sáng tạo ra cùng phương thức sử dụng chúng vì mục tiêu thúc đẩy sự phát triển của 10 cộng đồng” [28; tr.
Ông cho rằng “Bản chất cốt lõi của văn hóa là sự sáng tạo vươn tới cái đúng, cái tốt và cái đẹp, phục vụ phát triển con người và tiến bộ xã hội. Văn hóa vừa là khái niệm chỉ thuộc tính đặc biệt của loài người, do con người sáng tạo ra để phục vụ con người, vừa là khái niệm chỉ trình độ và chất lượng sống của con người trong quá trình phát triển” [28; tr. Như vậy, văn hóa không chỉ là những giá trị về tinh thần mà bao gồm cả các giá trị vật chất, không phải là một hiện tương siêu nhiên mà là do con người sáng tạo ra nhằm đáp ứng các nhu cầu của con người trong đời sống xã hội. Văn hóa tồn tại cùng với sự phát triển của con người hướng đến sự hoàn thiện của cá nhân, tổ chức và toàn xã hội.
Các quan niệm về công vụ Công vụ là một khái niệm rộng, được xem xét từ nhiều khía cạnh khác nhau. Thuật ngữ “công vụ” được người Anh sử dụng chính thức để nói về quản lý thuộc địa ở Ấn Độ và sau đó xuất hiện ở Anh vào năm 1854, để phân biệt với những công việc mang tính chất quân sự [17; tr. Trong Từ điển Hành chính công của trường Đại học tổng hợp Stellenbosch Nam Phi đưa ra định nghĩa: “Công vụ bao gồm các cơ quan khác nhau của chính phủ, như các bộ, ngành của nhà nước, các tổ chức doanh nghiệp, các tập đoàn và doanh nghiệp của Chính Phủ là các cơ quan chịu trách nhiệm về việc tạo điều kiện và thực thi pháp luật, chính sách công và các quyết định của chính phủ. Đôi khi được dùng cụ thể đối với các viên chức dân sự của chính phủ là những người có được công ăn việc làm thông qua các tiêu chí phi chính trị và các kỳ sát hạch của hệ thống công tích” [28; tr.
Định nghĩa này nhấn mạnh công vụ từ phương diện các tổ chức nhà nước, đề cập tới cả các nhân viên dân sự, không trong khuôn khổ hoạt động chính trị. Ở Việt Nam, công vụ được xem là một loại lao động đặc biệt. Theo cách hiểu truyền thống, công vụ là “việc công” [26; tr.273], là những hoạt động 11 được thực hiện bởi những cá nhân, tổ chức đại diện cho nhà nước, thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước. Công vụ và hoạt động công vụ là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước do cán bộ, công chức tiến hành theo quy định của pháp luật nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước, phục vụ lợi ích nhà nước, nhân dân và xã hội.
Tuy nhiên trong điều kiện cụ thể ở Việt Nam, do đặc thù về thể chế chính trị nên công vụ còn bao gồm cả hoạt động thực hiện theo chức năng, nhiệm vụ của cán bộ, công chức làm việc trong các cơ quan của Đảng, tổ chức chính trị - xã hội. Về bản chất, “hoạt động công vụ mang tính công quyền – tính nhân danh quyền lực nhà nước, tức là nhân danh quyền lực của nhân dân, ủy thác cho bộ máy nhà nước thông qua Hiến Pháp và được cụ thể hóa trong hệ thống pháp luật”; về mục đích, “hoạt động công vụ là phụng sự nhân dân, vì phúc lợi của nhân dân”; về khía cạnh pháp lý “hoạt động công vụ mang tính dưới luật”; về phạm vi không gian chủ thể “ không gian thực thi công vụ là công sở, chủ thể thực thi công vụ là đội ngũ cán bộ, công chức” [28; tr. Huỳnh Văn Thới trên cơ sở nghiên cứu và phân tích các quan niệm, định nghĩa về công vụ đã khái quát “Công vụ có thể được xem là hoạt động mang tính quyền lực và pháp lý do đội ngũ cán bộ, công chức thực thi, sử dụng ngân sách nhà nước để tiến hành các chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước trong việc quản lý toàn diện các mặt của đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội của một quốc gia, vì mục đích phục vụ nhân dân” [28; tr. Như vậy, ở Việt Nam có thể xem công vụ là hoạt động của cán bộ, công chức để thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước trong phạm vi thẩm quyền được giao; được cấp kinh phí thực hiện từ ngân sách nhà nước; phục vụ nhiệm vụ chính trị do Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước giao phó; vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Quan niệm về văn hóa công vụ Văn hóa công vụ là tập hợp các giá trị của một nền công vụ, được xã hội thừa nhận và chia sẻ, dần dần những giá trị đó trở thành niềm tin, đạo đức, chuẩn mực của cán bộ, công chức khi thi hành công vụ. Văn hóa và công vụ không tách rời mà tác động qua lại lẫn nhau, TS. Huỳnh Văn Thới phân tích khái niệm văn hóa công vụ trong Sách Văn hóa công vụ ở Việt Nam – Lý luận và thực tiễn đó là “một loại hình của văn hóa”, nói về “sự thẩm thấu của văn hóa vào công vụ, là công vụ có tính văn hóa”, “là công vụ bao hàm tính văn hóa từ bản chất bên trong của nó”. Ngô Thành Can trong bài viết Những đặc điểm và giá trị cơ bản của Văn hóa công vụ đã đưa ra định nghĩa: “Văn hóa công vụ được xem là một hệ thống những giá trị, cách ứng xử, biểu tượng, chuẩn mực được hình thành trong quá trình xây dựng và phát triển công vụ, có khả năng lưu truyền và có tác động tới tâm lý, hành vi của người thực thi công vụ” [11].
Văn hóa công vụ cũng có thể được xem là các hoạt động hàng ngày, các cách làm, thói quen, nếp nghĩ được lặp đi lặp lại trong thực thi quyền lực công của các chủ thể nắm giữ gắn liền với chế độ công vụ, phản ánh tính hiện thực của đời sống công vụ thông qua hoạt động của các chủ thể có thẩm quyền trong thực thi quyền lực nhà nước. Là một bộ phận cấu thành của văn hóa dân tộc, đồng thời văn hóa công vụ cũng góp phần làm phong phú giá trị của văn hóa dân tộc, đặc biệt trong hoạt động hành chính nhà nước, thể hiện qua những việc làm cụ thể của đội ngũ cán bộ, công chức với tinh thần trách nhiệm và đạo đức nghề nghiệp. Từ những nghiên cứu, phân tích lý luận và thực tiễn, TS. Huỳnh Văn Thới định nghĩa: “Văn hóa công vụ là hệ thống biểu tượng, chuẩn mực, giá trị, niềm tin hình thành trong nhận thức, tạo nên tầm nhìn, tác động đến hành vi và lề lối làm việc, cách sống của người thực thi công vụ, của môi trường tổ 13 chức, có khả năng lưu truyền và ảnh hưởng tới chất lượng công vụ” [28; tr.