CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DOANH THU VÀ DỰ BÁO DOANH THU 1. LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ DOANH THU CỦA DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm và phân loại doanh thu Doanh thu của doanh nghiệp là toàn bộ số tiền sẽ thu được do tiêu thụ sản phẩm, cung cấp dịch vụ, hoạt động tài chính và các hoạt động khác của doanh nghiệp. Có ba loại doanh thu: Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ; ;doanh thu hoạt động tài chính (như lãi cho vay, lãi tiền gửi, lãi bán hàng trả chậm, lãi góp, chiết khấu thanh toán được hưởng do mua hàng hóa khác, lãi cho thuê tài chính; Thu nhập khác (doanh thu từ các hoạt động bất thường).
Đề tài này tác giả chỉ tập chung nghiên cứu về doanh thu hoạt động bán hàng và cung cấp dịch vụ cụ thể là doanh thu của mặt hàng xe máy. Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về doanh thu bán hàng: Theo chuẩn mực kế toán thì doanh thu bán hàng là lượng tiền mà doanh nghiệp thu được từ việc bán hàng hóa bao gồm toàn bộ số tiền đã thu được hoặc có quyền đòi về do việc bán hàng hóa trong một khoảng thời gian nhất định. Theo Ngô Đình Giao (2008, tr.86) thì “doanh thu bán hàng là phần tiền mà hãng thu được do bán hàng hóa, dịch vụ trong một giai đoạn nhất định”. Tóm lại doanh thu bán hàng là phần tiền mà hãng thu được từ việc bán hàng hóa hoặc cung cấp dịch vụ trên thị trường trong thời kỳ nhất định.
Khi nói đến doanh thu của một hàng hóa hay dịch vụ đều nhấn mạnh đến số tiền mà doanh nghiệp nhận được và thời gian kinh doanh cụ thể. Nguyên tắc và phương pháp xác định doanh thu Hai vấn đề kế toán cơ bản đối với DT là ghi nhận doanh thu trong kỳ kế toán nào và mức DT được ghi nhận bằng bao nhiêu. Có ba nguyên tắc cơ bản để ghi nhận DT, đó là: nguyên tắc tiền mặt (ghi nhận DT khi thu được tiền); nguyên tắc phát sinh (ghi nhận DT tương ứng với mức tăng giá trị của sản phẩm, dịch vụ); 13 Luan van nguyên tắc thực hiện (ghi nhận DT khi nó được thực hiện). Mỗi nguyên tắc nói trên đều có những ưu điểm và hạn chế nhất định.
Các nhân tố ảnh hưởng đến doanh thu Từ công thức: TR = P * Q Trong đó : TR là tổng doanh thu hàng hóa P là giá bán hàng hóa Q là sản lượng tiêu thụ Ta thấy, doanh thu phụ thuộc vào sản lượng tiêu thụ Q và giá bán P của bản thân hàng hóa đó. Khối lượng sản lượng tiêu thụ Q Khối lượng sản phẩm tiêu thụ hay chính là lượng cầu của hàng hóa. Như chúng ta đã biết, giá cả là nhân tố quyết định, ảnh hưởng nhất đến lượng cầu, những thay đổi cụ thể trong doanh thu khi giá thay đổi được thể hiện rõ nhất thông qua độ co giãn của cầu theo giá. Tuy nhiên giá cả không phải là yếu tố duy nhất quyết định lượng cầu hay sức mua của hàng hóa và dịch vụ, ngoài yếu tố giá cả của bản thân hàng hóa thì những yếu tố khác quyết định đến lượng cầu bao gồm: Thu nhập của người tiêu dùng (M) Thu nhập là một yếu tố quan trọng xác định cầu, nó ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng mua của người tiêu dùng.
Đối với hầu hết các sản phẩm, thu nhập tăng làm tăng nhu cầu. Người tiêu dùng thường mua nhiều thịt bò, đồ gỗ xe máy máy tính khi thu nhập của họ tăng lên. Ngược lại cầu về sản phẩm này giảm khi thu nhập giảm. Những sản phẩm mà nhu cầu thay đổi cùng chiều với thu nhập gọi là hàng hóa thông thường.
Hàng hóa thông thường lá hàng hóa hoặc dịch vụ được tiêu thụ nhiều hơn khi thu nhập tăng lên và ít hơn khi thu nhập giảm xuống trong điều kiện giá không thay đổi. Mặc dù hầu hết các sản phẩm là hàng hóa thông thường nhưng cũng có một số ngoại lệ. Thu nhập tăng cao làm cho cầu về xe đạp 14 Luan van điện bị từ chối số khách hàng có thể chuyển sang mua xe máy. Hàng hóa mà nhu cầu thay đổi nghịch với thu nhập là hàng hóa thứ cấp.
Hàng hóa thứ cấp là một hàng hóa và dịch vụ được tiêu dùng giảm xuống khi thu nhập tăng lên và ngược lại trong điều kiện giá không đổi. Như ta đã biết, mối quan hệ giữa cầu và thu nhập lần đầu tiên được nhà thống kê học người Đức Engel Ernst phát biểu thành quy luật, mối quan hệ đó được phản ánh trên đường Engel. Giá của hàng hóa có liên quan (Pc) Một sự thay đổi trong giá của hàng hóa liên quan có thể làm tăng hoặc giảm nhu cầu về một loại sản phẩm, điều đó phụ thuộc hàng hóa lên quan là hàng hóa thay thế hay bổ sung. Hàng hóa thay thế là hàng hóa được dùng để thay thế cho hàng hóa khác.Ví dụ thịt lợn và thịt gà là hai hàng hóa thay thế.
Khi giá thịt lợn tăng lên thì cầu về thịt gà giảm xuống và ngược lại. Hàng hóa bổ sung là hàng hóa được sủ dụng cùng nhau và thường xuyên có nhu cầu cùng nhau. Ví dụ: giầy và xi, kem đánh răng và bàn trải đánh răng… Như vậy cầu về hàng hóa tỷ lệ thuận với giá của hàng hóa thay thế và tỷ lệ nghịch với giá của hàng hóa bổ sung. Thị hiếu của người tiêu dùng (T) Một yếu tố khác tác động đến cầu thị trường chính là thị hiếu hay sở thích cá nhân của người tiêu dùng đối với một loại hàng hóa cụ thể.
Ví dụ, sau khi xem quảng cáo trên ti vi của McDonald’s một người có thể cảm thấy muốn mua nhiều bánh humbuger hơn mặc dù giá của nó không giảm hoặc là thu nhập thực tế của người đó vẫn giữ nguyên như trước… Kì vọng về giá của hàng hóa trong tương lai (Pe) Nếu khách hàng kì vọng rằng giá của hàng hóa và dịch vụ sẽ thấp hơn trong tương lai, như vậy hiện tại họ sẽ mua ít hàng hóa hơn, lượng cầu cho hàng hóa và dịch vụ đó hiện tại sẽ giảm. Ngược lại, nếu khách hàng cho rằng giá sẽ cao hơn trong tương lai, như vậy hiện tại họ sẽ mua nhiều hàng hóa hơn, làm cho lượng cầu đối với hàng hóa và dịch vụ đó hiện tại sẽ tăng. Số lượng người mua trên thị trường ( N) 15 Luan van Dân số hay số lượng người mua trên thị trường có quan hệ tỷ lệ thuận với cầu. Sự thay đổi số lượng người trên thị trường có thể bởi vì sự tăng lên của dân số, sẽ gây ra sự thay đổi trong lượng cầu.
Sự tăng lên của dân số có thể do sự nhập cư, tỉ lệ sinh tăng hay sự thay đổi trong nhân khẩu học có thể là nguyên nhân gây nên sự tăng của lượng cầu. Tương tự, một sự giảm trong dân số có thể cũng là lý do gây nên sự giảm lượng cầu. Ngoài ra, còn có các yếu tố khác cũng tác động đến cầu đối với hàng hóa và dịch vụ, như chính sách điều tiết vĩ mô của chính phủ, tình hình thị trường, uy tín thương hiệu của doanh nghiệp, điều kiện tự nhiên, khí hậu, thông tin, quảng cáo… 1. Giá cả của bản thân hàng hóa (P).
Giá cả là yếu tố ảnh hưởng rất lớn tới doanh thu thu được từ những sản phẩm bán ra. Điều gì sẽ xảy ra với tổng doanh thu khi giá cả sản phẩm thay đổi? Giá tăng có hai tác động ngược chiều đến tổng doanh thu. Tác động thứ nhất giá tăng sẽ làm tăng doanh thu trên mỗi đơn vị bán ra. Tuy nhiên tăng giá làm giảm sản lượng bán, do đó tác động thứ hai lại làm giảm doanh thu.
Nếu tác động của giá tăng mạnh hơn tác động của việc giảm sản lượng bán ra thì tổng doanh thu tăng và ngược lại. Hai khả năng tổng doanh thu thay đổi khác nhau là do phản ứng lượng cầu với sự thay đổi của giá cả hay độ co giãn của cầu theo giá là khác nhau. Tổng doanh thu và độ co giãn của cầu theo giá có mối quan hệ với nhau được tóm tắt trong bảng 2. TÓM TẮT ĐỘ CO GIÃN CỦA CẦU THEO GIÁ Giá tri tuyệt đối độ Cầu Đặc điểm Tác động đến tổng doanh thu co giãn của cầu Giá tăng giá giảm theo giá │ │>1 Co giãn hoặc Lượng cầu thay Tổng doanh thu Tổng doanh thu tương đối co giãn đổi theo một tỷ lệ giảm tăng lớn hơn giá bán │ │=1 Co giãn đơn vị Lượng cầu thay Tổng doanh thu Tổng doanh thu đổi theo một tỷ lệ không đổi không đổi 16 Luan van tương đương giá bán │ │<1 Không co giãn Lượng cầu thay Tổng doanh thu Tổng doanh thu hoặc kém co giãn đổi theo một tỷ lệ tăng giảm nhỏ hơn giá bán Với │ │ là độ co giãn của cầu theo giá và được tính theo công thức: │ │= = Q’(P) x Trong đó, : là sự thay đổi về lượng, : là sự thay đổi về giá.Ý nghĩa của │ │: độ co giãn của cầu theo giá cho biết khi giá bán sản phẩm tăng thêm một đơn vị thì lượng cầu về sản phẩm đó tăng thêm bao nhiêu đơn vị và ngược lại.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH VÀ DỰ BÁO DOANH THU 1.1 Phân tích - Khái niệm Phân tích kinh tế (vi mô) có phạm vi nghiên cứu là các hiện tượng và quá trình kinh tế phát sinh trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp hoặc một tổ chức kinh tế cụ thể. Mục đích của phân tích hoạt động kinh tế nhằm nhận thức, đánh giá một cách đúng đắn, toàn diện, khách quan tình hình và kết quả hoạt động kinh doanh; thấy được những thành tích kết quả đạt được; đồng thời qua phân tích cũng tìm thấy những mặt yếu kém, những mâu thuẫn tồn tại và những nguyên nhân ảnh hưởng khách quan cũng như chủ quan; từ đó đề ra những biện pháp, chính sách cải thiện, hoàn thiện quá trình hoạt động kinh doanh và quản lý, nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế. Phân tích thống kê là xác định các mức độ nêu lên sự biến động biểu hiện tính chất và trình độ chặt chẽ của mối liên hệ hiện tượng. Phân tích thống kê phải 17 Luan van lấy con số thống kê làm tư liệu, lấy các phương pháp thống kê làm phương pháp nghiên cứu.