Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ luật học với đề tài "Tội làm hàng giả, tội buôn bán hàng giả: Thực trạng và biện pháp phòng, chống" được nghiên cứu bởi nghiên cứu sinh Trần Ngọc Việt, dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TS Trịnh Hồng Dương và PGS.TS Nguyễn Xuân Yêm, bảo vệ tại Viện Nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật thuộc Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia (Hà Nội, năm 2001), chuyên ngành Luật hình sự và tố tụng hình sự (mã số: 5.14).
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Công cuộc đổi mới kinh tế do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng đã thúc đẩy nền kinh tế hàng hóa phát triển và mở rộng lưu thông thị trường. Tuy nhiên, cùng với mặt tích cực, cơ chế thị trường và áp lực cạnh tranh đã làm nảy sinh nhiều hiện tượng tiêu cực và tội phạm kinh tế, đặc biệt là hành vi sản xuất và buôn bán hàng giả. Tác giả dẫn chứng số liệu từ ngành Quản lý thị trường: trong năm 2000, lực lượng chức năng đã kiểm tra và xử lý 2.602 vụ vi phạm về sản xuất, buôn bán hàng giả; chỉ trong 7 tháng đầu năm 2001, số vụ vi phạm bị xử lý tiếp tục vượt mức 2.200 vụ, bao gồm nhiều vụ việc nghiêm trọng.
Mặc dù Nhà nước đã ban hành nguyên tắc hiến định tại Điều 28 Hiến pháp 1992 nhằm bảo hộ quyền lợi của người sản xuất và người tiêu dùng, đồng thời thiết lập các chế tài hình sự trong Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 1985 và BLHS năm 1999 (Chương XVI), thực tiễn đấu tranh vẫn gặp nhiều vướng mắc. Khoảng trống nghiên cứu được chỉ rõ: các công trình trước đây chủ yếu dừng lại ở việc tiếp cận tội phạm về hàng giả ghép chung với các tội phạm kinh tế khác (như đầu cơ, buôn lậu), hoặc chỉ dừng ở việc giải thích câu chữ của luật thực định mà chưa phân tích chuyên sâu cơ sở lý luận về hình sự hóa, chưa phân định rành mạch giữa hàng giả và hàng kém chất lượng, đồng thời thiếu sự đánh giá toàn diện về tội phạm học đối với nguyên nhân, điều kiện và hệ thống biện pháp phòng ngừa.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích bao trùm của luận án là làm sáng tỏ bản chất kinh tế - pháp lý của hành vi phạm tội làm hàng giả, buôn bán hàng giả; phân tích các căn cứ định tội danh và quy định của pháp luật hình sự áp dụng trong xét xử; đánh giá thực trạng quy định pháp luật cùng thực tiễn thi hành; từ đó xây dựng hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả phòng ngừa và đấu tranh chống loại tội phạm này.
Để hoàn thành mục đích trên, luận án xác định các nhiệm vụ cụ thể được giải quyết trên hai bình diện Tội phạm học và Pháp lý hình sự:
- Nghiên cứu thực trạng, cơ cấu, tính chất, nguyên nhân và điều kiện phát sinh tội phạm làm hàng giả, buôn bán hàng giả; đưa ra các dự báo khoa học và biện pháp khả thi nhằm đẩy lùi tệ nạn này.
- Nghiên cứu các quy định pháp luật hình sự Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử, làm rõ ưu điểm và khiếm khuyết trong BLHS và các văn bản liên quan, từ đó đề xuất định hướng sửa đổi, hoàn thiện pháp luật.
- Nghiên cứu các văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật hình sự cùng thực tiễn xét xử, đề xuất giải pháp ban hành và hoàn thiện văn bản hướng dẫn nhằm đảm bảo việc áp dụng thống nhất BLHS trên toàn quốc.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Tội làm hàng giả và tội buôn bán hàng giả theo quy định tại Điều 167 BLHS 1985, Điều 156 BLHS 1999, cùng các tội phạm có liên quan (Điều 157, 158, 159, 162, 164, 168, 180, 181 và Điều 17 BLHS 1999). Luận án tách bạch hai hành vi "làm hàng giả" và "buôn bán hàng giả" để đánh giá riêng rẽ dù chúng được quy định chung trong cùng một điều luật.
- Phạm vi nghiên cứu: Luận án tập trung vào không gian lãnh thổ Việt Nam; phạm vi thời gian khảo cứu trải dài từ lịch sử lập pháp phong kiến (thời Lê), giai đoạn sau Cách mạng tháng Tám, thời kỳ áp dụng BLHS 1985 đến thời điểm ban hành BLHS 1999 và các số liệu thực tiễn trong giai đoạn 1991 - 2001.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu trước đây được điểm lại
Trong phần tổng quan, luận án hệ thống hóa các ấn phẩm khoa học, bài viết chuyên khảo và đề tài nghiên cứu liên quan đến tội phạm kinh tế và hàng giả:
- Đề tài cấp Nhà nước: Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước mã số KX-04-14 (Giai đoạn 1991 - 1995) với chủ đề "Tội phạm kinh tế trong quá trình chuyển sang cơ chế thị trường" do Bộ Công an chủ trì.
- Nghiên cứu về luật thực định và tội phạm kinh tế thời kỳ trước BLHS 1985: Công trình nghiên cứu của tác giả Vũ Thiện Kim về "Tội đầu cơ, buôn lậu, làm hàng giả, kinh doanh trái phép" gắn với Pháp lệnh trừng trị các tội đầu cơ, buôn lậu, làm hàng giả, kinh doanh trái phép ngày 30/6/1982 của Hội đồng Nhà nước.
- Các nghiên cứu chuyên đề trên tạp chí pháp lý:
- Ngô Như Quỳnh (2001), "Một số vấn đề về nhãn hiệu hàng hoá nổi tiếng", Tạp chí Luật học, số 2/2001.
- Trần Văn Độ (1999), "Các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế trong Bộ luật Hình sự Việt Nam 1999", Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số 6/2000.
- Nguyễn Quốc Việt (1999), "Những điểm mới trong phần các tội phạm của Bộ luật Hình sự", Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số chuyên đề tháng 3/2000.
- Nguyễn Phan Khiêm (2000), "Hàng giả nỗi lo chưa giảm", Tạp chí Người bảo vệ công lý, số 23/2000.
- Lê Quang Bình (1999), "Nâng cao hiệu quả pháp luật trong đấu tranh chống hàng giả, buôn bán hàng giả ở Việt Nam", Tạp chí Toà án nhân dân, số 8/1999.
- Quan điểm lý luận của PGS.TS Nguyễn Ngọc Hoa về mặt khách quan và hành vi khách quan của tội phạm.
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Tác giả chỉ ra rằng các bài viết và công trình trước đó còn mang tính tản mạn, chủ yếu giải thích quy định cụ thể của từng điều luật mà chưa có công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống, toàn diện cả hai tội danh trên dưới góc độ kết hợp giữa luật hình sự và tội phạm học. Đặc biệt, các công trình trước chưa xây dựng được tiêu chí khoa học rành mạch để phân định giữa hàng giả và hàng kém chất lượng, chưa phân tích thấu đáo mặt chủ quan của hành vi buôn bán hàng giả (lỗi cố ý và lỗi vô ý trong thực tiễn xét xử), và chưa đưa ra được hệ thống giải pháp đồng bộ kết hợp phòng ngừa chung và phòng ngừa riêng.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
- Hệ tư tưởng và lý luận nền tảng: Chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nhà nước pháp quyền và trật tự pháp luật.
- Lý luận Luật hình sự: Khung phân tích cấu thành tội phạm bốn yếu tố (Khách thể, Mặt khách quan, Chủ thể, Mặt chủ quan); lý luận về giai đoạn thực hiện tội phạm (hành vi chuẩn bị phạm tội theo Điều 17 BLHS); lý luận về phân loại tội phạm và định lượng thiệt hại.
- Lý luận Tội phạm học: Khung lý thuyết về tình hình tội phạm (thực trạng, động thái, cơ cấu, tính chất), nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm trong nền kinh tế chuyển đổi, lý thuyết dự báo tội phạm và phòng ngừa tội phạm.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án kết hợp các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành luật học và khoa học xã hội:
- Phương pháp luật học so sánh: So sánh quy định giữa BLHS 1985 và BLHS 1999; đối chiếu pháp luật hình sự Việt Nam với quy định tại Chương III (Tiết 1) BLHS nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa về tội sản xuất, buôn bán hàng giả.
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Làm rõ các yếu tố cấu thành pháp lý, các tình tiết định khung tăng nặng, giảm nhẹ.
- Phương pháp thống kê: Phân tích số liệu xử lý vi phạm của ngành Quản lý thị trường và cơ quan tiến hành tố tụng.
- Phương pháp xã hội học và nghiên cứu thực tiễn án văn: Khảo cứu các vụ án hình sự có thật đã được xét xử tại các địa phương để minh họa cho tính chất nguy hiểm của tội phạm.
- Phương pháp dự báo: Phân tích các yếu tố tác động kinh tế - xã hội để đưa ra xu hướng biến động tội phạm.
Nguồn tư liệu và dữ liệu
- Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật:
- Hiến pháp năm 1992 (Điều 28).
- Văn bản lịch sử: Quốc triều hình luật (thời Lê Thánh Tông); Sắc luật số 01.SL ngày 19/4/1957; Sắc luật số 03-SL/76 ngày 15/3/1976 của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam; Bộ hình luật Sài Gòn 1972 (Điều 444 - 448); Pháp lệnh ngày 30/6/1982 của Hội đồng Nhà nước.
- Bộ luật Hình sự năm 1985 và Bộ luật Hình sự năm 1999.
- Các văn bản dưới luật: Nghị định số 140/HDBT ngày 25/4/1991 của Hội đồng Bộ trưởng; Nghị định số 327/HDBT ngày 19/10/1991; Nghị định 57/CP ngày 31/5/1997; Thông tư liên bộ số 1254-TT/LB ngày 8/11/1991 của Ủy ban Khoa học Nhà nước và Bộ Thương mại & Du lịch; Chỉ thị 31/1999/CT-TTg ngày 27/10/1999 của Thủ tướng Chính phủ; Thông tư liên tịch số 10/2000/TTLT-BTM-BTC-BCA-BKHCNMT ngày 27/4/2000.
- Dữ liệu thực tiễn và án văn xét xử:
- Bản án số 601/HSST ngày 27-29/4/1998 của TAND TP. Hà Nội xử phạt vụ án sản xuất dầu phanh ô tô giả mác VH 3.2 do Nguyễn Thị Anh cầm đầu (bị bắt quả tang ngày 6/7/1997 trên xe ô tô BKS 29H-02-98 thu giữ 80 thùng gồm 600 chai dầu phanh giả).
- Vụ án làm thuốc thú y Becomelet giả ngày 6/7/1993 do Đoàn Như Bính, Trần Việt Hà và Hà Thị Hoa thực hiện tại Đống Đa, Hà Nội.
- Vụ ngộ độc rượu "thập toàn đại bổ" giả pha hóa chất độc hại tại Đà Nẵng, Lâm Đồng đầu năm 1997 làm 10 người tử vong.
- Vụ bốc thuốc giả tại Quế Sơn, Hội An (Quảng Nam) tháng 4/1997 gây hại cho hơn 135 người.
- Vụ Trung tâm Khuyến nông Quảng Trị cung ứng lúa giống X21 giả trong vụ đông xuân 1997 - 1998 gây thiệt hại hơn 680 triệu đồng.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Những quy định pháp luật hình sự về tội làm hàng giả, tội buôn bán hàng giả, thực tiễn hướng dẫn áp dụng các quy định này
Chương 1 tập trung phân tích toàn diện cơ sở pháp lý, khái niệm khoa học, các yếu tố cấu thành tội phạm và lịch sử lập pháp về tội làm hàng giả, tội buôn bán hàng giả.
1. Khái niệm hàng giả và tác hại của hàng giả
Luận án phân tích khái niệm hàng giả qua các văn bản pháp luật thực định:
- Theo Nghị định 140/HDBT ngày 25/4/1991: quy định 6 dấu hiệu xác định hàng giả (giả nhãn hiệu, giả kiểu dáng công nghiệp, không đúng đăng ký tiêu chuẩn chất lượng, tự ý đóng dấu chất lượng khi chưa cấp phép, mức chất lượng thấp hơn mức tối thiểu cho phép, không có giá trị sử dụng đúng tên gọi/công dụng).
- Theo Thông tư liên tịch số 10/2000/TTLT-BTM-BTC-BCA-BKHCNMT ngày 27/4/2000: phân loại hàng giả thành 4 nhóm dấu hiệu: (a) Giả về chất lượng hoặc công dụng; (b) Giả về nhãn hiệu hàng hóa, kiểu dáng công nghiệp, nguồn gốc xuất xứ; (c) Giả về nhãn hàng hóa; (d) Các ấn phẩm đã in sử dụng vào việc sản xuất, tiêu thụ hàng giả (bao gồm đề can, tem, hóa đơn, chứng từ, chứng chỉ giả).
- Luận điểm mới của tác giả: Đề xuất bổ sung diện điều chỉnh đối với "thông tin giả" khi thông tin được lưu thông như một dạng hàng hóa đặc biệt trong nền kinh tế thị trường (thông tin thương mại, bí quyết công nghệ, giá cả thị trường).
- Phân loại hàng giả: Luận án phân thành 3 nhóm cơ bản: (1) Hàng giả về nội dung; (2) Hàng giả về hình thức; (3) Hàng giả cả về nội dung và hình thức.
- Phân định hàng giả và hàng kém chất lượng: Dẫn chiếu Thông tư liên bộ số 1254-TT/LB và Nghị định 327/HDBT, tác giả chỉ rõ hàng kém chất lượng là hàng có mức chất lượng thấp hơn mức đã đăng ký nhưng chưa vi phạm mức chất lượng tối thiểu. Ngược lại, hàng giả không đảm bảo được giá trị sử dụng hoặc giả mạo nguồn gốc, nhãn mác.
2. Định nghĩa và 4 yếu tố cấu thành tội phạm
Tác giả đề xuất định nghĩa: Tội làm hàng giả, tội buôn bán hàng giả là những hành vi nguy hiểm cho xã hội do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện nhằm tạo ra sản phẩm, hàng hoá giả hay vận chuyển, buôn bán các loại sản phẩm, hàng hoá này, xâm hại sản xuất hàng hoá, trật tự lưu thông, phân phối hàng hoá và quản lý thị trường, xâm hại đến quyền, lợi ích, sức khoẻ và tính mạng của người tiêu dùng, xâm phạm đến quyền lợi của đối thủ cạnh tranh hợp pháp trên thị trường.
Phân tích cấu thành pháp lý theo Điều 156 BLHS 1999:
- Khách thể: Trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước trong sản xuất, lưu thông, phân phối hàng hóa, quyền lợi người tiêu dùng và sự cạnh tranh lành mạnh của các nhà sản xuất hợp pháp.
- Mặt khách quan: Hành vi làm ra hàng giả hoặc dùng tiền/lợi ích vật chất mua đi bán lại hàng giả. Tác giả khẳng định tội danh này có cấu thành hình thức, tội phạm hoàn thành từ thời điểm sản phẩm giả được sản xuất ra hoặc hành vi mua đi/bán lại được thực hiện mà không bắt buộc phải có hậu quả vật chất xảy ra trên thực tế. Hành vi chuẩn bị sản xuất hàng giả luôn bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 17 BLHS 1999.
- Chủ thể: Người có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi luật định. Theo Điều 12 BLHS 1999, người từ đủ 16 tuổi trở lên chịu TNHS về mọi tội phạm; người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ chịu TNHS nếu phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý hoặc đặc biệt nghiêm trọng.
- Mặt chủ quan: Tội sản xuất hàng giả luôn thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Tội buôn bán hàng giả có thể xảy ra do lỗi cố ý (biết rõ là hàng giả vẫn buôn bán) hoặc lỗi vô ý (không biết là hàng giả). Về nguyên tắc, buôn bán hàng giả do vô ý không bị truy cứu TNHS trừ khi luật có quy định khác; tuy nhiên tác giả phê phán thực tiễn xét xử thường bỏ qua việc xác định yếu tố nhận thức chủ quan này dẫn đến nguy cơ làm oan hoặc bỏ sót tội phạm.
3. Phân biệt với các tội danh cùng nhóm
- Tội lừa dối khách hàng (Điều 162): Mặt khách quan là hành vi cân, đong, đo, đếm sai, tính gian, đánh tráo hàng trong khi bán hàng thật hoặc hàng kém chất lượng; đối tượng không nhất thiết là hàng giả.
- Tội buôn bán hàng cấm (Điều 155): Khách thể là sự độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các mặt hàng cấm kinh doanh (bao gồm cả hàng thật thuộc danh mục cấm).
- Tội kinh doanh trái phép (Điều 159): Hành vi kinh doanh không có giấy phép hoặc không đúng nội dung đăng ký, không có tính chất tạo ra sản phẩm giả dối như tội làm hàng giả.
4. Lịch sử pháp luật và so sánh BLHS 1985 với BLHS 1999
Luận án khái quát lịch sử lập pháp qua các thời kỳ: Quốc triều hình luật thời Hậu Lê (Điều 522, 523 trừng trị tội đúc trộm tiền đồng, làm vàng bạc giả, đồ khí dụng giả); Sắc luật 01.SL (1957); Sắc luật 03-SL/76; Bộ hình luật Sài Gòn 1972 (Điều 444 - 448 về biến đổi hàng hóa); Pháp lệnh 30/6/1982.
Bảng so sánh quy định về tội phạm hàng giả giữa BLHS 1985 và BLHS 1999 được tác giả phân tích chi tiết:
| Tiêu chí phân tích |
Điều 167 BLHS năm 1985 |
Điều 156, 157, 158 BLHS năm 1999 |
| Cấu trúc điều luật |
Quy định tập trung toàn bộ hành vi trong duy nhất 01 điều luật (Điều 167). |
Tách thành 03 điều luật chuyên biệt: Điều 156 (hàng giả chung), Điều 157 (lương thực, thực phẩm, thuốc), Điều 158 (thức ăn chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, BVTV, giống). |
| Tiêu chí định lượng |
Không quy định giá trị định lượng bằng tiền cụ thể; sử dụng khái niệm định tính ("số lượng lớn"). |
Quy định định lượng giá trị hàng thật tương đương: từ 30 triệu đồng trở lên (khoản 1 Điều 156); từ 150 đến dưới 500 triệu đồng (khoản 2); từ 500 triệu đồng trở lên (khoản 3). |
| Xử lý tiền sự / tiền án |
Không quy định cụ thể việc tái phạm hành chính là dấu hiệu cấu thành cơ bản. |
Quy định đã bị xử phạt hành chính hoặc bị kết án chưa xóa án tích về các tội danh kinh tế liên quan là dấu hiệu bắt buộc ở cấu thành cơ bản. |
| Phân loại đối tượng đặc biệt |
Hàng giả là lương thực, thực phẩm, thuốc phòng/chữa bệnh, VLXD, phân bón, thuốc trừ sâu là tình tiết tăng nặng trong cùng điều luật. |
Tách thành các tội danh riêng biệt với khung hình phạt độc lập (Điều 157, 158). Vật liệu xây dựng giả được chuyển về xử lý theo Điều 156 theo mức độ hậu quả. |
| Hệ thống khung hình phạt |
- Khoản 1: 1 - 7 năm tù. - Khoản 2: 5 - 15 năm tù. - Khoản 3: 12 - 20 năm, chung thân hoặc tử hình. |
- Điều 156: 6 tháng - 5 năm tù (khung 1); 5 - 10 năm tù (khung 2); 7 - 15 năm tù (khung 3). - Điều 157: quy định mức cao nhất là tử hình đối với hậu quả đặc biệt nghiêm trọng. - Bổ sung hình phạt tiền từ 5 - 50 triệu đồng, tịch thu tài sản, cấm hành nghề 1 - 5 năm. |
Chương 2: Thực trạng, nguyên nhân và điều kiện của tội phạm làm hàng giả, buôn bán hàng giả ở Việt Nam trong những năm gần đây
Chương 2 luận giải bức tranh thực trạng tội phạm dưới góc độ tội phạm học, phân tích các nguyên nhân kinh tế - xã hội và đưa ra dự báo:
- Cơ sở lý luận và đặc điểm tình hình tội phạm: Phân tích thực trạng, động thái phát triển và cơ cấu phân bố của tội phạm hàng giả. Tội phạm diễn biến ngày càng phức tạp, từ sản xuất nhỏ lẻ chuyển sang quy mô lớn, có tổ chức, chuyên nghiệp và có sự móc nối tinh vi.
- Nguyên nhân và điều kiện phát sinh tội phạm:
- Tác động kinh tế - xã hội: Mặt trái của nền kinh tế thị trường, sức ép cạnh tranh và siêu lợi nhuận thúc đẩy người phạm tội thực hiện hành vi gian lận.
- Sơ hở trong quản lý kinh tế: Công tác quản lý đăng ký kinh doanh, cấp phép chất lượng, kiểm soát hóa đơn chứng từ và quản lý thị trường còn nhiều kẽ hở.
- Sự thiếu đồng bộ của pháp luật: Thiếu các văn bản hướng dẫn chi tiết về tiêu chuẩn chất lượng tối thiểu, chế tài hành chính chưa đủ sức răn đe, ranh giới định tội danh chưa thống nhất.
- Ý thức chấp hành pháp luật kém: Nhiều cá nhân, doanh nghiệp bất chấp pháp luật; người tiêu dùng còn tâm lý chuộng hàng ngoại giá rẻ.
- Hạn chế của các cơ quan bảo vệ pháp luật: Năng lực cán bộ kiểm tra, giám định kỹ thuật còn thiếu trang thiết bị hiện đại; công tác phối hợp giữa Công an, Quản lý thị trường, Hải quan và Viện kiểm sát/Tòa án còn lỏng lẻo.
- Hạn chế trong công tác tuyên truyền: Phổ biến pháp luật chưa sâu rộng đến vùng sâu, vùng xa.
- Dự báo tình hình tội phạm:
- Đánh giá tác động của quá trình mở cửa hội nhập quốc tế (chuẩn bị gia nhập WTO, AFTA, APEC).
- Dự báo tình hình sản xuất và buôn bán hàng giả sẽ tiếp tục gia tăng về quy mô và mức độ tinh vi; sự xuất hiện của các phương thức giả mạo công nghệ cao, giả mạo xuất xứ hàng nhập khẩu và các loại hình vi phạm sở hữu trí tuệ phức tạp.
Chương 3: Một số biện pháp đấu tranh phòng chống tội làm hàng giả, tội buôn bán hàng giả
Chương 3 đề xuất hệ thống các biện pháp phòng ngừa đồng bộ dựa trên nguyên tắc kết hợp giữa hoàn thiện pháp lý và nâng cao năng lực tổ chức thực hiện:
- Cơ sở, quan điểm và nguyên tắc xây dựng biện pháp: Đảm bảo tính pháp chế xã hội chủ nghĩa, kết hợp chặt chẽ giữa phòng ngừa và trừng trị, lấy phòng ngừa làm trọng tâm; phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn dân.
- Các biện pháp phòng ngừa chung:
- Hoàn thiện hệ thống pháp luật kinh tế và hình sự: Ban hành kịp thời các thông tư liên tịch hướng dẫn thi hành BLHS 1999 (hướng dẫn cụ thể các tiêu chí định tính như "thu lợi bất chính lớn", "gây hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng").
- Nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về kinh tế: Thắt chặt quy trình kiểm tra chất lượng sản phẩm công nghiệp và vệ sinh an toàn thực phẩm; hoàn thiện quy chế ghi nhãn hàng hóa và bảo hộ sở hữu công nghiệp.
- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục ý thức pháp luật: Nâng cao nhận thức cho người tiêu dùng và trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp kinh doanh chân chính.
- Các biện pháp phòng ngừa riêng của các cơ quan bảo vệ pháp luật:
- Tăng cường các biện pháp nghiệp vụ trinh sát của lực lượng Công an và Quản lý thị trường nhằm phát hiện sớm các cơ sở sản xuất ngầm, các đường dây vận chuyển hàng giả liên tỉnh, xuyên biên giới.
- Đầu tư trang thiết bị kỹ thuật, công nghệ giám định hàng hóa nhanh chóng, chính xác.
- Nâng cao trình độ nghiệp vụ, phẩm chất đạo đức của đội ngũ cán bộ điều tra, kiểm sát viên và thẩm phán; kiên quyết xử lý nghiêm minh các hành vi bao che, tiếp tay cho tội phạm hàng giả.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về lý luận và thực tiễn
Theo công bố của tác giả trong phần mở đầu và kết luận, luận án có những điểm mới căn bản sau:
- Tính hệ thống và toàn diện: Đây là công trình đầu tiên tại thời điểm bảo vệ (2001) nghiên cứu chuyên sâu và có hệ thống về tội làm hàng giả và tội buôn bán hàng giả ở Việt Nam dưới góc độ tích hợp giữa Luật hình sự và Tội phạm học.
- Làm rõ cấu thành tội phạm: Luận án khẳng định bản chất cấu thành hình thức của tội sản xuất, buôn bán hàng giả; phân định cụ thể dấu hiệu lỗi chủ quan giữa hành vi sản xuất (luôn cố ý) và buôn bán (có thể vô ý hoặc cố ý).
- Mở rộng phạm vi đối tượng nghiên cứu: Đưa ra đề xuất mang tính lý luận mới về việc nhìn nhận "thông tin giả" như một dạng hàng hóa đặc biệt cần được pháp luật quản lý và điều chỉnh trước yêu cầu phát triển của kinh tế tri thức.
- Phân tích so sánh lập pháp sâu sắc: Đánh giá toàn diện sự chuyển biến giữa BLHS 1985 và BLHS 1999, làm rõ cơ sở lý luận của việc tách điều luật chuyên biệt cho các mặt hàng giả đặc thù (Điều 157, Điều 158).
Kiến nghị và giải pháp đề xuất
- Kiến nghị các cơ quan có thẩm quyền (TANDTC, VKSNDTC, Bộ Tư pháp, Bộ Công an) sớm ban hành văn bản hướng dẫn thống nhất áp dụng các định lượng tiền tệ và mức độ hậu quả nghiêm trọng quy định tại các Điều 156, 157, 158 BLHS 1999.
- Đề xuất sửa đổi, bổ sung các quy định về chất lượng sản phẩm, thống nhất khái niệm "mức chất lượng tối thiểu" để triệt tiêu kẽ hở đánh lận giữa hàng giả và hàng kém chất lượng.
- Thiết lập cơ chế phối hợp liên ngành thường trực giữa lực lượng Quản lý thị trường, Công an nhân dân, Hải quan và cơ quan Y tế/Nông nghiệp trong thanh tra, kiểm tra và truy cứu trách nhiệm hình sự.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của công trình
- Luận án được thực hiện tại thời điểm BLHS 1999 mới có hiệu lực (từ 01/7/2000), do đó thực tiễn áp dụng các điều khoản mới (Điều 156, 157, 158) tại Tòa án các cấp chưa đủ thời gian dài để tổng kết toàn diện bằng các số liệu thống kê tư pháp quy mô lớn.
- Dữ liệu thống kê tội phạm học ở giai đoạn trước năm 2000 chủ yếu được các cơ quan chức năng tổng hợp gộp chung giữa hành vi làm hàng giả và buôn bán hàng giả, khiến việc bóc tách số liệu độc lập cho từng hành vi trong quá khứ gặp những hạn chế nhất định từ nguồn tư liệu sẵn có.
Hướng nghiên cứu tiếp
- Tiếp tục theo dõi, đánh giá thực tiễn xét xử các tội sản xuất, buôn bán hàng giả theo các khung hình phạt định lượng mới của BLHS 1999 qua nhiều năm thi hành.
- Mở rộng nghiên cứu tội phạm hàng giả trong môi trường thương mại điện tử và sở hữu trí tuệ số khi Việt Nam tham gia sâu rộng hơn vào các định chế thương mại toàn cầu (WTO, các hiệp định tự do thương mại).
Giá trị tham khảo
Luận án mang lại giá trị tư liệu và khoa học chuyên ngành đối với nhiều nhóm đối tượng:
- Cơ quan tiến hành tố tụng (Điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án): Cung cấp cơ sở lý luận vững chắc để phân biệt chính xác tội sản xuất, buôn bán hàng giả với các tội phạm kinh tế khác (Điều 155, 159, 162 BLHS 1999), tránh làm oan sai đối với người buôn bán do lỗi vô ý hoặc bỏ lọt hành vi chuẩn bị sản xuất hàng giả.
- Cơ quan lập pháp và quản lý nhà nước: Đóng góp cơ sở thực tiễn để xây dựng các văn bản hướng dẫn dưới luật, quy chế phối hợp kiểm tra thị trường và hoàn thiện quy định về tiêu chuẩn đo lường chất lượng.
- Giảng viên, học viên, nghiên cứu sinh ngành Luật: Là tài liệu tham khảo giá trị về lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam từ thời phong kiến (Quốc triều hình luật) đến các bộ luật hiện đại, cũng như phương pháp tiếp cận đa chiều giữa Luật hình sự và Tội phạm học.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án phân biệt "hàng giả" và "hàng kém chất lượng" dựa trên những căn cứ pháp lý nào?
Tác giả căn cứ vào Nghị định số 140/HDBT ngày 25/4/1991, Nghị định số 327/HDBT ngày 19/10/1991 và Thông tư liên bộ số 1254-TT/LB ngày 8/11/1991 để chỉ rõ: Hàng kém chất lượng là sản phẩm có mức chất lượng thực tế thấp hơn mức đã đăng ký và ghi nhãn nhưng chưa vi phạm mức chất lượng tối thiểu cho phép (xử lý hành chính theo Pháp lệnh chất lượng hàng hóa). Trong khi đó, hàng giả là hàng hóa được sản xuất trái phép, không có giá trị sử dụng đúng với nguồn gốc/bản chất tự nhiên/tên gọi/công dụng, hoặc giả mạo nhãn hiệu, kiểu dáng đã được bảo hộ nhằm lừa dối người tiêu dùng để thu lợi bất chính.
2. Sự khác biệt cơ bản nhất giữa BLHS 1985 và BLHS 1999 về tội danh hàng giả là gì?
BLHS 1985 chỉ quy định duy nhất một điều luật (Điều 167) cho cả tội làm và buôn bán hàng giả, dùng các dấu hiệu định tính và không lượng hóa giá trị hàng phạm pháp bằng tiền. BLHS 1999 đã tách thành 3 điều riêng biệt (Điều 156 quy định hàng giả chung, Điều 157 cho lương thực/thực phẩm/thuốc chữa bệnh, Điều 158 cho thức ăn chăn nuôi/phân bón/thuốc thú y/thuốc BVTV); đồng thời đưa ra các mốc định lượng bằng tiền cụ thể (30 triệu, 150 triệu, 500 triệu đồng) để làm căn cứ định tội và định khung hình phạt.
3. Mặt chủ quan của tội sản xuất hàng giả và tội buôn bán hàng giả khác nhau như thế nào?
Theo tác giả, tội sản xuất hàng giả luôn luôn được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp (người phạm tội nhận thức rõ sản phẩm mình làm ra là giả, trái luật nhưng vẫn mong muốn thực hiện để thu lợi). Ngược lại, tội buôn bán hàng giả có thể xảy ra do lỗi cố ý (biết rõ là hàng giả nhưng vẫn mua bán) hoặc lỗi vô ý (người bán hàng thực sự không biết đó là hàng giả). Về nguyên tắc hình sự, người bán hàng do lỗi vô ý không bị truy cứu trách nhiệm hình sự, trừ khi để xảy ra hậu quả nghiêm trọng theo quy định pháp luật.
4. Tác giả có quan điểm như thế nào về "thông tin giả" trong nghiên cứu hàng giả?
Từ việc phân tích Thông tư liên tịch số 10/2000/TTLT-BTM-BTC-BCA-BKHCNMT, tác giả lập luận rằng trong nền kinh tế thị trường hiện đại, các thông tin thương mại, giá cả, bí mật kinh doanh, khoa học công nghệ là hàng hóa đặc biệt. Tác hại của việc sản xuất, phát tán thông tin giả trong kinh doanh là rất lớn, do đó cần thiết lập tiêu chí khoa học để kiểm soát và chế tài đối với hành vi sản xuất, buôn bán "thông tin giả".
5. Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là tội có cấu thành vật chất hay cấu thành hình thức?
Tác giả khẳng định tội sản xuất, buôn bán hàng giả là tội phạm có cấu thành hình thức. Tội phạm được coi là hoàn thành ngay khi người phạm tội đã thực hiện xong hành vi sản xuất ra hàng giả hoặc thực hiện hành vi mua vào, bán ra loại hàng mà mình biết rõ là giả, không bắt buộc phải có hậu quả vật chất thực tế xảy ra đối với xã hội hay tính mạng, tài sản của người tiêu dùng.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Trần Ngọc Việt là công trình khoa học chuyên khảo toàn diện về tội làm hàng giả và buôn bán hàng giả tại Việt Nam trong giai đoạn chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Bằng việc kết hợp chặt chẽ giữa phân tích pháp lý hình sự và phương pháp tội phạm học, tác giả đã làm sáng tỏ cấu thành pháp lý, so sánh sâu sắc sự phát triển lập pháp qua các thời kỳ, đặc biệt là những điểm mới của BLHS năm 1999. Các phát hiện thực tiễn và hệ thống giải pháp phòng ngừa được đề xuất trong luận án mang giá trị khoa học và thực tiễn vững chắc, phục vụ đắc lực cho công tác lập pháp, tư pháp và quản lý thị trường.