phần mở đầu, 3 chương, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo: - Chuong]: Những quy định pháp luật hình sự về tội làm hàng giả, tội buôn bán hang gia, thực tiễn hướng dẫn áp dụng các quy định này. - Chương 2: Thực trạng, nguyên nhân và điều kiện của tội phạm làm hàng _ giả và buôn bán hàng giả ở Việt Nam trong những năm gần đây. - Chương 3: Một số biện pháp đấu tranh phòng chống tội làm hang gia, tội buôn bán hàng giả. 1 CHUONG NHỮNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT HÌNH SU VE TOI LAM HÀNG GIẢ, TOI BUÔN BAN HÀNG GIẢ, THUC TIEN HUONG DAN ÁP DUNG CAC QUY DINH NAY 1.1 NHUNG VẤN DE CHƯNG VE TOI LAM HANG GIA, TOI BUÔN BAN HANG GIA 1.1 Khái niệm hang gia va tac hai của hang gia Điều 156 Bộ luật Hình sự của nước Cộng hoa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được Quốc hội khoá X, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 21-12-1999 (có hiệu lực ngày 1-7- 2000) quy định tội sản xuất, buôn bán hàng giả.
Đối tượng của tội danh này là hành vi vi phạm các quy định của Nha nước về sản xuất và buôn bán tất cả các mặt hàng làm ảnh hưởng đến tính trung thực, đến các hoạt động hợp pháp của các cơ quan, cá nhân sản xuất hàng hoá, ảnh hưởng đến lợi ích của người tiêu dùng. Điều này ảnh hưởng rất lớn đến sản xuất hàng hoá và có tác hại đến tâm lý, đời sống và sức khỏe cộng đồng. Trước khi phân tích về tội làm hàng gia, tội buôn bán hang giả, chúng ta phải xác định hàng giả là gì? Theo quan niệm chung hàng giả là những sản phẩm, hàng hoá được sản xuất ra trái pháp luật có hình dáng giống như những sản phẩm, hàng hoá được Nhà nước cho phép sản xuất, nhập khẩu và tiêu thụ trên thị trường hoặc những sản phẩm, hàng hoá không có giá trị sử dụng với nguồn gốc, bản chất tự nhiên, tên gọi, công dụng của nó. Thường thì người tiêu ding rất khó phân biệt ranh giới đâu là hang gia đâu là hàng thật, đâu là hàng giả và hàng kém chất lượng.
Trước kia, người ta quy một số mặt hang sai về định lượng, hình thức đều gdp vào hàng gia. Rõ rang, ranh giớ! giữa hang gia và hàng kém chất lượng rất mong manh, thậm chí dễ lẫn lộn. Điều này đòi hỏi chúng ta phải có quan điểm rã .ràng, và có những quy định pháp luật cụ thể về hàng giả, hàng kém chất lượng, -hơn thế nữa đòi hỏi các lực lượng kiểm tra, quản lý thị trường không chỉ có những dung cụ, thiết bị hiện đại, tinh vi mà còn đòi hỏi yếu tố con người thực thi pháp luật cũng phải có trình độ nghiệp vu tinh tường và ý thức làm việc công tâm, có trách nhiệm trong vấn dé kiểm tra, xử lý để ngăn chan một cách có hiệu quả việc sản xuất, kinh doanh, buôn bán hàng giả, đồng thời không gây “oan sai” cho những nhà sản xuất, kinh doanh chân chính. Với mục đích phòng ngừa, ngăn chặn và đấu tranh có hiệu quả đối với tội làm hàng giả, tội buôn bán hàng giả, Nhà nước ta cũng như nhiều nhà khoa học đã đưa ra một số quan niệm về hàng giả và hàng kém chất lượng.
Theo Nghị định số 140/HDBT ngày 25-4-1991 của Hội đồng Bộ trưởng quy định về kiểm tra, xử lý việc sản xuất và buôn bán hàng giả thì hàng giả là sản phẩm hàng hoá được sản xuất ra trái pháp luật có hình dáng giống như sản phẩm, hàng hoá được Nhà nước cho phép sản xuất, nhập khẩu, tiêu thụ trên thị trường hoặc sản phẩm hàng hoá không có giá trị đúng với nguồn gốc, bản chất tự nhiên, tên gọi và công dụng của nó. Tại Điều 4 của Nghị định này cũng quy định cụ thể những hàng hoá nào có một trong sáu dau hiệu sau đây thì được coi là hàng giả. Mot la, san pham, hàng hoá (kể cả hàng nhập khẩu) có nhãn hiệu sản phẩm giả mạo hoặc nhãn sản phẩm của một cơ sở sản xuất khác mà không được chủ nhãn đồng ý. Hai là, sản phẩm hàng hoá mang nhãn hiệu hàng hoá giống hệt hoặc tương tự có khả năng làm cho người tiêu dùng nhầm lẫn với nhãn hiệu hàng hoá của cơ sở sản xuất, buôn bán khác đã đăng ký với cơ quan bảohộquyền sở hữu công nghiệp hoặc đã được bảo hộ theo điều ước quốc tế ma Việt Nam tham gia.
Ba là, san phẩm hàng hoá mang nhãn hiệu không đúng với nhãn sản phẩm đã được đăng ký với cơ quan tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng. Bốn Ié, san phẩm, héng hoá ghi dấu phù hợp tiêu chuẩn chất lượng Việt Pd Nam khi chưa được cấp giấy chứng nhận và đấu phù hợp tiêu chuẩn chất lượng Việt Nam. Nam là, sản phẩm và hàng hoá đã đăng ký hoặc chưa ding ky chất lượng 14 với cơ quan tiêu chuẩn do lường chất lượng mà mức chất lượng thấp hơn mức tối thiểu cho phép. Sáu là, sản phẩm, hàng hoá có giá trị sử dụng không đúng với nguồn gốc, bản chất tự nhiên và tên gọi, công dụng của nó.
Khái niệm về hàng giả là một khái niệm phức tạp, đồng thời do sự vận động và phát triển của kinh tế thị trường, nên số lượng hàng hoá được sản xuất và lưu thông trên thị trường ngày càng nhiều, càng đa dạng, do đó hình thức thể hiện hang giả ngày càng tinh vi, giống như hàng thật. Bên cạnh đó Nghị định số 140/HDBT ngày 25/4/1991 của Hội đồng Bộ trưởng xác định các dấu hiệu hàng giả còn chung chung, chưa cụ thể, rõ ràng, chính vì vậy mà xung quanh khái niệm về hàng giả vẫn còn nhiều tranh luận [70]. Trước sự xâm thực ngày càng mạnh mẽ của hàng giả với nhiều hình thức đa dạng và tinh vi trong đời sống kinh tế xã hội của cộng đồng, đòi hỏi chúng ta phải có cách nhìn mới về hàng giả và hàng kém chất lượng. Theo chúng tôi việc xác định hàng giả và hàng kém chất lượng trong Thông tư liên tịch số 10/2000/TTLT-BTM-BTC-BCA-BKHCNMT ngày 27-4-2000 của Bộ Thương mại, Bộ Tài chính, Bộ Công an và Bộ Khoa học-Công nghệ-Môi trường hướng dẫn thực hiện chỉ thị 31/1999/CT-TTg ngày 27-10-1989 của Thủ tướng Chính phủ về đấu tranh phòng chống sản xuất và buôn bán hàng giả là tương đối phù hợp với tình hình hiện nay nhằm hạn chế tối đa những tiêu cực do nạn sản xuất và buôn bán hàng giả gây ra trên thị trường nước ta [91].
Cụ thể là hàng hoá có một trong các dấu hiệu sau đây được coi là hàng giả: a) Hàng giả chát lượng hoặc công dụng: - Hàng hoá không có giá trị sử dụng hoặc giá tt sử dung không như ba: chất tự nhiên, tên gọi và công dụng của nó. - Hàng hoá đưa thêm tạp chat, chất phụ gia không được phép sử dung 'àm thay đổi chất lượng, không có hoặc có ít dược chất, cd chứa chất khác với tên được chất ghi trên nhãn hoặc bao bì; không có hoặc không đủ hoạt chát, chất hữu hiệu gây nên công dụng; không có hoạt chất, chất hữu hiệu ghi trên bao bì. - Hàng hoá không đủ thành phần nguyên liệu hoặc bị thay thế bằng những nguyên liệu, phụ tùng khác không bảo đảm chất lượng so với tiêu chuẩn chất lượng hàng hoá đã công bố, gây hậu quả xấu đối với sản xuất, sức khoẻ người, động vật, thực vật hoặc môi trường, môi sinh. - Hàng hoá thuộc danh mục tiêu chuẩn bắt buộc áp dụng mà không thực hiện sẽ gây hậu quả xấu đối với sản xuất, sức khoẻ người, động vật, thực vật hoặc môi trường, môi sinh.
- Hàng hoá chưa được chứng nhận phù hợp tiêu chuẩn mà sử dụng giấy chứng nhận ghi dấu phù hợp tiêu chuẩn (đối với danh mục hàng hoá bắt buộc). b) Giả về nhãn hiệu hang hoá, kiểu dáng công nghiệp, nguồn gốc, xuất xứ hàng hoá - Hàng hoá có nhãn hiệu hàng hoá trùng hoặc tương tự gây nhầm lần với nhãn hiệu hàng hoá của người khác đang được bảo hộ cho cùng loại hàng hoá, kể cả nhãn hiệu hàng hoá đang được bảo hộ theo các điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia, mà không được phép của chủ nhãn hiệu. - Hàng hoá có dấu hiệu hoặc có bao bì mang dấu hiệu trùng hoặc tương tự gây nhầm lẫn với tên thương mại được bảo hộ hoặc với tên gọi xuất xứ hàng hoá được bảo hộ. - Hang hoá, bộ phận của hang hoá có hình dáng bên ngoäi trùng với kiéu= dáng công nghiệp đang được bảo hộ mà không được phép của chủ kiểu dáng O ông nghiệp.
- Hàng hoá có dấu hiệu giả mạo về chi dẫn nguồn gốc, xuất xứ hàng hoá gây sai lệch về nguồn gốc, xuất xứ, nơi đóng gói, lắp ráp hàng hoá. c) Giả về nhãn hàng hoá. - Hang hoá có nhãn hàng hoá giống hột hoặc tượng tự với nnan hang hoa của cơ sở khác đã công bố. ° - Những chỉ tiêu chi trên nhãn bị cạo, idy xo“, sửa đối, ghi không đúng thời hạn sử dụng đề lừa cối khách hàng.
- Những chỉ tiêu ghi trên nhãn hàng hoá khong phù hop với chất lượng hàng hoá nhằm lừa người tiêu dùng. ` d) Các ấn phẩm đã in sử dụng vào việc sản xuất, tiêu thụ hàng gid. 10 - Các loại dé can, tem san phẩm, nhãn hang hoá, mẫu nhãn hiệu hang hoá, bao bì sản phẩm có dấu hiệu vi phạm như: trùng hoặc tương tự gây nhầm lẫn với nhãn hàng hoá cùng loại, với nhãn hiệu hàng hoá, kiểu đáng công nghiệp, tên gọi xuất xứ hàng hoá đã được bảo hộ. - Các loại hoá đơn, chứng từ, chứng chỉ, tem, vé, tiền, ấn phẩm có giá trị như tiền, ấn phẩm và sản phẩm văn hoá giả mạo khác.
Khi giải thích các dấu hiệu thể hiện là hàng giả, chúng ta cần có cách nhìn tương tự và bao quát hơn. Chẳng hạn, khái niệm chứng chỉ giả, có thể hiểu cả các loại văn bằng giả, giấy chứng nhận giả, các ấn phẩm có giá trị như tiền giả có thể thể hiện là các loại: ngân phiếu giả, công trái giả, séc gia và các loại giấy tờ giả khác có giá trị như tiền. » Phân tích Thông tư liên tịch số 10/2000/TTUI-BTM-BTC-BCA-BKHCNMT ngày 27-4-2000 của Bộ Thương mại, Bộ Tài chính, Bộ Công an và Bộ Khoa học-Công nghệ-Môi trường, chúng tôi thấy thông tư chưa đề cập đến một loại hàng giả đặc biệt đó là thông tin giả. Hiện nay thông tin là một loại hàng hoá đặc biệt bởi vì trên thị trường thế giới nói chung, 6 nước ta nói riêng, việc mua bán thông tin diễn ra hàng ngày, hang giờ.
Tác hại của thông tin giả là khôn lường.