Luận Văn Thạc Sĩ: Phân Tích Tính Kinh Tế Theo Qui Mô Trong Chi Tiêu Của Hộ Gia Đình Việt Nam

Luận văn thạc sĩ UEH phân tích tính kinh tế theo quy mô trong chi tiêu hộ gia đình Việt Nam, cung cấp cái nhìn sâu sắc về hành vi tiêu dùng.

Chuyên ngành

Kinh Tế Phát Triển

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sỹ

2011

80
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU

0.1. Sự cần thiết của nghiên cứu

0.2. Câu hỏi nghiên cứu

0.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

0.4. Nội dung nghiên cứu

0.5. Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu

0.6. Giới hạn nghiên cứu

0.7. Ý nghĩa của đề tài

0.8. Kết cấu của luận văn

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT

1.1. Lý thuyết tính kinh tế theo qui mô (economies of scale)

1.2. Tính kinh tế theo qui mô hộ gia đình

2. CHƯƠNG 2: DỮ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Tổng quan về đối tượng, phạm vi và nội dung nghiên cứu

2.1.1. Đối tượng nghiên cứu

2.1.2. Phạm vi nghiên cứu

2.1.3. Nội dung nghiên cứu

2.1.4. Công cụ nghiên cứu

2.2. Phương pháp nghiên cứu

2.2.1. Phương pháp thống kê mô tả

2.2.2. Ước lượng mô hình hồi qui đa biến

2.2.3. Lựa chọn mô hình hồi qui thích hợp cho mối liên hệ giữa chi tiêu bình quân đầu người và qui mô hộ

2.3. Hệ số qui đổi tương đương (equivalence scale)

2.4. Chuẩn nghèo theo qui mô hộ

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Tổng quan về chi tiêu cho đời sống của hộ

3.1.1. Phân tích chi tiêu bình quân đầu người

3.1.2. Phân tích chi tiêu của hộ theo 5 khoảng bằng nhau

3.1.3. Phân tích cơ cấu tổng chi tiêu của 5 nhóm hộ

3.1.4. Phân tích chi tiêu lương thực-thực phẩm bình quân đầu người

3.2. Ước lượng các nhân tố tác động đến chi tiêu của hộ gia đình

3.2.1. Mô hình hồi qui thứ nhất

3.2.2. Mô hình hồi qui thứ hai: xét riêng cho nhóm hộ nghèo

3.2.3. Nhận dạng đường cong và dạng hàm cho mối quan hệ giữa chi tiêu bình quân đầu người và biến qui mô hộ

3.3. Xét biểu đồ thể hiện mối quan hệ giữa biến chi tiêu bình quân đầu người và qui mô hộ

3.4. Xác định đường cong và dạng hàm cho mối quan hệ giữa biến chi tiêu bình quân đầu người và biến qui mô hộ

3.5. Hệ số qui đổi tương đương (equivalence scale)

PHẦN KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT

4.1. Kết luận

4.2. Đề xuất và gợi ý chính sách

4.2.1. Về việc sử dụng hệ số qui đổi tương đương

4.2.2. Đề xuất các nghiên cứu mở rộng

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Phân Tích Tính Kinh Tế Theo Qui Mô Trong Chi Tiêu Hộ Gia Đình Việt Nam

Phân tích tính kinh tế theo qui mô trong chi tiêu hộ gia đình Việt Nam là một lĩnh vực nghiên cứu quan trọng. Nó giúp hiểu rõ hơn về mối quan hệ giữa số lượng thành viên trong hộ và chi tiêu bình quân đầu người. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp thông tin cho các nhà hoạch định chính sách mà còn giúp các hộ gia đình có cái nhìn rõ hơn về chi tiêu của mình.

1.1. Khái Niệm Tính Kinh Tế Theo Qui Mô

Tính kinh tế theo qui mô đề cập đến việc chi phí bình quân giảm khi quy mô sản xuất hoặc số lượng thành viên trong hộ gia đình tăng lên. Điều này có nghĩa là các hộ gia đình đông người có thể tiết kiệm chi phí hơn so với các hộ nhỏ.

1.2. Tầm Quan Trọng Của Nghiên Cứu

Nghiên cứu này giúp xác định các yếu tố ảnh hưởng đến chi tiêu hộ gia đình, từ đó đề xuất các chính sách hỗ trợ phù hợp cho các hộ nghèo và hộ có số lượng thành viên ít.

II. Vấn Đề Và Thách Thức Trong Phân Tích Tính Kinh Tế Theo Qui Mô

Mặc dù có nhiều lợi ích từ việc phân tích tính kinh tế theo qui mô, nhưng vẫn tồn tại nhiều thách thức. Các vấn đề như sự khác biệt trong chi tiêu giữa các vùng miền, sự biến động của giá cả và thu nhập cũng như sự thay đổi trong thói quen tiêu dùng cần được xem xét.

2.1. Sự Khác Biệt Giữa Các Vùng Miền

Chi tiêu hộ gia đình có thể khác nhau đáng kể giữa các vùng miền, do sự khác biệt về thu nhập, giá cả và nhu cầu tiêu dùng. Điều này tạo ra khó khăn trong việc áp dụng các chuẩn nghèo chung.

2.2. Biến Động Giá Cả Và Thu Nhập

Sự biến động của giá cả và thu nhập có thể ảnh hưởng đến khả năng chi tiêu của hộ gia đình. Các hộ nghèo thường bị ảnh hưởng nặng nề hơn khi giá cả tăng cao.

III. Phương Pháp Phân Tích Tính Kinh Tế Theo Qui Mô Trong Chi Tiêu

Để phân tích tính kinh tế theo qui mô, các phương pháp thống kê và mô hình hồi quy đa biến thường được sử dụng. Những phương pháp này giúp xác định mối quan hệ giữa chi tiêu bình quân đầu người và số lượng thành viên trong hộ.

3.1. Phương Pháp Thống Kê Mô Tả

Phương pháp thống kê mô tả giúp cung cấp cái nhìn tổng quan về dữ liệu chi tiêu hộ gia đình, từ đó xác định các xu hướng và mẫu hình tiêu dùng.

3.2. Mô Hình Hồi Quy Đa Biến

Mô hình hồi quy đa biến cho phép phân tích các yếu tố tác động đến chi tiêu bình quân đầu người, từ đó xác định hệ số qui đổi tương đương cho từng qui mô hộ.

IV. Kết Quả Nghiên Cứu Về Tính Kinh Tế Theo Qui Mô

Kết quả nghiên cứu cho thấy có sự tương quan nghịch giữa số lượng thành viên trong hộ và chi tiêu bình quân đầu người. Hệ số qui đổi tương đương được xác định cho từng qui mô hộ, giúp đánh giá chính xác hơn về tình hình kinh tế của hộ gia đình.

4.1. Phân Tích Chi Tiêu Bình Quân Đầu Người

Phân tích cho thấy rằng khi số lượng thành viên trong hộ gia đình tăng lên, chi tiêu bình quân đầu người sẽ giảm. Điều này khẳng định tính kinh tế theo qui mô trong chi tiêu hộ gia đình.

4.2. Hệ Số Qui Đổi Tương Đương

Hệ số qui đổi tương đương được tính toán dựa trên dữ liệu khảo sát mức sống hộ gia đình, giúp xác định chuẩn nghèo theo qui mô hộ một cách chính xác hơn.

V. Kết Luận Và Đề Xuất Chính Sách Hỗ Trợ

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng tính kinh tế theo qui mô có ảnh hưởng lớn đến chi tiêu hộ gia đình. Các chính sách hỗ trợ cần được điều chỉnh để đảm bảo tính công bằng cho các hộ gia đình có số lượng thành viên ít.

5.1. Đề Xuất Chính Sách Hỗ Trợ Hộ Nghèo

Cần có các chính sách hỗ trợ tài chính cho các hộ nghèo, đặc biệt là những hộ có số lượng thành viên ít, để đảm bảo họ có thể đáp ứng nhu cầu thiết yếu.

5.2. Khuyến Khích Nghiên Cứu Mở Rộng

Cần khuyến khích các nghiên cứu mở rộng về tính kinh tế theo qui mô trong các lĩnh vực khác nhau để có cái nhìn toàn diện hơn về vấn đề này.

23/07/2025
Luận văn thạc sĩ ueh phân tích tính kinh tế theo qui mô trong chi tiêu của hộ gia đình việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1.1 Lý thuyết tính kinh tế theo qui mô (economies of scale): Tính kinh tế theo qui mô được dùng để chỉ giá thành bình quân của một sản phẩm giảm dần khi sản lượng sản xuất tăng lên. Theo nhà kinh tế David Begg (2005), trong dài hạn, một doanh nghiệp sản xuất khi mở rộng qui mô sản xuất, tăng số lượng sản xuất, giá thành bình quân (AV- average cost) một sản phẩm sẽ giảm theo mức chi phí biên của sản phẩm sau sẽ thấp hơn sản phẩm trước. Khi sản lượng đạt đến một mức nào đó thì chi phí trung bình dài hạn không đổi khi sản lượng tăng; sản lượng tăng tiếp sẽ dẫn đến tính phi kinh tế của qui mô (diseconomies of scale), nghĩa là sản lượng và chi phí trung bình cùng tăng. Tính kinh tế theo qui mô có tác dụng to lớn, là động lực thúc đẩy các nhà đầu tư trong việc mở rộng qui mô sản xuất, kinh doanh.

Có thể nói, tính kinh tế theo qui mô là một trong những nhân tố góp phần hình thành xu thế toàn cầu hoá hiện nay. Có 6 nguyên nhân dẫn đến tính kinh tế theo qui mô (David Begg, 2005): Thứ nhất là do tính không thể chia nhỏ được trong quá trình sản xuất, thể hiện qua việc nhà đầu tư phải phải chi phí ban đầu lớn qua việc mua sắm máy móc thiết bị, nhà xưởng, cũng như nhân sự khung ban đầu (người quản lý, kế toán, bảo vệ, thủ quỷ, nhân viên kinh doanh,.) đây là chi phí cố định, chúng không thay đổi khi sản lượng thay đổi. Thứ hai là do sự chuyên môn hoá, trong doanh nghiệp nhỏ, ít người, một người phải làm nhiều việc; khi mở rộng sản xuất, qui trình sản xuất được chia nhỏ, năng suất lao động sẽ tăng, làm cho chi phí trung bình giảm. Ví dụ như để sản xuất một chiếc áo sơ mi thường qua 3 công đoạn: cắt, may, hoàn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 thành; từng công đoạn lại được chia nhỏ ra.

Công đoạn cắt được chia ra: trãi vải, cắt, đánh số các thân vải, vận chuyển đến công đoạn may; tại công đoạn may, công việc được chia ra thành một dây chuyền một chiều: thân vải vào đầu này, sản phẩm ra đầu kia bao gồm các bước: làm nẹp thân áo trước, ráp 2 thân trước với thân sau, làm măngsét tay áo, ráp tay áo vào thân, làm cổ áo, ráp cổ áo vào thân, cắt chỉ làm sạch; kiểm tra chất lượng may. Sản phẩm được đưa qua khâu hoàn thành: ủi, xếp, gắn nhản, vào bao bì, đóng thùng carton phối hợp theo màu sắc và kích cở. Rõ ràng ta thấy công việc may áo trước kia chỉ một người làm, nay tiến hành chuyên môn hoá thành rất nhiều bước công việc nhỏ, mỗi người chỉ đảm nhận một khâu nhỏ, công việc trở nên đơn giản, được lặp đi lặp lại, công nhân quen tay, năng suất càng cao (nếu mẫu hàng nào được sản xuất với lượng lớn, năng suất còn cao hơn nữa). Thứ ba, yếu tố công nghệ: khi tiến hành chuyên môn càng sâu, càng dễ đưa yếu tố công nghệ vào làm cho năng suất càng cao hơn.

Kỹ thuật và tổ chức sản xuất ưu việt khi quy mô tăng lên người ta có thể sử dụng máy tự động thay cho thiết bị vận hành thủ công hoặc thay thế sản xuất đơn chiếc bằng dây chuyền hàng loạt một cách liên tục. Ví dụ trong ngành may: máy trải vải tự động, cắt máy với gần 100 lớp; khâu may được trang bị nhiều máy chuyên dụng (máy may 1 kim, máy may 2 kim, máy sản xuất đai quần, máy đóng nút, máy làm khuy, máy cuốn ống quần, máy đính đai quần,.) công suất lớn, được lập trình với máy tính; khâu hoàn thành với máy giặt công nghiệp, máy ủi ơi,. Thứ tư, hiệu quả của việc mua nguyên vật liệu và phụ tùng với khối lượng lớn nhờ được hưởng chiết khấu Thứ năm, hiệu quả marketing (hiệu quả tiêu thụ) thu được nhờ việc sử dụng phương tiện quảng cáo đại chúng và mật độ sử dụng lực lượng bán hàng lớn hơn. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Thứ sáu, hiệu quả tài chính thu được do các công ty lớn có điều kiện gọi vốn với điều kiện thuận lợi với lãi suất, chi phí đi vay thấp hơn.

Khả năng tận dụng tính kinh tế theo quy mô có thể bị hạn chế vì nhiều lý do. Ở một số ngành, bản chất của sản phẩm và quá trình chế biến hay công nghệ có thể làm giảm tính kinh tế theo quy mô ngay khi sản lượng còn ở mức khiêm tốn. Về phía cầu, tổng nhu cầu thị trường có thể không đủ để một công ty đạt được quy mô tối thiểu có hiệu quả hoặc tỷ trọng của công ty quá nhỏ. Nếu người tiêu dùng có nhu cầu về nhiều sản phẩm khác nhau (tính đa dạng của nhu cầu) gây cản trở cho việc tiêu chuẩn hoá và sản xuất trong thời gian dài.

Khi kinh tế theo quy mô có ý nghĩa quan trọng với nhiều ngành nó sẽ dẫn tới xu hướng là tập trung hoá người bán ở mức cao. Chi phí trung bình dài hạn Sản lượng Tính kinh tế Tính phi kinh theo qui mô tế theo qui mô LRAC : Đường chi phí bình quân dài hạn có hình chữ U đặc trưng cho một nhà máy. Tính kinh tế theo qui mô không chỉ tồn tại trong sản xuất công nghiệp mà nó còn tồn tại trong hầu hết các ngành, như chăn nuôi, trồng trọt, dịch vụ bán lẻ, dịch vụ ngân hàng,… LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.2 Tính kinh tế theo qui mô hộ gia đình: Tính kinh tế theo qui mô hộ gia đình (household size economies of scale) có nghĩa là khi số người trong hộ tăng lên thì chi tiêu bình quân đầu người của hộ sẽ giảm theo. Ý nghĩa của tính kinh tế theo qui mô hộ gia đình là các hộ gia đình càng đông người càng tiết kiệm chi phí, do đó chi tiêu tính theo đầu người sẽ càng thấp.

Như vậy hộ 1 người sẽ có chi tiêu bình quân đầu người cao nhất. Tính kinh tế theo qui mô hộ gia đình thể hiện qua các loại hàng hoá tiêu dùng theo cá nhân và các hàng hoá và tiện ích dùng chung cho hộ. Theo Angus Deaton và Christina Paxson (1998) qua nghiên cứu các dữ liệu về tiêu dùng của các nước Hoa Kỳ, Anh, Pháp, Ấn Độ, Pakistan, Đài Loan, Thái Lan, đã đưa ra những giải thích về tính kinh tế theo qui mô hộ gia đình như sau: - Mua hàng với số lượng lớn: những hộ có qui mô lớn khi mua lương thực - thực phẩm hoặc hàng hoá phi lương thực - thực phẩm sẽ được mua với giá thấp hơn hộ ít người. Điều này cũng được Prais và Houthaker (1955) cũng nêu ra trong nghiên cứu về chi tiêu và tiết kiệm tại Anh quốc vào năm 1938.

- Nấu ăn cho gia đình: Mỗi gia đình luôn cần một người nấu ăn, như vậy hộ đông người sẽ tiết kiệm hơn trong sử dụng khí gas, điện, nước, công chuẩn bị, chi phí đi chợ, đi siêu thị,. làm giảm chi phí tính cho đầu người. - Đồ ăn thừa: hộ đông người sẽ có điều kiện sử dụng hợp lý hơn đối với lương thực - thực phẩm, nhờ vậy đồ thừa, thải loại sẽ ít hơn. - Thay đổi tự nấu ăn và ăn ngoài do tác động của giá cả: Hộ ít người thường có khuynh hướng ăn ngoài với chi phí cao, hộ đông người nhận thấy rằng, tự nấu ăn sẽ rẻ hơn.

Ví dụ: khi kết hôn, hai người độc thân thường sẽ chuyển từ các bữa ăn ngoài thành bữa cơm gia đình rẽ hơn. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 - Các tiện ích và dịch vụ mua ngoài dùng chung: các hộ đông người sẽ tiết kiệm trong sử dụng các tiện ích, như: nhà ở (phòng khách, nhà bếp, nhà vệ sinh), máy truyền hình, máy hút bụi, mát giặt,… và các dịch vụ mua ngoài như: điện thoại bàn, truyền hình cáp, đổ rác, phí an ninh,… 1.3 Hệ số qui đổi tương đương (equivalence scale): Khái niệm: Hệ số qui đổi tương đương phản ánh quan hệ giữa mức chi tiêu của hộ gia đình có i người so với mức chi tiêu của hộ 1 người. 𝐶𝐶ℎ𝑖𝑖 𝑡𝑡𝑡𝑡ê𝑢𝑢 𝑐𝑐ủ𝑎𝑎 ℎộ 𝑐𝑐ó 𝑖𝑖 𝑛𝑛𝑛𝑛 ườ𝑖𝑖 Hệ số qui đổi tương đương (H) = 𝐶𝐶ℎ𝑖𝑖 𝑡𝑡𝑡𝑡ê𝑢𝑢 𝑐𝑐ủ𝑎𝑎 ℎộ 1 𝑛𝑛𝑛𝑛 ườ𝑖𝑖 trong đó, i ≥ 2. Ý nghĩa: chi tiêu của hộ có i người sẽ gấp H lần so với chi tiêu của hộ 1 người.

Chi tiêu của hộ gia đình sẽ tăng lên theo số thành viên trong hộ tăng lên, nhưng chi tiêu của hộ gia đình sẽ không tăng theo số nhân bình thường mà sẽ thấp hơn nhờ vào tính kinh tế theo qui mô như đã phân tích ở mục 1. Ví dụ: Nếu chi tiêu cho hộ 1 người là 1, khi hộ tăng thêm thành viên thứ 2 thì mức chi tăng thêm cho thành viên này chỉ bằng 0,8 so với mức chi tiêu của người thứ nhất, khi tăng thêm thành viên thứ 3 thì mức tăng thêm là 0,75. Như vậy, chi tiêu cho hộ 3 người không phải là gấp 3 mà chỉ gấp 2,55 lần so với chi tiêu của hộ 1 người. Hệ số qui đổi tương đương đã được nhiều nước trên thế giới áp dụng vào việc tính trợ cấp xã hội, tính chuẩn nghèo theo qui mô hộ.

Dưới đây là bảng trình bày hệ số qui đổi tương đương đang được sử dụng ở một số nước trên thế giới (Bảng 1.1): - Hệ số 40/30 của cơ quan Thống kê Canada, (Statistics Canada, 2008); - Hệ số căn bậc 2 của qui mô hộ (square root), (Atkinson et al., 1995); - Hệ số OECD (cơ quan hợp tác và phát triển kinh tế), (OECD, 2008); LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 - Hệ số của Hội đồng nghiên cứu quốc gia Hoa Kỳ, (Citro and Michael, 1995).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ