CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1.1 Lý thuyết tính kinh tế theo qui mô (economies of scale): Tính kinh tế theo qui mô được dùng để chỉ giá thành bình quân của một sản phẩm giảm dần khi sản lượng sản xuất tăng lên. Theo nhà kinh tế David Begg (2005), trong dài hạn, một doanh nghiệp sản xuất khi mở rộng qui mô sản xuất, tăng số lượng sản xuất, giá thành bình quân (AV- average cost) một sản phẩm sẽ giảm theo mức chi phí biên của sản phẩm sau sẽ thấp hơn sản phẩm trước. Khi sản lượng đạt đến một mức nào đó thì chi phí trung bình dài hạn không đổi khi sản lượng tăng; sản lượng tăng tiếp sẽ dẫn đến tính phi kinh tế của qui mô (diseconomies of scale), nghĩa là sản lượng và chi phí trung bình cùng tăng. Tính kinh tế theo qui mô có tác dụng to lớn, là động lực thúc đẩy các nhà đầu tư trong việc mở rộng qui mô sản xuất, kinh doanh.
Có thể nói, tính kinh tế theo qui mô là một trong những nhân tố góp phần hình thành xu thế toàn cầu hoá hiện nay. Có 6 nguyên nhân dẫn đến tính kinh tế theo qui mô (David Begg, 2005): Thứ nhất là do tính không thể chia nhỏ được trong quá trình sản xuất, thể hiện qua việc nhà đầu tư phải phải chi phí ban đầu lớn qua việc mua sắm máy móc thiết bị, nhà xưởng, cũng như nhân sự khung ban đầu (người quản lý, kế toán, bảo vệ, thủ quỷ, nhân viên kinh doanh,.) đây là chi phí cố định, chúng không thay đổi khi sản lượng thay đổi. Thứ hai là do sự chuyên môn hoá, trong doanh nghiệp nhỏ, ít người, một người phải làm nhiều việc; khi mở rộng sản xuất, qui trình sản xuất được chia nhỏ, năng suất lao động sẽ tăng, làm cho chi phí trung bình giảm. Ví dụ như để sản xuất một chiếc áo sơ mi thường qua 3 công đoạn: cắt, may, hoàn TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 thành; từng công đoạn lại được chia nhỏ ra.
Công đoạn cắt được chia ra: trãi vải, cắt, đánh số các thân vải, vận chuyển đến công đoạn may; tại công đoạn may, công việc được chia ra thành một dây chuyền một chiều: thân vải vào đầu này, sản phẩm ra đầu kia bao gồm các bước: làm nẹp thân áo trước, ráp 2 thân trước với thân sau, làm măngsét tay áo, ráp tay áo vào thân, làm cổ áo, ráp cổ áo vào thân, cắt chỉ làm sạch; kiểm tra chất lượng may. Sản phẩm được đưa qua khâu hoàn thành: ủi, xếp, gắn nhản, vào bao bì, đóng thùng carton phối hợp theo màu sắc và kích cở. Rõ ràng ta thấy công việc may áo trước kia chỉ một người làm, nay tiến hành chuyên môn hoá thành rất nhiều bước công việc nhỏ, mỗi người chỉ đảm nhận một khâu nhỏ, công việc trở nên đơn giản, được lặp đi lặp lại, công nhân quen tay, năng suất càng cao (nếu mẫu hàng nào được sản xuất với lượng lớn, năng suất còn cao hơn nữa). Thứ ba, yếu tố công nghệ: khi tiến hành chuyên môn càng sâu, càng dễ đưa yếu tố công nghệ vào làm cho năng suất càng cao hơn.
Kỹ thuật và tổ chức sản xuất ưu việt khi quy mô tăng lên người ta có thể sử dụng máy tự động thay cho thiết bị vận hành thủ công hoặc thay thế sản xuất đơn chiếc bằng dây chuyền hàng loạt một cách liên tục. Ví dụ trong ngành may: máy trải vải tự động, cắt máy với gần 100 lớp; khâu may được trang bị nhiều máy chuyên dụng (máy may 1 kim, máy may 2 kim, máy sản xuất đai quần, máy đóng nút, máy làm khuy, máy cuốn ống quần, máy đính đai quần,.) công suất lớn, được lập trình với máy tính; khâu hoàn thành với máy giặt công nghiệp, máy ủi ơi,. Thứ tư, hiệu quả của việc mua nguyên vật liệu và phụ tùng với khối lượng lớn nhờ được hưởng chiết khấu Thứ năm, hiệu quả marketing (hiệu quả tiêu thụ) thu được nhờ việc sử dụng phương tiện quảng cáo đại chúng và mật độ sử dụng lực lượng bán hàng lớn hơn. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 Thứ sáu, hiệu quả tài chính thu được do các công ty lớn có điều kiện gọi vốn với điều kiện thuận lợi với lãi suất, chi phí đi vay thấp hơn.
Khả năng tận dụng tính kinh tế theo quy mô có thể bị hạn chế vì nhiều lý do. Ở một số ngành, bản chất của sản phẩm và quá trình chế biến hay công nghệ có thể làm giảm tính kinh tế theo quy mô ngay khi sản lượng còn ở mức khiêm tốn. Về phía cầu, tổng nhu cầu thị trường có thể không đủ để một công ty đạt được quy mô tối thiểu có hiệu quả hoặc tỷ trọng của công ty quá nhỏ. Nếu người tiêu dùng có nhu cầu về nhiều sản phẩm khác nhau (tính đa dạng của nhu cầu) gây cản trở cho việc tiêu chuẩn hoá và sản xuất trong thời gian dài.
Khi kinh tế theo quy mô có ý nghĩa quan trọng với nhiều ngành nó sẽ dẫn tới xu hướng là tập trung hoá người bán ở mức cao. Chi phí trung bình dài hạn Sản lượng Tính kinh tế Tính phi kinh theo qui mô tế theo qui mô LRAC : Đường chi phí bình quân dài hạn có hình chữ U đặc trưng cho một nhà máy. Tính kinh tế theo qui mô không chỉ tồn tại trong sản xuất công nghiệp mà nó còn tồn tại trong hầu hết các ngành, như chăn nuôi, trồng trọt, dịch vụ bán lẻ, dịch vụ ngân hàng,… TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.2 Tính kinh tế theo qui mô hộ gia đình: Tính kinh tế theo qui mô hộ gia đình (household size economies of scale) có nghĩa là khi số người trong hộ tăng lên thì chi tiêu bình quân đầu người của hộ sẽ giảm theo. Ý nghĩa của tính kinh tế theo qui mô hộ gia đình là các hộ gia đình càng đông người càng tiết kiệm chi phí, do đó chi tiêu tính theo đầu người sẽ càng thấp.
Như vậy hộ 1 người sẽ có chi tiêu bình quân đầu người cao nhất. Tính kinh tế theo qui mô hộ gia đình thể hiện qua các loại hàng hoá tiêu dùng theo cá nhân và các hàng hoá và tiện ích dùng chung cho hộ. Theo Angus Deaton và Christina Paxson (1998) qua nghiên cứu các dữ liệu về tiêu dùng của các nước Hoa Kỳ, Anh, Pháp, Ấn Độ, Pakistan, Đài Loan, Thái Lan, đã đưa ra những giải thích về tính kinh tế theo qui mô hộ gia đình như sau: - Mua hàng với số lượng lớn: những hộ có qui mô lớn khi mua lương thực - thực phẩm hoặc hàng hoá phi lương thực - thực phẩm sẽ được mua với giá thấp hơn hộ ít người. Điều này cũng được Prais và Houthaker (1955) cũng nêu ra trong nghiên cứu về chi tiêu và tiết kiệm tại Anh quốc vào năm 1938.
- Nấu ăn cho gia đình: Mỗi gia đình luôn cần một người nấu ăn, như vậy hộ đông người sẽ tiết kiệm hơn trong sử dụng khí gas, điện, nước, công chuẩn bị, chi phí đi chợ, đi siêu thị,. làm giảm chi phí tính cho đầu người. - Đồ ăn thừa: hộ đông người sẽ có điều kiện sử dụng hợp lý hơn đối với lương thực - thực phẩm, nhờ vậy đồ thừa, thải loại sẽ ít hơn. - Thay đổi tự nấu ăn và ăn ngoài do tác động của giá cả: Hộ ít người thường có khuynh hướng ăn ngoài với chi phí cao, hộ đông người nhận thấy rằng, tự nấu ăn sẽ rẻ hơn.
Ví dụ: khi kết hôn, hai người độc thân thường sẽ chuyển từ các bữa ăn ngoài thành bữa cơm gia đình rẽ hơn. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 - Các tiện ích và dịch vụ mua ngoài dùng chung: các hộ đông người sẽ tiết kiệm trong sử dụng các tiện ích, như: nhà ở (phòng khách, nhà bếp, nhà vệ sinh), máy truyền hình, máy hút bụi, mát giặt,… và các dịch vụ mua ngoài như: điện thoại bàn, truyền hình cáp, đổ rác, phí an ninh,… 1.3 Hệ số qui đổi tương đương (equivalence scale): Khái niệm: Hệ số qui đổi tương đương phản ánh quan hệ giữa mức chi tiêu của hộ gia đình có i người so với mức chi tiêu của hộ 1 người. 𝐶𝐶ℎ𝑖𝑖 𝑡𝑡𝑡𝑡ê𝑢𝑢 𝑐𝑐ủ𝑎𝑎 ℎộ 𝑐𝑐ó 𝑖𝑖 𝑛𝑛𝑛𝑛 ườ𝑖𝑖 Hệ số qui đổi tương đương (H) = 𝐶𝐶ℎ𝑖𝑖 𝑡𝑡𝑡𝑡ê𝑢𝑢 𝑐𝑐ủ𝑎𝑎 ℎộ 1 𝑛𝑛𝑛𝑛 ườ𝑖𝑖 trong đó, i ≥ 2. Ý nghĩa: chi tiêu của hộ có i người sẽ gấp H lần so với chi tiêu của hộ 1 người.
Chi tiêu của hộ gia đình sẽ tăng lên theo số thành viên trong hộ tăng lên, nhưng chi tiêu của hộ gia đình sẽ không tăng theo số nhân bình thường mà sẽ thấp hơn nhờ vào tính kinh tế theo qui mô như đã phân tích ở mục 1. Ví dụ: Nếu chi tiêu cho hộ 1 người là 1, khi hộ tăng thêm thành viên thứ 2 thì mức chi tăng thêm cho thành viên này chỉ bằng 0,8 so với mức chi tiêu của người thứ nhất, khi tăng thêm thành viên thứ 3 thì mức tăng thêm là 0,75. Như vậy, chi tiêu cho hộ 3 người không phải là gấp 3 mà chỉ gấp 2,55 lần so với chi tiêu của hộ 1 người. Hệ số qui đổi tương đương đã được nhiều nước trên thế giới áp dụng vào việc tính trợ cấp xã hội, tính chuẩn nghèo theo qui mô hộ.
Dưới đây là bảng trình bày hệ số qui đổi tương đương đang được sử dụng ở một số nước trên thế giới (Bảng 1.1): - Hệ số 40/30 của cơ quan Thống kê Canada, (Statistics Canada, 2008); - Hệ số căn bậc 2 của qui mô hộ (square root), (Atkinson et al., 1995); - Hệ số OECD (cơ quan hợp tác và phát triển kinh tế), (OECD, 2008); TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 - Hệ số của Hội đồng nghiên cứu quốc gia Hoa Kỳ, (Citro and Michael, 1995).