CHƯƠNG 1: TONG QUAN VE BẢO HIEM SỨC KHOẺ 1. Lich sử hình thành và phat triển của bao hiểm sức khoẻ ở Việt Nam So với các loại hình bảo hiểm khác, BHSK ra đời khá muộn và phải đến khi những tiến bộ khoa học kĩ thuật trong y tế đã giúp việc điều trị bệnh bang các phương pháp trị liệu và các loại thuốc đắt đỏ trở nên dé dang hơn thi tam quan trọng của BHSK mới được nhận được nhiều sự quan tâm. Nguồn gốc ra đời của bảo hiểm sức khỏe được cho là bắt nguồn từ thời Hy Lạp cô đại, khi mà các tô chức phi lợi nhuận được thành lập nhăm hỗ trợ các gia đình có người trụ cột bị mất thu nhập. Đến thời kỳ Trung Cổ, các tô chức bảo hiểm sức khỏe tương hỗ ra đời với mục đích bảo vệ lợi ích cho các thành viên, toàn bộ lợi nhuận thu được sẽ được chia đều cho các cổ đông.
Vào thế kỉ 19, BHSK chỉ chỉ trả cho các trường hợp bị thương tật, người tham gia bảo hiểm phải tự chỉ các chỉ phí y tế khác nhưng sang đến thế kỉ 20, các sản phẩm bảo hiểm thương tật truyền thống đã phát triển thành các chương trình BHSK hiện đại. Ngày nay, hầu hết các sản phẩm BHSK thương mại chỉ trả phần lớn các chi phí năm viện, phẫu thuật, chăm sóc y tê, thuôc men,. Tại Việt Nam, bảo hiểm sức khỏe thương mại được các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ triển khai từ những năm 1980 và Bảo hiểm Bảo Việt là doanh nghiệp đầu tiên đã cho ra đời các sản phẩm bảo hiểm sức khỏe. Nhưng chủ yếu là các sản phẩm bảo hiểm tại nạn con người, bảo hiểm sinh mạng hay bảo hiểm trợ cấp phẫu thuật và nằm viện.
Chính vì vậy, BHSK vào thời điểm đó còn được gọi là các sản phâm bảo hiểm con người thương mại. Đến đầu những năm 2000, các sản phẩm bảo hiểm chi phí y tế bắt đầu được một số doanh nghiệp bảo hiểm thiết kế đưa ra thị trường và trở nên phố biến vào cuối những năm 2000 trở đi. Trong Luật Kinh đoanh bảo hiểm năm 2000, việc phân loại bảo hiểm sức khoẻ còn chưa rõ ràng. Tại Khoản 2 Điều 7 Luật số: 24/2000/QH10, BHSK được xếp cùng mục với BH tai nạn con người và được phân vào mảng BH phi nhân thọ.
Đến năm 2010, bảo hiểm con người phi nhân thọ chính thức gọi là Bảo hiểm sức khỏe, cho phép tất cả doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ và phi nhân thọ triển khai bản sản phẩm. Tại Khoản 1, Điều 1 của Luật sửa đồi, bổ sung năm 2010 đã bố sung khoản 20 vào Điều 3 của Luật KDBH 2000 về khái niệm của BHSK. Bảo hiểm sức khoẻ là loại hình bảo hiểm cho trường hợp người được bảo hiểm bị thương tật, tai nạn, 6m dau, bệnh tật hoặc chăm sóc sức khỏe được doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm theo thỏa thuận trong hợp đông bảo hiểm. ” Đồng thời, cũng tại Luật này đã chia BHSK thành 3 loại hình: Bảo hiểm tai nạn con người, Bảo hiém y tê và Bảo hiém chăm sóc sức khoẻ.
Trong đó, bảo hiểm tai nạn con người là loại hình bảo hiểm cho trường hợp rủi ro do tai nan làm cho người được bảo hiểm bị tử vong, thương tật thân thé hay làm phat sinh các chi phi y tế thuộc phạm vi bao hiểm. Các quyên lợi bảo hiểm trong trường hợp tử vong hoặc thương tật thân thé được chi trả theo tỷ lệ số tiền bảo hiểm, các chỉ phí y tế như thuốc men, phẫu thuật, điều trị hay sử dụng các thiết biy tế, thuê phòng, thuê xe cấp cứu, sẽ được bồi thường theo chi phí thực tế hoặc tỷ lệ số tiền bảo hiểm tùy từng sản phẩm của mỗi công ty. Bảo hiểmy tế thương mại là loại hình BH được cung cấp bởi các công ty bảo hiểm phi nhân thọ, mang tính kinh doanh, hoạt động có lợi nhuận theo Luật Kinh doanh bảo hiểm số 24/2000/QH10 ngày 09/12/2000 và Luật sửa đồi, bé sung một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm số 61/2010/QH12 ngày 24/11/2010. Vì BHYT thương mại mang tinh lợi nhuận, không mang tính nha nước và có phạm vi xuyên quốc gia nên thường là lựa chọn bồ trợ cho BHYT nhà nước.
Bảo hiểm chăm sóc sức khỏe là loại hình bảo hiểm giúp các khách hàng được chăm sóc y tế với nhiều quyền lợi vượt trội như không phân biệt đúng hay trái tuyến, bệnh viện công hay tư, trong hay ngoài nước; được chỉ trả theo chỉ phí thực tế và hạn mức từng quyền lợi đối với các quyền lợi bảo hiểm nội tru, ngoại trú, nha khoa, thai sản, cay ghép nội tạng, điều trị ung thu,. Trong Luật Kinh doanh bảo hiểm số 08/2022/QH15, chưa chia cụ thé các loại sản phẩm BHSK như các luật trước đó. Trên thị tường BHSK Việt Nam hiện nay, thường chia BHSK dựa trên các tiêu chí sau: - Phân loại theo rủi ro/sự kiện bảo hiểm: BH tai nạn; BH ốm đau; BH mat khả năng lao động; BH chăm sóc dài hạn; BH bệnh hiểm nghèo - Phân loại theo phương thức bảo hiểm: BHSK công và BHSK thương mại (BHSK bắt buộc và BHSK tự nguyện) - Phân loại theo tính chat chi phí và ton thất phat sinh: BH chi phí y tế; BH tai nạn con người; BH chăm sóc dài hạn. Theo Chứng khoán VNDirect, BHSK vốn có xu thế tăng trưởng nhanh hơn các nhóm nghiệp vụ khác trong những năm gần đây, với mức tăng trưởng kép là 22,5% so với toàn ngành là 13,2% trong giai đoạn 2015-2019.
Theo Niên giám bảo hiểm năm 2021, doanh thu phí nghiệp vụ bảo hiểm sức khoẻ đạt 18.954 tỷ đồng và chiếm tỉ trọng lớn nhất (32,05%) trong cơ cau doanh thu phí bảo hiểm gốc của thị trường. Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam đã thống kê trong 9 tháng đầu năm 2022, doanh thu BHSK đã đạt 16.347 tỷ đồng chiếm tỷ trọng 32.5% so với cùng kỳ. Từ những con số trên, chứng tỏ rằng BHSK đã và đang chiếm một phần quan trọng trong mảng bảo hiểm sức khoẻ phi nhân thọ và đồng thời cũng cho thấy, người tiêu dùng đã nhận thấy được ý nghĩa và tầm quan trọng của BHSK đối với cuộc sống của họ. Trước tình hình dịch bệnh và nhiều thiên tai xảy ra như hiện nay, sản phẩm BHSK đang rất có tiềm năng dé phát triển và mang lại lợi nhuận.
Sự cần thiết khách quan, khái niệm và vai trò của bảo hiểm sức khoẻ 1. Sự cần thiết khách quan của bảo hiểm sức khoẻ Theo Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc (UNFPA), dân số Việt Nam năm 2022 đạt khoảng 99,5 triệu dân, đứng thứ 3 trong khu vực Đông Nam Á và nằm trong top 15 quốc gia đông dân nhất thế giới. Bên cạnh đó, Việt Nam là một trong các quốc gia có tốc độ già hóa dân số nhanh nhất thế giới. Theo dự báo dân số của Tổng cục Thống kê, Bộ Kế hoạch và Đầu tư dựa trên kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở 2019, tỷ trọng dân số từ 60 tuổi trở lên sẽ tăng từ 11,9% lên 16,53% năm 2029; 20,67% năm 2039; 24,88% năm 2049; 27,01% năm 2059 và tới 27,11% năm.
Đến năm 2036, Việt Nam bước vào thời kỳ dân số già, chuyền từ xã hội “già hóa” sang xã hội “già”. Với dân số đông và cơ cau như vậy, Nhà nước luôn đặc biệt quan tâm đến đời sống người dân, luôn coi con người là trung tâm của sự phát triển, chú trọng đến công tác giáo dục đảo tạo, chăm lo sức khỏe cho thế hệ trẻ; tiếp đến là quan tâm đến đời sống của người lao động, tạo môi trường làm việc an toàn, bình đăng, thuận lợi cho người lao động cũng như nỗ lực én định cuộc sống cả về vật chất lẫn tinh thần cho họ; đến khi về già, Nhà nước cũng có những chính sách đặc biệt nhằm giúp người dân đảm bảo về tài chính, sức khỏe. Dé thực hiện được những điều đó, Nhà nước ta đã triển khai rất nhiều chủ trương chính sách, trong đó phải kê đến hệ thong Bảo hiểm xã hội và Bảo hiểmy tế. Với việc đóng góp một khoản tiền nhỏ hàng tháng, hàng năm trong suốt thời gian đi học, đi làm, người tham gia bảo hiểm có thé nhận được sự trợ giúp khi gặp biến cố rủi ro, khi bệnh tật đau ốm, thai sản, hoặc tai nạn.
Tuy nhiên, hệ thống BHXH và BHYT vẫn còn tồn tại những hạn chế và sự ra đời của Bảo hiểm sức khỏe giúp khắc phục những mặt chưa đạt được của BHYT và BHXH. Xét về Bảo hiểm xã hội: Khi người lao động phát sinh yêu cầu thì thủ tục còn phức tạp, bên cạnh đó, mức trợ cấp thấp, sỐ ngày được trợ cấp thì hạn chế. Về BHYT, BHSK khắc phục một số hạn chế của BHYT, hướng đến sự bảo vệ toàn diện cho người tham gia, hỗ trợ Nhà nước nâng cao đời sống an sinh xã hội. So với BHYT, BHSK có phạm vi quyền lợi rộng hơn, đa dạng hơn và người tham gia được quyền lựa chọn sản phẩm phủ hợp với nhu cầu.
Hình thức bảo hiểm ở đây chủ yếu là tự nguyện. Nếu như trong BHYT hạn mức trách nhiệm là từ 40- 100% tiền viện phí (Điều 22 Luật Bảo hiểm y tế sửa đôi, bổ sung 2014) và chi trả tối đa 45 lần tháng lương cơ sở (Công văn 1661/BHXH-DVT) thì hạn mức trách nhiệm trong BHSK có thể lên đến hàng tỷ đồng, tỷ lệ với mức phí đóng. Con người luôn phải đối mặt với những rủi ro biến có, những tai nạn có thé xảy ra bất cứ lúc nào mà không lường trước được. Bệnh tật, đau ốm luôn rình rập trong đó có cả những quy luật sinh học tất yếu dién ra như thai sản, tudi gia cũng là những yếu tố gây mat én định trong cuộc sống.
Nếu không được chữa trị kịp thời, được trợ giúp một cách thiết thực, có thé ảnh hưởng rất lớn về sức khỏe thé chất lẫn tinh thần. Cuộc sống của chúng ta càng ngày càng phát triển hơn, hiện đại hơn đi kèm với đó là hệ luy của van dé ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu, thiên tai gây ra rất nhiều loại bệnh tật mới đe dọa sức khỏe và tính mạng của con người. Và minh chứng rõ rệt nhất cho sự tàn phá của dịch bệnh là virus corona. Suốt từ cuối năm 2019 đến nay, cả thế giới đã và đang hứng chịu, khắc phục những hậu quả dé lại của đại dịch COVID-19.
Trong khi đó, những chi phí khám chữa bệnh, thuốc men, điều trị là một gánh nặng tài chính không nhỏ đối với người gặp rủi ro cũng như gia đình họ, nhất là khi đó lại là người trụ cột trong gia đình.