Chương 1. Cơ sở lý luận chung về hoạt động thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Thực trạng thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn thành phố Hải Phòng. Giải pháp tăng cường thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn thành phố Hải Phòng.
CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI 1. Một số khái niệm 1. Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, các quốc gia ngày càng nhận thức rõ vai trò quan trọng của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) trong việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế. Vốn FDI không chỉ bổ sung nguồn lực tài chính cho các quốc gia mà còn mang lại những lợi ích thiết thực khác như công nghệ tiên tiến, kỹ năng quản lý và kinh nghiệm quốc tế.
Những yếu tố này đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao năng suất, cải thiện chất lượng cuộc sống và tạo ra nhiều cơ hội việc làm. FDI đã được định nghĩa bởi nhiều tổ chức quốc tế và quốc gia khác nhau. Theo Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO): “Đầu tư trực tiếp nước ngoài xảy ra khi một NĐT từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó. Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác.
Trong phần lớn trường hợp, cả NĐT lẫn tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh. Trong những trường hợp đó, NĐT thường hay được gọi là “công ty mẹ” và các tài sản được gọi là “công ty con” hay “chi nhánh công ty”” (WTO, 1996). Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) cũng đưa ra khái niệm về FDI, định nghĩa đây là một khoản đầu tư lâu dài, cụ thể: Một khoản đầu tư với những quan hệ lâu dài, theo đó một tổ chức trong một nền kinh tế (NĐT trực tiếp) thu được lợi ích lâu dài từ một doanh nghiệp đặt tại một nền kinh tế khác. Mục đích của NĐT trực tiếp là muốn có nhiều ảnh hưởng trong việc quản lý doanh nghiệp đặt tại nền kinh tế khác đó” (IMF, 1993).
Mục tiêu của nhà đầu tư là có ảnh hưởng đáng kể đến việc quản lý doanh nghiệp nhận đầu tư. IMF làm rõ rằng quyền quản lý không nhất thiết phải kiểm soát toàn bộ doanh nghiệp mà chỉ cần nắm giữ ít nhất 10% cổ phần hoặc quyền biểu quyết tại doanh nghiệp đó. Hội nghị Liên Hiệp Quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD) cũng nhấn mạnh khái niệm FDI dựa trên lợi ích và sự kiểm soát lâu dài của nhà đầu tư từ một quốc gia đối với một công ty ở quốc gia khác, cụ thể: “FDI là việc đầu tư dài hạn gắn liền với lợi ích 1 và sự kiểm soát lâu dài của một chủ thể đầu tư ở một quốc gia này (nhà ĐTNN hay công ty mẹ) vào một công ty ở một quốc gia khác (công ty có vốn FDI hay công ty con)” (UNCTAD, 2013). UNCTAD không yêu cầu tỷ lệ cổ phần tối thiểu mà tập trung vào mối quan hệ dài hạn và sự kiểm soát của nhà đầu tư đối với doanh nghiệp nhận đầu tư.
Tại Việt Nam, theo Luật Đầu tư năm 2005, đầu tư được định nghĩa là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản và thực hiện các hoạt động đầu tư theo quy định của pháp luật. Luật Đầu tư sửa đổi, bổ sung năm 2014 và Luật Đầu tư sửa đổi, bổ sung năm 2020 đã cập nhật khái niệm “tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài,” bao gồm các tổ chức kinh tế mà nhà đầu tư nước ngoài là thành viên hoặc cổ đông. Do đó, đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam được hiểu là việc nhà đầu tư nước ngoài thực hiện đầu tư thông qua việc thành lập tổ chức kinh tế, góp vốn, mua cổ phần, hoặc thực hiện dự án đầu tư dài hạn để nắm quyền điều hành và tham gia vào hoạt động kinh doanh của tổ chức đó. Tóm lại, kết hợp những khái niệm và quan điểm từ các tổ chức quốc tế và quy định pháp luật trong nước, chúng ta có thể hiểu rằng đầu tư trực tiếp nước ngoài là hình thức đầu tư mà nhà đầu tư nước ngoài thực hiện các hoạt động kinh doanh tại một quốc gia khác với mục đích lâu dài, bao gồm việc thành lập doanh nghiệp mới, góp vốn, mua cổ phần, hoặc thực hiện các dự án đầu tư để giành quyền điều hành và tham gia vào quản lý doanh nghiệp nhận đầu tư.
Đặc điểm của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài là vốn đầu tư phát triển dài hạn. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài gắn liền với việc xây dựng các cơ sở, chi nhánh SXKD tại nước tiếp nhận đầu tư thông qua thành lập doanh nghiệp mới, mua lại toàn bộ hoặc từng phần doanh nghiệp đang hoạt động hoặc sáp nhập các doanh nghiệp với nhau (OECD, 1996). Do FDI là hình thức đầu tư có tính vật chất ở nước nhận đầu tư nên không dễ rút đi trong một thời gian ngắn như đầu tư gián tiếp (hình thức đầu tư có thu nhập thông qua việc mua bán chứng khoán cổ phiếu hoặc trái phiếu…). Vì thế, vốn FDI là vốn đầu tư phát triển dài hạn và đây cũng được xem là điểm khác biệt cơ bản giữa đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp.
FDI chủ yếu là đầu tư tư nhân với mục đích hàng đầu là tìm kiếm lợi nhuận. Theo cách phân loại đầu tư nước ngoài của nhiều tài liệu và theo quy định của pháp luật nhiều 2 quốc gia, FDI là đầu tư tư nhân. Tuy nhiên, luật pháp của một số nước (ví dụ như Việt Nam) quy định, trong trường hợp đặc biệt FDI có thể có sự tham gia góp vốn nhà nước. Dù chủ thể là tư nhân hay nhà nước, cũng cần khẳng định FDI có mục đích ưu tiên hàng đầu là lợi nhuận.
Các nước nhận đầu tư, nhất là các nước đang phát triển phải đặc biệt lưu ý điều này khi tiến hành thu hút FDI. Các nước tiếp nhận vốn FDI cần phải xây dựng cho mình một hành lang pháp lý đủ mạnh và các chính sách thu hút FDI hợp lý để hướng FDI vào phục vụ cho các mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội của nước mình, tránh tình trạng FDI chỉ phục vụ cho mục đích tìm kiếm lợi nhuận của các chủ đầu tư. Tỉ lệ góp vốn của các chủ đầu tư sẽ quy định quyền và nghĩa vụ của mỗi bên, đồng thời lợi nhuận và rủi ro cũng được phân chia dựa vào tỉ lệ này. Các chủ đầu tư nước ngoài phải đóng góp một tỉ lệ vốn tối thiểu trong vốn pháp định hoặc vốn điều lệ tùy theo quy định của luật pháp từng nước để giành quyền kiểm soát hoặc tham gia kiểm soát doanh nghiệp nhận đầu tư.
Các nước thường quy định không giống nhau về vấn đề này. Luật pháp của Mỹ quy định tỉ lệ là 10%, Pháp và Anh là 20%, Việt Nam theo Luật Đầu tư sửa đổi năm 2020 không phân biệt giữa đầu tư trực tiếp và gián tiếp mà gọi chung là "hoạt động đầu tư kinh doanh" nhưng nhà đầu tư nước ngoài được sở hữu không quá 50% vốn điều lệ trong các doanh nghiệp có điều kiện tiếp cận thị trường hạn chế, trừ các trường hợp theo quy định riêng của luật pháp. Còn theo quy định của OECD (1996) thì tỉ lệ này là 10% các cổ phiếu thường hoặc quyền biểu quyết của doanh nghiệp - mức được công nhận cho phép nhà đầu tư nước ngoài tham gia thực sự vào quản lý doanh nghiệp. Chủ đầu tư tự quyểt định đầu tư, quyết định sản xuất kinh doanh và tự chịu trách nhiệm về lỗ, lãi.
Hình thức này mang tính khả thi và hiệu quả kinh tế cao, không có những ràng buộc về chính trị. Thu nhập của chủ đầu tư phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của doanh nghiệp mà họ bỏ vốn đầu tư, nó mang tính chất thu nhập kinh doanh mà không phải lợi tức. Vốn FDI không phải hoàn trả nợ, không tạo gánh nặng nợ quốc gia và không có những ràng buộc về chính trị khác tại nước sở tại. Đầu tư trực tiếp nước ngoài có đặc điểm cơ bản khác với nguồn vốn ĐTNN khác là việc tiếp nhận nguồn vốn này không có những ràng buộc về chính trị và không phát sinh nợ cho nước tiếp nhận đầu tư (Đặng Thành Cương, 2012).
Mặc dù, vốn FDI vẫn chịu sự chi phối của chính phủ nhưng ít bị lệ thuộc vào mối quan hệ chính trị giữa hai bên do FDI là hình thức đầu tư bằng vốn tư nhân và 3 hoạt động với mục đích cơ bản là lợi nhuận, bên nước ngoài trực tiếp tham gia vào hoạt động quản lý và vận hành. Theo đó, đầu tư trực tiếp nước ngoài tránh cho quốc gia tiếp nhận những ràng buộc phải đánh đổi về chính trị, quân sự và đặc biệt không để lại hậu quả nợ nần cho nền kinh tế nước chủ nhà. Tuy nhiên, một quốc gia vẫn có thể gặp nhiều rủi ro nếu quá phụ thuộc vào nguồn vốn bên ngoài này, vì thế chỉ nên xem FDI như nguồn vốn bổ sung cho nguồn lực còn thiếu hụt trong nước. FDI thường kèm theo chuyển giao công nghệ (CGCN) cho các nước tiếp nhận đầu tư.
Thông qua hoạt động FDI, các doanh nghiệp FDI có thể chuyển giao máy móc, thiết bị, bằng phát minh, sáng chế, bí quyết kĩ thuật, cán bộ quản lý. vào nước nhận đầu tư để thực hiện dự án. Ví dụ trong lĩnh vực bưu chính viễn thông của Việt Nam, hầu hết các công nghệ mới trong lĩnh vực này có được là nhờ CGCN từ nước ngoài. Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài Căn cứ quy định tại Điều 21 Luật Đầu tư 2020 thì các hình thức đầu tư của doanh nghiệp FDI tại Việt Nam bao gồm: - Thành lập tổ chức kinh tế 100% vốn của nhà đầu tư nước ngoài.
Hình thức doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là hình thức truyền thống và phổ biến của FDI. Với hình thức này, các nhà đầu tư, cùng với việc chú trọng khai thác những lợi thế của địa điểm đầu tư mới, đã nỗ lực tìm cách áp dụng các tiến bộ khoa học công nghệ, kinh nghiệm quản lý trong hoạt động kinh doanh để đạt hiệu quả cao nhất. Hình thức này phổ biến ở quy mô đầu tư nhỏ nhưng cũng rất được các nhà đầu tư ưa thích đối với các dự án quy mô lớn.