CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VE THU HUT DAU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO NGÀNH CÔNG NGHỆ THONG TIN -TRUYEN THÔNG 1.1 Cơ sở lý luận về đầu tư trực tiếp nước ngoài 1.1 Khái niệm về đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) Theo định nghĩa của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) (1997): “Đầu tư trực tiếp nước ngoài là hoạt động đầu tư cho các doanh nghiệp hoạt động trong một nền kinh tế khác nhăm thu được lợi ich lâu dài. Trong một nền kinh tế khác với nền kinh tế của nước sở tại, nhà đầu tư có quyền thực hiện quản lý doanh nghiệp.” Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD)," đầu tư trực tiếp là đầu tư được thực hiện để thiết lập hệ thống liên kết lâu dài với doanh nghiệp, đặc biệt là những mối quan hệ có hình ảnh hưởng đến hoạt động quản lý của doanh nghiệp theo nhiều cách ”. Theo Ngân hàng Thế giới (WB): “FDI là dong vốn đầu tư vào một quốc gia, do đó nhà đầu tư có quyền Công ty quản lý lâu dài (nếu nắm giữ ít nhất 10% cổ phan pho thông. Trong nền kinh tế khác Hoạt động trong cơ thé (đối với nhà đầu tư).” FDI (Foreign Direct Investment) được hiểu là đầu tư trực tiếp từ nước ngoài, hình thức đầu tư vốn có thời hạn tương đối dài của cá nhân, t6 chức hay công ty của quốc gia này vào quốc gia khác băng việc thiết lập các cơ sở sản xuất, kinh doanh.
Xuất hiện vào thế ki XXI, nguồn vốn này đóng vai trò vô cùng quan trọng với các quốc gia có nền kinh tế đang phát triển. Từ những khái niệm trên có thé hiểu khái quát về FDI như sau: “FDI là hình thức chủ đầu tư nước ngoài đầu tư toàn bộ hoặc một phần đủ lớn vốn vào các dự án nhăm đạt mục tiêu giành quyên vận hành và quản lý đôi tượng nhận 19 đầu tư mà họ bỏ vốn”. Mà bản chất của nó là sự đi chuyên một khối lượng nguồn vốn kinh doanh dài hạn giữa các quốc gia nhằm thu lợi nhuận cao hơn. Đặc điểm của đầu tư trực tiếp nước ngoài Một là, FDI mặc dù vẫn chịu sự chi phối của Chính phủ, nhưng nó ít bị lệ thuộc hơn vào quan hệ chính trị giữa các bên nếu so sánh với các hình thức vốn nước ngoài khác như ODA, tín dụng quan hệ thương mại.
Hai là, FDI thiết lập quyền sở hữu về tư bản của công ty một nước ở một nước khác. Ba là, FDI kết hợp quyền sở hữu với quyền quản lý các nguồn vốn đã được đầu tư. Hình thức này mang tính khả thi và hiệu quả kinh tế cao, không có những ràng buộc về kinh tế, chính trị, không dé lại gánh nợ nần cho nền kinh tế. Bồn là, Thông qua dau tư trực tiếp nước ngoài nước tiếp nhận đầu tư có thê tiếp nhận công nghệ, kỹ thuật tiên tiến, học hỏi kinh nghiệm quản lý.
là những mục tiêu mà những hình thức đầu tư khác không có được. Năm là, FDI liên quan đến việc mở rộng thị trường của các công ty đa quốc gia và sự phát triển của thị trường tài chính quốc tế, thương mại quốc tế. Tóm lại, mục đích cuối cùng của FDI là lợi nhuận, là khả năng sinh lời cao hơn khi sử dụng đồng vốn ở nước bản địa. Bản chất của FDI là mục đích kinh tế được đặt lên hàng đầu.
Thông qua FDI, các chủ đầu tư tránh được thuế và những bất lợi các nước áp dụng cho hàng hóa nhập khẩu. Với ưu thế về kỹ năng quản lí đặc biệt, khả năng tài chính cũng như lợi thế về quy mô, các nhà đầu tư hoàn toàn có khả năng thu lợi nhuận, duy trì kiểm soát, cũng như dành các lợi ích phục vụ cho mục đích của họ. Việc thâm nhập vào các thị trường đa dạng cũng giúp họ phát triển lợi nhuận hoặc san sẻ rủi ro giữa các thị trường. Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài Theo Luật Đầu tư nước ngoài của Việt Nam năm 2005 bổ sung theo nghị quyết số 51/2010/QH10 ngày 25 tháng 12 năm 2011 của Quốc Hội khóa X, kỳ họp thứ 10, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Việt Nam gồm có 4 hình thức sau: 1.1 Doanh nghiệp liên doanh Doanh nghiệp liên doanh là một tô chức kinh doanh quốc tế do hai bên hoặc nhiều bên hợp tác thành lập trên cơ sở hợp đồng liên doanh hoặc hiệp định ký giữa Chính phủ nước chủ nhà và Chính phủ nước ngoài, hoặc doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hợp tác với doanh nghiệp nước chủ nhà, do doanh nghiệp liên doanh hợp tác với nhà đầu tư nước ngoài trên cơ sở hợp đồng liên doanh.
Đây là hình thức đầu tư mang lại nhiều lợi ích cho nhà đầu tư trong và ngoài nước. Đối với nhà đầu tư trong nước: có điều kiện tiếp cận công nghệ hiện đại, trình độ quản lý tốt. Đối với nhà đầu tư nước ngoài: không bỡ ngỡ với môi trường pháp lý, đầu tư. Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là loại hình doanh nghiệp thuộc sở hữu của NDTNN, có thé là tư nhân hoặc tổ chức nước ngoài, do NDTNN thành lập tại nước tiếp nhận đầu tư, tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động kinh doanh của mình.
Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài thường được thành lập dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH). Tài sản của doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài thuộc về cá nhân, tổ chức nước ngoài nên họ có quyền quyết định bộ máy quản lý, điều hành doanh nghiệp. Mô hình tổ chức của doanh nghiệp 100% vốn nước ngoai là do nhà đầu tư nước ngoài tw lựa chọn. Nhà đầu tư nước ngoai tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh 21 của doanh nghiệp.
Phần kết quả kinh doanh của doanh nghiệp sau khi hoàn thành nghĩa vụ tài chính với nước sở tại là sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài. Nhà dau tư nước ngoài tự quyết định các van đề trong doanh nghiệp và các van đề liên quan dé kinh doanh đạt hiệu quả cao nhất trong khuôn khổ luật pháp cho phép.3 Hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh Đây là hình thức mà một bên là chủ đầu tư nước ngoài và một bên là chủ đầu tư trong nước ký kết văn bản để tiến hành một hay nhiều hoạt động sản xuất kinh doanh ở nước chủ nhà trên cơ sở quy định về trách nhiệm và phân phối kết quả hoạt động kinh doanh mà không thành lập một công ty, xí nghiệp hay không hình thành pháp nhân mới nao. Việc quản lý thực hiện hợp đồng kinh doanh được giao cho một bên đối tác. Trong quá trình kinh doanh các bên hợp doanh có thê hình thành ban điều phối để theo dõi, giám sát việc thực hiện hợp đồng hợp tác kinh doanh.
Hình thức hợp doanh không phân phối lợi nhuận và chia sẻ rủi ro mà phân chia kết quả kinh doanh chung. Các bên hợp doanh thực hiện nghĩa vụ tải chính đối với nước sở tại một cách riêng TẼ.4 Các hình thức BTO, BOT, BT - Hợp đồng xây dựng - kinh doanh - chuyên giao (BOT) là hình thức đầu tư nước ngoài dựa trên cơ sở văn bản được ký kết giữa cơ quan nhà nước có thấm quyền và nhà đầu tư dé xây dựng, kinh doanh công trình kết câu hạ tang trong một thời hạn nhất định; hết thời han, nhà đầu tư chuyền giao không bồi hoàn công trình đó cho Nhà nước sở tại. - Hợp đồng xây dựng - chuyên giao - kinh doanh (BTO) là hình thức đầu tư nước ngoài dựa trên cơ sở văn bản được ký kết giữa cơ quan nhà nước có thâm quyền va nhà đầu tư dé xây dựng công trình kết cấu hạ tang; sau khi 22 xây dựng xong, nhà đầu tư chuyển giao công trình đó cho Nhà nước sở tại; Chính phủ dành cho nhà đầu tư quyền kinh doanh công trình đó trong một thời hạn nhất định đề thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận. - Hợp đồng xây dựng - chuyền giao (BT) là hình thức đầu tư nước ngoài dựa trên cơ sở văn bản được ký kết giữa cơ quan nhà nước có thâm quyên và nhà đầu tư dé xây dựng công trình kết cấu hạ tang; sau khi xây dựng xong, nhà đầu tư chuyền giao công trình đó cho Nhà nước sở tại; Chính phủ tạo điều kiện cho nhà đầu tư thực hiện dự án khác dé thu hồi vốn dau tư và lợi nhuận hoặc thanh toán cho nhà đầu tư theo thoả thuận trong hợp đồng BT.
Hiện nay ở Việt Nam áp dụng chủ yếu ba hình thức là hợp đồng hợp tác kinh doanh, doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài. Tác động của FDI 1. Đối với nước dau tư a. Tác động tích cực Trình độ phát triển không đồng đều của các nước trên thế giới đã gây ra sự khác biệt về điều kiện đầu vao sản xuất và giá cả.
Do đó, đầu tư nước ngoài được phép sử dụng lợi thế nhận vốn dé giảm chi phí sản xuất, nước đầu tư có thể giảm giá thành sản phẩm và giảm chi phí vận chuyển hàng nhập khâu thay thế do nước sở tại sản xuất, do đó nâng cao hiệu qua sử dụng vốn đầu tư và tăng vốn đầu tư, chỉ phí, tỷ suất lợi nhuận. Phần lớn các công ty có vốn đầu tư nước ngoài chỉ hoạt động với tư cách là chi nhánh của công ty mẹ. Do đó, việc xây dựng các nhà máy sản xuất, chế tạo hoặc lắp ráp tai nước so tai về ban chất chi nhằm mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm và phụ tùng của công ty mẹ tại nước sở tại. Đây là một biện pháp hữu hiệu để giúp các nhà đầu tư gia nhập thị trường của một 23 quốc gia và tránh các rào cản bảo hộ thương mại, đặc biệt là tại các thị trường của các quốc gia đang phát triển.
Có thê nói, FDI giúp nhà đầu tư mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, tăng cường bành trướng sức mạnh kinh tế và vai trò ảnh hưởng trên thế giới. Tìm kiếm được nguồn cung cấp nguyên, nhiên liệu vật liệu én định. Bên cạnh các dự án đầu tư hướng thị trường hoặc hướng chỉ phí thì cũng có những dự án nhằm mục tiêu nguyên liệu. Hiện nay, các nước đang phát triển đều nỗ lực bảo vệ tài nguyên của mình.
Vậy thì đầu tư trực tiếp nước ngoài là biện pháp hữu hiệu nhất của các công ty có được nên tảng vốn nghiên cứu với giá rẻ và thu lợi nhuận cao. Chuyển giao công nghệ hợp ly, thay đổi cơ cấu sản phẩm, nâng cao năng lực cạnh tranh.