Chương 1: Những vấn đề cơ bản về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của doanh nghiệp Việt Nam. Chương 2: Thực trạng đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Tập đoàn Viễn thông quân đội Viettel giai đoạn 2011-2015. Chương 3: Giải pháp tăng cường đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Tập đoàn Viễn thông quân đội Viettel đến năm 2020. 14 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP RA NƢỚC NGOÀI CỦA DOANH NGHIỆP VIỆT NAM 1.1 Tổng quan về đầu tƣ trực tiếp ra nƣớc ngoài của doanh nghiệp Việt Nam.1 Khái niệm đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của doanh nghiệp “Khái niệm về đầu tƣ: là tập hợp các hoạt động bỏ vốn và sử dụng vốn theo một chương trình đã được hoạch định trong một khoảng thời gian tương đối dài nhằm thu được lợi ích lớn hơn cho các nhà đầu tư, cho xã hội và cộng đồng.” “ Khái niệm về đầu tƣ trực tiếp (FDI): chủ đầu tư thực hiện đầu tư toàn bộ hoặc một phần vốn đủ lớn vào các dự án nhằm giành quyền điều hành và trực tiếp quản lý đối tượng mà họ bỏ vốn.” “ Khái niệm về đầu tƣ trực tiếp ra nƣớc ngoài: Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài hiện nay được quy định tại Luật Đầu tư 2014, Nghị định 83/2015/NĐ-CPngày 25/9/2015 của Chính phủ và Quyết định 236/QĐ-TTg ngày 20/02/2009 của Thủ tướng phê duyệt Đề án “Thúc đẩy đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài” và một số văn bản của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và các Bộ ngành hữu quan về quản lý ngoại hối và các vấn đề liên quan đến đầu tư trực tiếp ra nước ngoài.” “Theo đó “Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài trong khuôn khổ quy định và luật pháp Việt Nam hiện hành là việc nhà đầu tư chuyển vốn; hoặc thanh toán mua một phần hoặc toàn bộ cơ sở kinh doanh; hoặc xác lập quyền sở hữu để thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh ngoài lãnh thổ Việt Nam; đồng thời trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư đó.2 Đặc điểm đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của doanh nghiệp Việt Nam “Ngoài các đặc điểm vốn có của hoạt động đầu tư, hoạt động này có thêm những đặc điểm khác biệt như: .” 15 “ Hình thức đầu tư này được thực hiện bằng vốn của tư nhân hoặc tổ chức kinh tế nước ngoài do các chủ đầu tư có toàn quyền quyết định đầu tư và tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh theo nguyên tắc: “lời ăn lỗ chịu”.
Ngoài sự lưu chuyển của vốn còn có thêm sự luân chuyển công nghệ giữa nước đầu tư và nước tiếp nhận đầu tư.” “Các nhà đầu tư phải đóng góp một lượng vốn tối thiểu vào vốn pháp định để có quyền trực tiếp tham gia điều hành và quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh tại nước nhận đầu tư. Mức độ góp của nguồn vốn tùy theo quy định của từng quốc gia tiếp nhận.” “Quyền kiểm soát của nhà đầu tư ở nước ngoài phụ thuộc vào tỷ lệ vốn góp. Nếu góp 100% vốn thì quyền điều hành hoàn toàn phụ thuộc vào nhà đầu tư nước ngoài còn nếu thành lập liên doanh thì chủ đầu tư nước ngoài tham gia điều hành tùy theo mức độ vốn góp của mình.” “Dựa trên kết quả sản xuất kinh doanh, lợi nhuận được phân chia dựa theo tỷ lệ vốn góp trong vốn pháp định sau khi đã trừ đi các khoản phải đóng góp khác.” “Hoạt động này thường mang tính rủi ro cao, thời gian thu hồi vốn lâu và khó thu hồi vốn hơn đầu tư gián tiếp do phần lớn vốn đầu tư nằm trực tiếp trong máy móc nhà xưởng tại các nước nhận đầu tư.3 Các hình thức đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của doanh nghiệp Việt Nam Thành lập tổ chức kinh tế 100% vốn của nhà đầu tư nước ngoài Là doanh nghiệp do chủ đầu tư nước ngoài bỏ hoàn toàn vốn ra thành lập, tự quản lý và chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh.” “Ưu điểm: nước sở tại không cần bỏ vốn, tránh được những rủi ro trong kinh doanh. Mặt khác, do độc lập về quyền sở hữu nên doanh nghiệp nước ngoài có thể chủ động đầu tư công nghệ mới nhằm đạt hiệu quả cao trong sản xuất kinh doanh.” Nhược điểm là nước sở tại khó tiếp nhận được kinh nghiệm quản lý và công nghệ, khó kiểm soát được đối tác đầu tư nước ngoài.” 16 Doanh nghiệp liên doanh “ Doanh nghiệp liên doanh là doanh nghiệp được thành lập do một hay nhiều chủ đầu tư nước ngoài góp chung vốn với doanh nghiệp tại nước sở tại trên cơ sở hợp đồng liên doanh.” Ưu điểm: nước sở tại vừa tranh thủ được nguồn vốn lớn phát triển kinh tế vừa chia sẻ được rủi ro.
Bên cạnh đó, hình thức này là công cụ giúp chủ đầu tư thâm nhập vào thị trường nước ngoài một cách hiệu quả, tạo thị trường mới nhanh chóng .” Nhược điểm: dễ xuất hiện mâu thuẫn trong quản lý và điều hành doanh nghiệp do các bên có sự khác nhau về chế độ chính trị, ngôn ngữ, luật pháp.” Đầu tư theo hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC) “Hợp đồng hợp tác kinh doanh là hình thức đầu tư được ký giữa các nhà đầu tư nhằm hợp tác kinh doanh phân chia lợi nhuận, phân chia sản phẩm mà không thành lập pháp nhân.” “Ưu điểm: giải quyết tình trạng thiếu vốn, công nghệ; tạo thị trường mới, bảo đảm được quyền điều hành dự án của nước sở tại. Tuy nhiên, nước sở tại không tiếp nhận được kinh nghiệm quản lý; công nghệ thường lạc hậu.” “Nhược điểm: do không thành lập pháp nhân riêng nên nhà đầu tư nước ngoài rất khó kiểm soát hiệu quả các hoạt động BCC.” Hình thức hợp đồng BOT, BTO, BT “BOT là hình thức đầu tư được thực hiện theo hợp đồng ký kết giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền ở nước sở tại và nhà đầu tư nước ngoài để xây dựng, kinh doanh công trình kết cấu hạ tầng trong một thời gian nhất định; hết thời hạn, nhà đầu tư chuyển giao không bồi hoàn công trình đó cho Nhà nước sở tại.” “BTO và BT là các hình thức phái sinh của BOT, theo đó quy trình đầu tư, khai thác, chuyển giao được đảo lộn trật tự.” “Ưu điểm: thu hút vốn đầu tư vào những dự án kết cấu hạ tầng, đòi hỏi lượng vốn lớn, thu hồi vốn trong thời gian dài, làm giảm áp lực vốn cho ngân sách nhà 17 nước sở tại. Đồng thời, nước sở tại sau khi chuyển giao có được những công trình hoàn chỉnh, tạo điều kiện phát huy các nguồn lực khác để phát triển kinh tế.” Nhược điểm: độ rủi ro cao, đặc biệt là rủi ro chính sách, nước chủ nhà khó tiếp nhận kinh nghiệm quản lý, công nghệ.4 Sự cần thiết tăng cường đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của doanh nghiệp Việt Nam + Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài giúp doanh nghiệp mở rộng thị trường. “Trong khi cầu thị trường trong nước có giới hạn thì việc ngày càng nhiều doanh nghiệp trong và ngoài nước gia nhập thị trường dưới bối cảnh toàn cầu hóa khiến cạnh tranh gia tăng gay gắt đồng thời dẫn đến việc bão hòa trong nghành nghề, lĩnh vực dịch vụ của doanh nghiệp.
Nếu không muốn bị cuốn đi trong vòng xoáy ấy thì doanh nghiệp nên tìm cho mình hướng đi mới mà tăng cường đầu tư trực tiếp ra nước ngoài chính là một xu hướng tất yếu trong cơ chế thị trường hiện nay. Rõ ràng đây là một cơ hội hiếm có để các nhà đầu tư Việt Nam hội nhập vào một đại dương rộng lớn hơn với những “chú cá khổng lồ” mang lại những cơ hội vàng cho sự phát triển bền vững của nền kinh tế nước nhà.” + Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài giúp doanh nghiệp viễn thông phân tán rủi ro trong đầu tư và kinh doanh “Rủi ro luôn luôn là người bạn đồng hành của bất cứ nhà đầu tư nào vì vậy “Không gom trứng vào một sọt” phân tán rủi ro là một trong những nguyên tắc hàng đầu trong kinh doanh. Nếu doanh nghiệp chỉ hoạt động kinh doanh trong nước, khi có những biến động lớn xảy ra như khủng hoảng kinh tế, bất ổn chính trị thì nền sản xuất cũng lao đao theo có nghĩa là rủi ro rất lớn. Nhưng khi các doanh nghiệp đã vươn mình ra thế giới, đầu tư vào nhiều nước hơn, đa dạng hóa các danh mục đi đầu tư, các sản phẩm và dịch vụ cung cấp nhằm thu được lợi nhuận, doanh nghiệp phát triển ổn định thì nguy cơ này cũng giảm thiểu có nghĩa là một cách phân tán rủi ro trong kinh doanh hiệu quả.
Chính vì thế mà các dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài hiện nay trên toàn cầu đang luân phiên rất nhanh chóng và mạnh mẽ.” 18 + Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài giúp nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường quốc tế “Đầu tư kinh doanh quốc tế luôn đòi hỏi doanh nghiệp phải đặt mình trong mối quan hệ cạnh tranh của thị trường quốc tế, luôn luôn tìm cách nâng cao trình độ công nghệ và năng suất lao động. Doanh nghiệp tham gia vào thị trường toàn cầu có nghĩa là tích lũy kinh nghiệm, học hỏi kiến thức và bí quyết công nghệ, sử dụng đội ngũ nhân lực bản xứ…. Tiếp thu và học hỏi là những kỹ năng quan trọng của tư duy giúp cho quá trình quản lý doanh nghiệp trở nên đồng bộ hơn, chất lượng nguồn nhân lực được nâng cao, chất lượng sản phẩm tốt hơn dẫn đến tăng sức cạnh tranh cho doanh nghiệp, tạo ra sức cạnh tranh mạnh mẽ trên thị trường. Sự đòi hỏi này buộc các doanh nghiệp phải tự hoàn thiện mình góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh trên trường quốc tế.” + Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài giúp doanh nghiệp nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực tài chính “Trong quá trình phát triển, khi việc tích lũy tư bản đến một mức nhất định thì các doanh nghiệp sẽ chủ động tìm kiểm để mở rộng sự phát triển sang các thị trường mới, tiềm năng hơn.
Doanh nghiệp sẽ tìm kiếm những cơ hội đầu tư tốt hơn, gia tăng lợi nhuận thông qua các lợi thế như nhân công giá rẻ, tranh thủ nguồn tài nguyên phong phú….Việc mở rộng đầu tư sẽ giúp doanh nghiệp quay vòng vốn đầu tư nhanh chóng so với các phương thức khác, nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực tài chính của doanh nghiệp.” + Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài giúp các doanh nghiệp phát triển nguồn vốn vô hình của mình “Nguồn lực trong doanh nghiệp bao gồm nguồn lực hữu hình và vô hình.