mở đầu và dẫn đầu tiêu biểu của nền thơ ca cách mạng. Sáu mươi năm gắn bó với hoạt động cách mạng và sáng tạo thơ ca, thơ ông đã thực sự tạo nên được niềm yêu mến, nỗi đam mê bền chắc trong lòng nhiều thế hệ độc giả. Ông là người đã đem đến cho công chúng và rồi cũng nhận lại được từ họ một sự đồng điệu, đồng cảm, đồng tình tuyệt diệu, đáng là niềm ao ước của mọi sự nghiệp thơ ca, kể cả những nhà thơ lớn cùng thời với ông. Tập thơ Từ ấy (1937 - 1946) là tập thơ đầu tay của Tố Hữu, gồm 71 bài, được chia làm ba phần, phản ánh rõ nét quá trình giác ngộ và trưởng thành của người chiến sĩ cộng sản trẻ tuổi.
Máu lửa gồm 27 bài, được sáng tác trong thời kỳ đấu tranh quyết liệt của Mặt trận Dân chủ (1936 - 1939), tập trung vào những vấn đề lớn của thời đại như chống phát xít, chống phong kiến, đòi hòa bình, cơm áo, vấn đề quyền sống con người và hô hào gọi mọi người sẵn sàng hi sinh cho sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc. Xiềng xích gồm 30 bài, được sáng tác trong nhà giam của thực dân (1939 - 1942), thể hiện nỗi buồn đau và ý chí, khí phách của người chiến sĩ cách mạng giữa chốn lao tù. Giải phóng gồm 14 bài, viết từ lúc vượt ngục đến một năm sau ngày độc lập (1942 - 1946), chủ yếu ngợi ca lý tưởng Cộng sản, bộc lộ quyết tâm đuổi giặc, cứu nước và niềm vui giành được độc lập. Tập thơ Việt Bắc (1947 - 1954), tập thơ gồm 24 bài thơ, được sáng tác chủ yếu trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp.
Nếu Từ ấy là khúc ca trữ tình sôi nổi, quyết liệt của một người thanh niên yêu nước vừa giác ngộ lý tưởng cách mạng thì Việt Bắc là bản đại hợp xướng về nhân dân trong kháng chiến. GVHD: Nguyễn Hoa Bằng 13 SVTH: Mai Thị Mảnh Thi pháp thơ Tố Hữu qua tập Việt Bắc Việt Bắc đánh dấu một bước phát triển, một chặng đường mới trong quá trình sáng tác của Tố Hữu. Cái tôi trữ tình đã thực sự hòa nhập vào cái ta chung của quần chúng cách mạng. Chất dân tộc nhuần thấm ở cả hai bình diện: nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật, góp phần làm nên giá trị đặc sắc của tập thơ.
Việt Bắc trước hết là bức tranh chân thực và sinh động về hiện thực cuộc kháng chiến: gian khổ, vất vả, thiếu thốn trăm bề mà chan chứa nghĩa tình (tình quân dân, tình đồng chí đồng bào, tình hữu ái giai cấp). Việt Bắc còn là khúc ca ngọt ngào về tình nghĩa và lòng thủy chung cách mạng. Thủy chung vốn là phẩm chất truyền thống, là yêu cầu hàng đầu trong những mối quan hệ riêng tư, cá nhân, gia đình (tình yêu, tình bạn bè, tình vợ chồng,…). Tập thơ Gió lộng (1955 - 1961), ra đời trong thời kì đất nước bị chia cắt, gồm 25 bài, Gió lộng tập trung vào hai mảng đề tài lớn: công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và phong trào đấu tranh chống Mỹ Ngụy để thống nhất đất nước ở miền Nam.
Gió lộng là khúc ca vui mừng cuộc sống mới, con người mới đang từng phút sinh sôi: “Gió lộng chứa đựng một niềm vui lớn, một niềm vui tràn đầy, trong trẻo, phơi phới không thể cưỡng được mà lại là một niềm vui có suy nghĩ, tỉnh táo và sáng suốt” (Hoài Thanh). Nhưng đó là niềm vui chưa trọn vẹn vì đồng bào miền Nam còn đang phải chịu cảnh nô lệ, lầm than. Vì thế, trong Gió lộng còn nung nấu một niềm căm uất trước tội ác man rợ của kẻ thù và quyết tâm sắt đá của cả dân tộc - giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Tập thơ Ra trận (1962 - 1971), gồm 31 bài, sáng tác trong 10 năm cả nước chống Mỹ.
Vốn là hồn thơ của yêu thương, nghĩa tình, Tố Hữu ao ước được sáng tác ngợi ca cuộc sống thanh bình. Nhưng khi miền Nam, rồi cả đất nước, chìm trong nước sôi lửa bỏng thì “Có thể nào yên,… có thể nào khuây…?”. Sáng tác theo đơn đặt hàng của hiện thực chiến tranh, thơ Tố Hữu lúc này là khúc ca ra trận, là mệnh lệnh tiến công để kêu gọi, cổ vũ dân tộc trong cuộc chiến đấu ở cả hai miền Nam Bắc. Tập thơ Máu và Hoa (1972 - 1977), gồm 13 bài, sáng tác trong 6 năm, có khuynh hướng tổng kết quá trình phát triển của cách mạng Việt Nam, đó là một hành trình đầy máu và đầy hoa: “Năm mươi năm máu đỏ thành hoa”.
Máu là biểu tượng của nỗi đau uất hận trong hàng nghìn năm nô lệ và sự hi sinh, xả thân vì nghĩa lớn. Hoa tượng trưng cho vẻ đẹp của lý tưởng cộng sản, của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và niềm vui ngày chiến thắng. Tập thơ Một tiếng đờn (1979 - 1992) gồm 72 bài, được giải thưởng về văn học của khối Asean (năm 1993). Tập thơ Ta với ta (1992 - 1999) tập hợp những sáng tác của Tố Hữu từ 1992 đến 1999.
GVHD: Nguyễn Hoa Bằng 14 SVTH: Mai Thị Mảnh Thi pháp thơ Tố Hữu qua tập Việt Bắc Một tiếng đờn và Ta với ta chứa đựng những suy tư, cảm xúc của nhà thơ trong thời hòa bình. Đề tài, chủ đề thơ phong phú, đa dạng hơn: ngợi ca vẻ đẹp của quê hương, con người Việt Nam; trăn trở trước công cuộc xây dựng đất nước đầy khó khăn, phức tạp; chiêm nghiệm về tình yêu và số phận con người. Đặc biệt, trong thơ Tố Hữu ở thời kỳ này xuất hiện những dòng thơ tình đắm say thể hiện sức sống mãnh liệt, bền bỉ của một trái tim giàu yêu thương. Tóm lại, con đường thơ của Tố Hữu luôn song hành với quá trình phát triển của cách mạng Việt Nam.
Bám thật chắc vào hiện thực đời sống, ở những khúc quanh, những bước ngoặc lịch sử quan trọng, hồn thơ Tố Hữu thường tỏ ra thích ứng rất nhanh nên cắm được nhiều cột mốc thơ đầy ý nghĩa. Giở trang thơ Tố Hữu, có thể nhận ra từng bước thăng trầm của đất nước và dân tộc trong suốt hơn nửa thế kỷ. Tố Hữu là người viết lịch sử Việt Nam hiện đại bằng thơ. Tố Hữu là hình ảnh tiêu biểu của một kiểu nhà thơ mới - nhà thơ trữ tình chính trị.
Giữa nhà thơ - chiến sĩ ấy và quần chúng nhân dân không có một khoảng gián cách không gian hoặc tâm tưởng nào. Nhưng không phải một sớm một chiều mà cái tôi trữ tình của Tố Hữu tìm được sự hòa hợp với đời sống. Cần một quá trình với nỗ lực không ngừng của bản thân và sự tiếp sức từ cuộc sống mới tốt đẹp, thơ Tố Hữu mới thực sự trở thành tiếng nói đồng ý, đồng tình, tiếng nói đồng chí. Giọng điệu thơ Tố Hữu có những chuyển biến rõ rệt để đạt đến sự hài hòa: nếu Từ ấy đến Máu và Hoa chủ yếu là hướng ngoại, thì ở hai tập còn lại màu sắc hướng nội đậm đà hơn, để lời thơ không chỉ có sức vang xa mà còn vọng sâu vào cõi lòng người.
Những đặc điểm chính của thi pháp thơ Tố Hữu 1. Thi pháp nhân vật Trong Thi pháp thơ Tố Hữu, Trần Đình Sử đã cho chúng ta thấy rõ quan niệm nghệ thuật về con người trong thơ của Tố Hữu. Thơ ca vô sản Việt Nam không phải khởi đầu từ Tố Hữu, nhưng phải đợi đến thơ Tố Hữu mới hình thành một quan niệm nghệ thuật mới về con người, đủ khơi một nguồn cảm hứng nghệ thuật mới (đừng lầm với “quan điểm nghệ thuật” tức là các chủ trương về nghệ thuật!). Thơ Tố Hữu là thơ trữ tình chính trị.
Con người trong thơ ấy căn bản là con người chính trị. Đó là hiện tượng hợp quy luật. Các nhà lý luận đã gọi nhân vật của thời đại chúng ta là con người chính trị. Con người chính trị trong thơ Tố Hữu đánh dấu một bước trưởng thành mới của con người Việt Nam trong thế giới hiện đại, từ con người yêu nước trung quân sang con người duy tân dân chủ, qua con người “phi chính trị” trong “thơ mới” đến con người chính trị kiểu mới, dưới sự lãnh đạo của giai cấp vô sản.
Trên nền thơ ca cách mạng vô sản, Tố Hữu đã thể hiện nổi bật, nhất quán một quan niệm nghệ thuật về con người chính trị Việt Nam trong thơ của ông - con GVHD: Nguyễn Hoa Bằng 15 SVTH: Mai Thị Mảnh Thi pháp thơ Tố Hữu qua tập Việt Bắc người giác ngộ quyền lợi giai cấp, dân tộc, tự giác trên con đường đấu tranh, vững tin ở tương lai, lý tưởng. Phát hiện về con người chính trị, Tố Hữu cho thấy tất cả khả năng cách mạng phong phú, tiềm tàng của con người Việt Nam trong cuộc đấu tranh giai cấp và phong trào giải phóng dân tộc hiện đại. Cần nhắc lại là con người chính trị là nhân vật của thời đại chúng ta. Những con người đa dạng từ Bác Hồ, người cán bộ, anh bộ đội, cho đến các cụ, các mẹ, các em, anh công nhân, chị hàng hoa… trong thơ Tố Hữu, đều là những con người chính trị.
Nghiên cứu thơ Tố Hữu, ta thấy các đặc điểm chung bền vững, nhà thơ không ngừng đổi mới và làm phong phú quan niệm nghệ thuật của ông về con người chính trị, góp phần làm đổi mới và phong phú cho thơ ca chính trị Việt Nam. Thi pháp không gian nghệ thuật Tố Hữu là nhà thơ xây dựng sắc nét hình tượng nghệ thuật về sự đối lập hai thế giới, hình tượng con đường cách mạng, đem vào thơ Việt Nam một không gian xã hội sôi động với những biến đổi lịch sử. Tố Hữu là nhà thơ cách mạng sớm có ý thức khái quát về đường đời, về thời đại, không dừng lại với việc thể hiện cảm xúc theo lối “tức cảnh”, “tức sự” thường thấy trong thơ ca cách mạng trong tù, cũng không thiên về thể hiện tâm trạng cá nhân như thơ ca lãng mạn. Ông là nhà thơ của thời đại đúng với ý nghĩa đích thực của từ này.
Ở Từ ấy, nhà thơ dựng lên sự đối lập hai thế giới như là trạng thái phổ biến của thời đại: Thế giới sung sướng và thế giới của đau buồn, ưu phiền; thế giới của tình thương, nhân tính, của cảm thông, tương tri, và thế giới mất nhân tính.