CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH CẤU TRÚC TÀI CHÍNH TRONG DOANH NGHIỆP 1. Khái quát chung về cấu trúc tài chính và phân tích cấu trúc tài chính doanh nghiệp 1. Khái niệm về cấu trúc tài chính và phân tích cấu trúc tài chính doanh nghiệp 1. Khái niệm về cấu trúc tài chính Cấu trúc tài chính của doanh nghiệp là một phạm trù phản ánh cấu trúc tài sản, cấu trúc nguồn vốn và mối quan hệ giữa tài sản và nguồn vốn trong doanh nghiệp, thể hiện cơ cấu nguồn vốn mà doanh nghiệp huy động để tài trợ cho tài sản của doanh ng hiệp (Đỗ Huyền Trang và Lê Mộng Huyền, 2021, tr.
Khái niệm về phân tích cấu trúc tài chính doanh nghiệp Phân tích cấu trúc tài chính (cấu trúc vốn) là tiến hành phân tích quy mô, kết cấu tài sản và nguồn vốn nhằm đánh giá sự hợp lý của cấu trúc tài chính, đồng thời có thể đánh giá ảnh hưởng của cấu trúc tài chính đến cân bằng tài chính, hiệu quả và rủi ro của doanh nghiệp (Đỗ Huyền Trang và Lê Mộng Huyền, 2021, tr. Mục đích, ý nghĩa, nhiệm vụ của phân tích cấu trúc tài chính doanh nghiệp 1. Mục đích của phân tích cấu trúc tài chính doanh nghiệp - Cung cấp những thông tin cần thiết cho các đối tượng bên ngoài doanh nghiệp như các nhà đầu tư, nhà cung cấp, ngân hàng và những người sử dụng khác để họ có thể ra quyết định về đầu tư, tín dụng và các quyết định kinh doanh. - Cung cấp những thông tin hiện tại và tương lai về tình hình tài chính của công ty cho chủ doanh nghiệp nắm bắt và phân bổ cơ cấu, quy mô tài sản hợp lý hiệu quả.
- Cung cấp thông tin về các nguồn lực kinh tế, vốn chủ sở hữu, các biến động vốn và mối quan hệ giữa tài sản và nguồn vốn của doanh nghiệp. Ý nghĩa của phân tích cấu trúc tài chính doanh nghiệp Qua việc phân tích cấu trúc tài chính và cân bằng tài chính, nhà phân tích sẽ nắm được tình hình phân bổ tài sản và các nguồn tài trợ tài sản. Những thông tin này là căn cứ quan trọng để nhà quản lý ra các quyết định điều chỉnh chính sách huy động và sử dụng vốn, bảo đảm cho doanh nghiệp có một cấu trúc tài chính lành mạnh, hiệu quả và tránh được rủi ro trong kinh doanh. Nhiệm vụ của phân tích cấu trúc tài chính doanh nghiệp Thứ nhất, thu thập các tài liệu để phục vụ cho quá trình phân tích.
Tài liệu phục 5 vụ cho quá trình phân tích chủ yếu là Bảng cân đối kế toán. Ngoài ra, nhà phân tích có thể kết hợp với số liệu trên Thuyết minh báo cáo tài chính, Báo cáo lưu chuyển tiền tệ và Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh. Thứ hai, xây dựng hệ thống chỉ tiêu phân tích và sử dụng các phương pháp phân tích thích hợp để đánh giá cấu trúc tài chính và cân bằng tài chính của doanh nghiệp. Thứ ba, đánh giá chính xác cấu trúc tài chính và cân bằng tài chính cũng như các nguyên nhân ảnh hưởng đến cấu trúc tài chính và cân bằng tài chính của doanh nghiệp.
Thứ tư, đưa ra các quyết định đúng đắn về việc huy động và sử dụng vốn nhằm đảm bảo cho doanh nghiệp có một cấu trúc tài chính lành mạnh. Nguồn tài liệu sử dụng trong phân tích cấu trúc tài chính doanh nghiệp 1. Bảng cân đối kế toán Bảng cân đối kế toán là báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh tổng quát toàn bộ giá trị tài sản hiện có và nguồn hình thành tài sản đó của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định. Phần tài sản của Bảng cân đối kế toán phản ánh toàn bộ giá trị tài sản hiện có của doanh nghiệp tại thời điểm lập báo cáo theo cơ cấu tài sản và hình thức tồn tại trong quá trình kinh doanh của doanh nghiệp.
Các loại tài sản được sắp xếp theo tính thanh khoản giảm dần. Phần nguồn vốn của Bảng cân đối kế toán phản ánh toàn bộ nguồn hình thành tài sản hiện có ở doanh nghiệp tại thời điểm lập báo cáo theo cơ cấu nguồn vốn. Các loại nguồn vốn được sắp xếp theo trách nhiệm của doanh nghiệp trong việc sử dụng nguồn vốn đối với chủ nợ và chủ sở hữu. Bên tài sản phản ánh quy mô, kết cấu các loại tài sản, bên nguồn vốn phản ánh cơ cấu tài trợ, cơ cấu vốn cũng như khả năng độc lập tài chính của doanh nghiệp.
Bảng cân đối kế toán có ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình phân tích cấu trúc tài chính của doanh nghiệp. Nhìn vào Bảng cân đối kế toán, nhà phân tích có thể nhận biết được loại hình doanh nghiệp, quy mô, mức độ tự chủ tài chính của doanh nghiệp. Bảng cân đối kế toán giúp cho nhà phân tích đánh giá được khả năng cân bằng tài chính, khả năng thanh toán và khả năng cân đối vốn của doanh nghiệp. Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh tổng quát tình hình và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp trong một thời kỳ (quý, năm) bao gồm kết quả hoạt động bán hàng và cung cấp dịch vụ, hoạt động tài chính và 6 hoạt động khác.
Những khoản mục được phản ánh trên báo cáo kết quả kinh doanh: doanh thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh thu từ hoạt động tài chính, doanh thu từ các hoạt động khác và các khoản chi phí tương ứng với các khoản doanh thu đó. Báo cáo kết quả kinh doanh cũng giúp cho nhà phân tích dễ dàng so sánh doanh thu, chi phí với số tiền thực nhập quỹ khi bán hàng hóa, dịch vụ và khoản chi phí, lãi lỗ trong năm để từ đó đánh giá tổng quát tình hình, kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong một thời kì. Thuyết minh báo cáo tài chính Bản thuyết minh báo cáo tài chính là báo cáo tài chính tổng hợp dùng để mô tả mang tính chất tường thuật hoặc phân tích chi tiết các thông tin số liệu đã được trình bày trong các báo cáo tài chính khác cũng như các thông tin cần thiết khác theo yêu cầu của chuẩn mực kế toán cụ thể. Các nguồn tài liệu khác Bên cạnh việc sử dụng nguồn tài liệu từ báo cáo tài chính, việc phân tích cấu trúc tài chính doanh nghiệp còn sử dụng nguồn thông tin khác nằm ngoài báo cáo tài chính.
Thứ nhất, thông tin về tình hình kinh tế: Cấu trúc tài chính của doanh nghiệp cũng chịu tác động bởi nhiều nhân tố thuộc môi trường vĩ mô nên khi phân tích cấu trúc tài chính doanh nghiệp cần kết hợp với những thông tin chung về tình hình kinh tế trong nước và khu vực như thông tin về tăng trưởng, suy thoái kinh tế, thông tin về lãi suất, tỷ lệ lạm phát và các chính sách kinh tế, chính trị ngoại giao của Nhà nước. Thứ hai, thông tin về ngành: ngoài những thông tin về môi trường vĩ mô, những thông tin liên quan đến ngành, liên quan đến những lĩnh vực kinh doanh cũng được chú trọng như mức độ và yêu cầu công nghệ của ngành, mức độ cạnh tranh và quy mô ngành, nhịp độ và xu hướng của ngành. Những thông tin trên sẽ làm rõ nội dung của các chỉ tiêu tài chính trong từng ngành, lĩnh vực kinh doanh. Thứ ba, thông tin về đặc điểm kinh doanh của doanh nghiệp: do mỗi doanh nghiệp có những đặc điểm riêng trong tổ chức sản xuất kinh doanh và trong phương hướng hoạt động nên để đánh giá hợp lý tình hình tài chính, nhà phân tích cần nghiên cứu kỹ lưỡng đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp.
Phương pháp phân tích cấu trúc tài chính doanh nghiệp 1. Phương pháp so sánh Đây là phương pháp được sử dụng phổ biến nhất trong phân tích. Phương pháp 7 này được sử dụng để đánh giá kết quả, chỉ ra sự khác biệt, xác định nhịp điệu, tốc độ và xu hướng biến động khái quát của từng chỉ tiêu trong khoảng thời gian ngắn nhất về tình hình hoạt động của doanh nghiệp giữa các kỳ kinh doanh khác nhau, phục vụ việc ra quyết định kinh doanh. Khi sử dụng phương pháp so sánh cần đảm bảo được những nội dung sau đây: (Nguyễn Văn Công, 2019; Đỗ Huyền Trang và Lê Mộng Huyền, 2021).
Thứ nhất, về điều kiện so sánh: Để có thể so sánh được, số liệu của các chỉ tiêu so sánh phải đảm bảo tính thống nhất về nội dung kinh tế, về phương pháp tính toán, đơn vị đo lường, phạm vi, thời gian và quy mô không gian xác định. Nhà phân tích cần quy đổi và tính toán lại trị số gốc của chỉ tiêu theo nội dung mới, theo phương pháp thống nhất, theo cùng một đơn vị đo lường, lựa chọn các chỉ tiêu trong khoảng thời gian và quy mô không gian thống nhất rồi mới tiến hành so sánh. Thứ hai, xác định gốc so sánh: Để có thể so sánh được, cần lựa chọn chỉ tiêu để làm căn cứ so sánh hay còn gọi là gốc so sánh. Tùy theo mục đích nghiên cứu mà gốc so sánh được lựa chọn thích hợp.
- Về mặt thời gian: Gốc so sánh có thể là tài liệu thực tế kỳ trước nhằm đánh giá sự biến động, tốc độ tăng trưởng của các chỉ tiêu thực tế kỳ này; các mục tiêu đã dự kiến (kế hoạch, dự toán, định mức) nhằm đánh giá tình hình thực hiện so với kế hoạch, dự toán, định mức; hay các điểm thời gian (năm, tháng, ngày cụ thể.) nhằm đánh giá tiến độ thực hiện nhiệm vụ hay mức độ đạt được của chỉ tiêu nghiên cứu trong cùng khoảng thời gian. Việc lựa chọn gốc so sánh theo thời gian sẽ có thể đánh giá kết quả đạt được, mức độ và xu hướng tăng trưởng của chỉ tiêu phân tích. Bên cạnh đó, trong một vài trường hợp, để xác định xu hướng hay nhịp điệu tăng trưởng của chỉ tiêu phân tích, gốc so sánh có thể cố định tại một kỳ cụ thể trong khi kỳ hay điểm so sánh liên tục thay đổi, gọi là so sánh định gốc; hoặc gốc so sánh và cả kỳ hay điểm so sánh đều thay đổi liên tục, gọi là so sánh liên hoàn. - Về mặt không gian: Gốc so sánh được lựa chọn cũng có thể là chỉ tiêu tổng thể nhằm đánh giá mức độ phổ biến của chỉ tiêu bộ phận; chỉ tiêu của đơn vị khác có cùng điều kiện hay chỉ tiêu trung bình của ngành, khu vực kinh doanh, hay nhu cầu đơn đặt hàng nhằm khẳng định vị trí của doanh nghiệp và khả năng đáp ứng nhu cầu,.