Chương 1: Cơ sở lý luận về phân tích cấu trúc tài chính trong doanh nghiệp. Chương 2: Phân tích cấu trúc tài chính của Công ty Cổ phần Hoàng Anh Đắk Lắk. Chương 3: Giải pháp hoàn thiện cấu trúc tài chính của Công ty Cổ phần Hoàng Anh Đắk Lắk. 4 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH CẤU TRÚC TÀI CHÍNH TRONG DOANH NGHIỆP 1.
Tổng quan về phân tích cấu trúc tài chính trong doanh nghiệp 1. Khái niệm cấu trúc tài chính, phân tích cấu trúc tài chính và ý nghĩa phân tích cấu trúc tài chính Khái niệm cấu trúc tài chính Cấu trúc tài chính doanh nghiệp là một phạm trù phản ánh một cách tổng thể về tình hình tài chính của doanh nghiệp trên hai mặt là cơ cấu nguồn vốn gắn liền với quá trình huy động vốn, phản ánh chính sách tài trợ của doanh nghiệp và cơ cấu tài sản gắn liền với quá trình sử dụng tài sản, phản ánh và chịu sự tác động của những đặc điểm và chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp. Hay nói cách khác, cấu trúc tài chính là một phạm trù phản ánh cấu trúc tài sản, cấu trúc nguồn vốn và mối quan hệ giữa tài sản và nguồn vốn trong doanh nghiệp. [4] Khái niệm phân tích cấu trúc tài chính Phân tích cấu trúc tài chính doanh nghiệp là phân tích tình hình đầu tư huy động vốn của doanh nghiệp thông qua việc xem xét, kiểm tra, đối chiếu và so sánh số liệu về tình hình tài chính hiện tại so với quá khứ.
Từ đó có thể đánh giá tiềm năng, hiệu quả kinh doanh cũng như rủi ro tài chính doanh nghiệp và đưa ra các phương thức tài trợ để giảm thiểu rủi ro, tăng triển vọng phát triển trong tương lai. Phân tích cấu trúc tài chính bao gồm các vấn đề về phân tích cấu trúc tài sản, phân tích cấu trúc nguồn vốn và phân tích cân bằng tài chính. [4] Ý nghĩa phân tích cấu trúc tài chính Phân tích cấu trúc tài chính doanh nghiệp là một nội dung trong phân tích tài chính doanh nghiệp. Các hoạt động tài chính có mối quan hệ trực tiếp với hoạt động sản xuất kinh doanh.
Do đó, các hoạt động sản xuất kinh doanh đều có ảnh hưởng đến tài chính của doanh nghiệp. Ngược lại, tình hình tài chính tốt hay xấu đều có tác động thúc đẩy hoặc kìm hãm với quá trình sản xuất kinh doanh. Việc phân tích cơ cấu nguồn vốn sẽ cho biết trong tổng nguồn vốn tài trợ cho hoạt động của doanh nghiệp thì thành phần của từng loại nguồn vốn chiếm tỷ trọng bao nhiêu và thực trạng này có phù hợp với doanh nghiệp hay không. Doanh nghiệp nghiêng về hướng huy động VCSH hay nguồn vốn vay nợ.
Tại thời điểm phân tích, cơ cấu từng loại nguồn có phù hợp với lĩnh vực, đặc điểm và quy mô hoạt động hay không cũng như có thích hợp với lộ trình hoặc chiến lược huy động vốn đã vạch ra hay chưa. Chính vì thế, phân tích cơ cấu nguồn vốn và sự biến động về cơ cấu nguồn vốn sẽ giúp những người sử dụng thông tin nắm bắt được chính sách huy 5 động vốn của doanh nghiệp. Từ đó, đánh giá được sự phù hợp và hiệu quả của chính sách huy động vốn. Cơ cấu tài sản phản ánh tỷ trọng của từng bộ phân tài sản chiếm trong tổng số tài sản hiện có của doanh nghiệp.
Sau khi huy động được đủ vốn để đảm bảo cho HĐKD, doanh nghiệp sẽ tiến hành HĐĐT, tức là việc mua sắm những tài sản từ những nguồn tài trợ để phục vụ cho HĐKD. một cơ cấu tài sản được coi là tối ưu khi và chỉ khi toàn bộ tài sản của DN được sử dụng tối đa vào phục vụ cho các hoạt động. Bởi vậy, phân tích cơ cấu tài sản và sự biến động về cơ cấu tài sản sẽ cung cấp thông tin cần thiết giúp cho người sử dụng thông tin có cơ sở tin cậy để đánh giá tình hình sử dụng vốn và mức độ phù hợp của HĐĐT tài sản có thích hợp với lĩnh vực kinh doanh, với đặc điểm hoạt động và quy mô kinh doanh hay không. Bên cạnh việc xem xét, đánh giá chính sách huy động vốn và tình hình sử dụng vốn, những người sử dụng thông tin cũng nhất thiết phải nắm bắt được chính sách sử dụng vốn của doanh nghiệp.
Chính sách sử dụng vốn được coi là đúng đắn khi số vốn mà doanh nghiệp đã huy động được sử dụng để phục vụ cho HĐKD với mục đích tạo ra nhiều lợi nhuận. Việc phân tích mối quan hệ giữa tài sản với nguồn vốn sẽ cung cấp thông tin về chính sách sử dụng vốn của doanh nghiệp, cho biết doanh nghiệp huy động vốn nhằm sử dụng cho mục đích gì (bù lỗ, đầu tư cho kinh doanh,…). Theo nguyên tắc, thông thường những TSDH hoặc TSCĐ có giá trị lớn và thời gian sử dụng lâu dài (gồm VCSH và vốn vay dài hạn). Ngược lại, những TSNH có giá trị nhỏ và thời gian sử dụng ngắn, thường phải được đầu tư từ nguồn vốn vay nợ ngắn hạn.
Phân tích cấu trúc tài chính giúp nhà phân tích biết được việc huy động các nguồn tài trợ (hay nguồn vốn), tình hình sử dụng vốn cũng như chính sách sử dụng các nguồn này vào các loại tài sản có phù hợp với đặc điểm HĐKD, quy mô hoạt động của DN,… hay không vì không thể có một cấu trúc tài chính lý tưởng áp dụng chung cho mọi loại hình doanh nghiệp. Kết quả phân tích giúp cho nhà phân tích biết được khả năng huy động các nguồn tài trợ cũng như trách nhiệm trả nợ của doanh nghiệp đối với những nguồn này. Các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc tài chính trong doanh nghiệp Các nhân tố ảnh hướng đến phân tích cấu trúc tài chính trong doanh nghiêp gồm các nhân tố bên ngoài và nhân tố bên trong [1, 3] 6 1. Các nhân tố bên ngoài doanh nghiệp Mức độ hoạt động kinh doanh Nếu chúng ta dự kiến mức độ hoạt động kinh doanh gia tăng, điều đó có nghĩa là nhu cầu tài sản và nguồn vốn để tài trợ cho việc mua tài sản này cũng sẽ gia tăng.
Một triển vọng mở rộng hoạt động nhanh chóng làm cho khả năng điều động trở nên quan trọng hơn trong việc xây dựng cấu trúc tài chính. Như đã thấy, tác động của các thay đổi dự kiến trong mức độ hoạt động kinh doanh chung sẽ đưa đến các kết quả khác nhau rất lớn đối với các ngành khác nhau. Tốc độ tăng trưởng kinh tế Được đo lường thông qua chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế quốc gia (GDP). Chỉ tiêu này cho thấy cơ hội phát triển của doanh nghiệp trong nền kinh tế.
Khi nền kinh tế ở trạng thái ổn định và tăng trưởng sẽ mở ra cơ hội đầu tư mới, đòi hỏi doanh nghiệp phải tìm kiếm nguồn vốn thích hợp cho dự án mới. Do đó, có ảnh hưởng đến việc sử dụng nợ vay cho hoạt động đầu tư mới. Tăng trưởng kinh tế sẽ có ảnh hưởng thuận chiều đến cấu trúc tài chính của doanh nghiệp. Triển vọng phát triển của thị trường vốn Được đo lường thông qua chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận của chỉ số thị trường (HNX – Index).
Sự phát triển của thị trường vốn là nhân tố quan trọng tác động đến công tác huy động và sử dụng vốn của doanh nghiệp, do đó ảnh hưởng đến cấu trúc tài chính của doanh nghiệp. Thị trường tài chính phát triển sẽ tạo ra các kênh huy động vốn đa dạng cho doanh nghiệp, theo hướng gia tăng các nguồn vốn dài hạn. Lãi suất Lãi suất trên thị trường có ảnh hưởng đến chi phí sử dụng vốn vay của doanh nghiệp từ đó tác động đến quyết định tài trợ của doanh nghiệp. Khi lãi suất trên thị trường ổn định và ở mức thấp sẽ cho phép doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận nguồn vốn vay nhằm thực hiện các dự án đầu tư mới.
Như vậy, lãi suất có mối quan hệ ngược chiều với hệ số nợ của doanh nghiệp. Bên cạnh những nhân tố nêu trên, cấu trúc tài chính còn có thể chịu sự tác động của các nhân tố khác như: tấm chắn thuế phi nợ, rủi ro tài chính, chi phí phá sản doanh nghiệp, chu kỳ sống và giai đoạn phát triển của doanh nghiệp… Ngoài ra, chính sách kinh tế vĩ mô của nhà nước, thuế suất, tỷ lệ lạm phát, thái độ người cho vay cũng có tác động đến cấu trúc tài chính của doanh nghiệp. Các nhân tố bên trong doanh nghiệp Hình thức tổ chức Hình thức tổ chức tác động đến trách nhiệm của các chủ sở hữu đối với nợ của doanh nghiệp. Các doanh nghiệp cổ phần thường dễ thu hút vốn hơn các hình thức kinh doanh không liên kết hay kinh doanh liên kết góp vốn, vì các cổ đông chỉ phải chịu rủi ro cho phần vốn đầu tư ban đầu của mình.
Hơn nữa, họ có thể bán cổ phần của mình một cách dễ dàng. Có thể khẳng định rằng, hình thức tổ chức doanh nghiệp cung cấp một cách tiếp cận dễ dàng với hầu hết các loại vốn. Đặc điểm riêng của tài sản doanh nghiệp Đặc điểm riêng của tài sản doanh nghiệp có thể được đo lường bằng tỷ lệ giá vốn hàng bán trên tổng doanh thu thuần hoặc tỷ lệ chi phí nghiên cứu và phát triển trên tổng doanh thu. Các doanh nghiệp có các sản phẩm độc đáo thường có một hệ số nợ thấp.
Do vậy, đặc điểm riêng của tài sản doanh nghiệp có mối quan hệ tỷ lệ nghịch với cấu trúc tài chính. Quy mô của doanh nghiệp Quy mô thường được thể hiện qua chỉ tiêu tổng tài sản hoặc tổng doanh thu của doanh nghiệp. Lý thuyết đánh đổi cho rằng quy mô của doanh nghiệp có mối quan hệ tỷ lệ thuận với nợ vay, bởi vì các doanh nghiệp lớn thường có tính chất đa dạng hóa cao hơn, ít rủi ro dẫn đến sự phá sản hay chi phí phá sản thấp. Và quy mô càng lớn doanh nghiệp càng có uy tín cao hơn những doanh nghiệp có quy mô nhỏ.
Do vậy, doanh nghiệp lớn tiếp cận vốn vay từ bên ngoài dễ hơn so với doanh nghiệp có quy mô nhỏ. Lý thuyết về chi phí đại diện cho rằng các doanh nghiệp có quy mô nhỏ thường có động lực chấp nhận rủi ro cao hơn để tăng trưởng nhanh vì vậy chi phí đại diện cũng sẽ cao đối với các doanh nghiệp này.