CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN 1. Tổng quan về công ty cổ phần 1. Khái niệm công ty cổ phần Công ty cổ phần là một dạng pháp nhân có trách nhiệm hữu hạn, được thành lập và tồn tại độc lập đối với những chủ thể sở hữu nó. Vốn của công ty được chia nhỏ thành những phần bằng nhau gọi là cổ phần và được phát hành huy động vốn tham gia của các nhà đầu tư thuộc mọi thành phần kinh tế.
Theo quy định tại Điều 77 Luật doanh nghiệp công ty cổ phần được định nghĩa như sau: Công ty cổ phần là doanh nghiệp, trong đó: – Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần – Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là ba và không hạn chế số lượng tối đa. – Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp. – Công ty có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 81 và khoản 5 Điều 84 của Luật doanh nghiệp 2005 – Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. – Công ty cổ phần có quyền phát hành chứng khoán các loại để huy động vốn.
Vai trò của công ty cổ phần trong nền kinh tế quốc dân Công ty cổ phần có vai trò quan trọng đối với việc thúc đẩy nền kinh tế quốc dân, cụ thể là : SV: Bùi Văn Đông 15 MSV: 11130890 Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Ths Nguyễn Ngọc Trâm - Thứ nhất, Công ty cổ phần có khả năng tập trung vốn mạnh nhanh chóng với quy mô lớn để thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh lớn mà không nhà đầu tư riêng biệt nào có thể tự mình làm nổi. Từ đó quá trình phát triển nền kinh tế nói riêng, xã hội nói chung được thúc đẩy nhanh hơn. - Thứ hai, Công ty cổ phần góp phần nâng cao hiệu quả đầu tư sử dụng vốn bởi vì do hình thức tự phát tài chính bằng huy động vốn đã đề cao trách nhiệm của doanh nghiệp nâng cao sự quan tâm đến sử dụng hiệu quả nguồn vốn. Mặt khác do sức ép của cổ đông do việc đòi chia lãi cổ phần và muốn duy trì giá cổ phiếu cao trên thị trường chứng khoán khiến doanh nghiệp phải phấn đấu nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.
Ngoài ra, là do lợi nhuận của các công ty cổ phần là khác nhau trong các lĩnh vực khác nhau thúc đẩy nên có thể dẫn dắt vốn nhàn dỗi từ nhiều kênh khác nhau trong xã hội vào các nghành, các lĩnh vực có năng suất lao động cao và tỷ suất lợi nhuận cao làm cho vốn được phân bổ và sử dụng có hiệu quả hơn trong nền kinh tế. - Thứ ba, Công ty cổ phần tạo ra một cơ chế phân bố rủi ro đặc thù đã hạn chế được những tác động tiêu cực về kinh tế xã hội khi doanh nghiệp lâm vào tình trạng khủng hoảng. Chế dộ đã hạn chế đến mức thấp nhất những thiệt hại của rủi ro thua lỗ. Vốn tự có của công ty huy động thông qua việc phát hàng cổ phiếu là vốn của nhiều cổ đông do đó san sẻ rủi roc ho nhiều cổ đông.
Nhờ đó khi công ty cổ phần phá sản hậu quả về mặt kinh tế xã hội được hạn chế ở mức thấp hơn. Cách thức huy động vốn của công ty cổ phần đã tạo điều kiện cho các nhà đầu tư tài chính có thể mua cổ phiều, trái phiếu ở các công ty ở nhiều ngành khác nhau nên giảm bớt được tổn thất khi công ty bị phá sản so với việc đầu tư vào một công ty. Cơ chế phân bổ rủi ro này đã tạo điều kiện cho những người có vốn mạnh dạn đầu tư vào một công ty làm cho nền kinh tế phát triển và có xu hướng ổn định hơn. SV: Bùi Văn Đông 16 MSV: 11130890 Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Ths Nguyễn Ngọc Trâm - Thứ tư, việc phát hành chứng khoán của công ty cổ phần cùng với việc chuyển nhượng mua bán chứng khoán đến mức độ nhất định sẽ tạo điều kiện cho sự ra đời của thị trường chứng khoán – trái tim của thị trường vốn.
Ý nghĩa căn bản của thị trường chứng khoán là: đó là nơi các nhà kinh doanh có thể kiếm được nguồn tài trợ cho hoạt động đầu tư sản xuất kinh doanh, là nơi khai thác các nguồn tiết kiệm của những người tích lũy đến các nhà đầu tư, là cơ chế phân bổ các nguồn vốn đầu tư phù hợp với yêu cầu của một nền kinh tế thị trường, và còn là cơ sở quan trọng để Nhà nước qua đó sử dụng các chính sách tiền tệ can thiệp vào hoạt động của nền kinh tế nhằm đạt được các mục tiêu chiến lược. - Thứ năm, Công ty cổ phần đảm bảo sự tham gia đông đảo của công chúng, lại có cơ cấu tổ chức quản lý chặt chẽ, phân đinh rõ rang giữa quyền sở hữu và quyền kinh doanh nên đã tạo điều kiện cho người lao động tham gia quản lý công ty một các thực sự, sử dụng được những giám đốc tài năng, đảm bảo được quyền lợi, lợi ích và trách nhiệm của chủ sở hữu, đẩy nhanh quá trình phân công lao động xã hội. - Cuối cùng, Công ty cổ phần là hình thức liên doanh tốt nhất để tranh thủ sự tham gia đầu tư của nước ngoài. Với một nền kinh tế đặc biệt là nền kinh tế đang phát triển thì việc đó thu hút nguồn vốn, khoa học kĩ thuật, trình độ quản lý thông qua liên doanh liên kết nước ngoài là vô cùng cần thiết để phát triển kinh tế trong nước.
Phân tích tài chính tại công ty cổ phần 1. Khái niệm, mục đích và ý nghĩa của phân tích tài chính công ty cổ phần Phân tích tài chính tại công ty cổ phần là việc phân tích các báo cáo tài chính của công ty cổ phần đó. Việc phân tích các báo cáo tài chính là quá SV: Bùi Văn Đông 17 MSV: 11130890 Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Ths Nguyễn Ngọc Trâm trình kiểm tra xem xét các số liệu về tài chính hiện hành và có trong quá khứ được phản ánh trên các báo cáo tài chín của doanh nghiệp nhằm mục đích đánh giá thực trạng tài chính, dự tính các rủi ro và tiềm năng trong tương lai của một doanh nghiệp trên cơ sở đó giúp cho các nhà phân tích tài chính ra các quyết định có liên quan đến các lơi ích của họ trong doanh nghiệp đó. Phân tích tài chính công ty cổ phần có ý nghĩa cô cùng quan trọng trong công tác quản lý tài chính.
Hoạt động tài chính có mối quan hệ trực tiếp với hoạt động sản xuất kinh doanh. Do đó tất cả các hoạt động sản xuất kinh doanh đều có ảnh hưởng đến tài chính của doanh nghiệp. Ngược lại, tình hình tài chính tốt hay xấu đều có tác động thúc đẩy hoặc kìm hãm đối với quá trình sản xuất kinh doanh. Chính vì vậy, phân tích tài chính có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với bản than doanh nghiệp và sẽ có nhiều đối tượng quan tâm tới tình hình tài chính của doanh nghiệp như: chủ doanh nghiệp, nhà đầu tư, nhà cung cấp, khách hàng, các cơ quan Nhà nước và cả những người lao động.
Mỗi đối tượng lại có những mối quan tâm khác nhau đối với tình hình tài chính của doanh nghiệp. Đối với nhà quản lý doanh nghiệp Nhà quản trị doanh nghiệp là người trực tiếp quản lý và điều hành doanh nghiệp, biết tất cả các thông tin bên trong cũng như bên ngoài của doanh nghiệp. Việc phân tích tài chính sẽ đem lại cái nhìn rõ ràng các vấn đề của doanh nghiệp. Do đó, phân tích hoạt động tài chính doanh nghiệp đối với nhà quản lý nhằm: - Tạo ra những kỳ đều đặn để đánh giá hoạt động quản lý trong giai đoạn đã qua, việc thực hiện cân bằng tài chính, khả năng sinh lời, khẳ năng thanh toán và rủi ro tài chính trong hoạt động của doanh nghiệp….
SV: Bùi Văn Đông 18 MSV: 11130890 Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Ths Nguyễn Ngọc Trâm - Đảm bảo cho các quyết định của Ban giám đốc phù hợp với tình hình thực tế của doanh nghiệp như quyết định đầu tư, tài trợ phân phối lợi nhuận… - Cung cấp thông tin cơ sở cho các đoán tài chính. - Căn cứ để kiểm tra kiểm soát hoạt động, quản lý trong doanh nghiệp - Phân tích hoạt động tài chính làm rõ điều quan trọng của dự đoán tài chính, mà dự đoán là nền tảng của hoạt động quản lý, làm sang tổ, không chỉ chính sách tài chính mà còn làm rõ các chính sách chung trong doanh nghiệp. Đối với các chủ đầu tư Điều mà các chủ đầu tư quan tâm nhất đó là sự an toàn của lượng vốn đầu tư, kế đó là mức sinh lãi, thời gian hoàn vốn. Vì vậy họ cần những thông tin về tài chính, tình trạng hoạt động., kết quả kinh doanh, tiềm năng tăng trưởng của doanh nghiệp.
Do đó họ thường phân tích báo cáo tài chính của các đơn vị qua các thời kỳ, để quyết định đầu tư vào đơn vị đó không? Đầu tư dưới hình thức nào? Và đầu tư vào lĩnh vực nào? Đối với chủ nợ Đối với chủ nợ( Ngân hàng, các nhà cho vay, nhà cung cấp) mối quan tâm của họ hướng vào khả năng trả nợ của doanh nghiệp. Do đó họ cần chú ý đến tình hình và khả năng thanh toán của đơn vị cũng như quan tâm đến lượng vốn của chủ sở hữu, khả năng sinh lời để đánh giá đơn vị có khả năng trả nợ được hay không khi quyết định cho vay, bán chịu sản phẩm cho đơn vị. Đối với cơ quan quản lý Nhà nước Dựa vào các báo cáo tài chính, các cơ quan quản lý Nhà nước thực hiện phân tích tài chính để đánh giá, kiểm tra, giám sát các hoạt động kinh doanh, hoạt động tài chính tiền tệ của doanh nghiệp có tuân thủ theo đúng chính sách, chế độ và pháp luật quay định không, tình hình hạch toán chi phí, giá thành, tình hình thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước và khách hàng… SV: Bùi Văn Đông 19 MSV: 11130890 Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Ths Nguyễn Ngọc Trâm Đối với người lao động Bên cạnh nhà đầu tư, nhà quản lý và các chủ nợ của công ty cổ phần, người được hưởng lương trong doanh nghiệp cũng rất quan tâm tới các thông tin tài chính của doanh nghiệp.