MỞ ĐẦU ● Nhắc lại chương 7 Ở Chương 7 đã xem xét các thước đo dòng tiền của hoạt động kinh doanh và cho thấy việc xác định các thước đo như thế đã cung cấp và bổ sung cho nghiên cứu về thước đo dồn tích trong các chương trước. Cũng như đã chứng minh được rằng việc tái cơ cấu các hợp đồng đã hỗ trợ cho việc sử dụng dữ liệu dòng tiền như thế nào. ● Tìm hiểu chương 8 Ở chương này tập trung vào khả năng sinh lời của doanh nghiệp với trọng tâm là tỷ suất sinh lợi. Nhóm tác giả nhấn mạnh tỷ suất sinh lợi trên vốn đầu tư và giải thích các biến số trong cách đo lường chỉ tiêu này.
Đặc biệt chú ý đến tỷ suất sinh lợi trên tài sản hoạt động ròng và tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu. Nhóm khám phá quá trình chia tách của cả hai thước đo tỷ suất sinh lợi này và mô tả mức độ liên quan của chúng bằng phân tích của nhóm. Đòn bẩy tài chính được giải thích và phân tích thông qua việc sử dụng các thước đo tỷ suất sinh lợi trong chương này. ● Khái quát chương 9 Đối với chương tiếp theo là chương 9 sẽ được mở rộng và tập trung vào các công cụ phân tích để phân tích triển vọng và dự báo báo cáo tài chính.
Bên cạnh đó, minh họa cơ chế dự báo và chứng minh việc áp dụng phân tích triển vọng để định giá cổ phiếu phổ thông. MỤC TIÊU PHÂN TÍCH Mục tiêu tổng quan: ● Phân tích chất lượng của khả năng sinh lợi ● Phân tích tính bền vững của khả năng sinh lợi Mục tiêu cụ thể: ● Mô tả công dụng của các thước đo tỷ suất sinh lợi trong phân tích tài chính. ● Giải thích tỷ suất sinh lợi trên vốn đầu tư và các biến số dùng để tính toán chỉ số này. ● Phân tích tỷ suất sinh lợi trên tài sản ròng từ hoạt động kinh doanh thuần và sự tác động của chỉ số này trong phân tích tài chính.
1 ● Mô tả quá trình chia tách tỷ suất sinh lợi trên tài sản hoạt động ròng và tầm quan trọng các thành phần của chỉ số này. ● Trình bày mối quan hệ giữa biên lợi nhuận và vòng quay tài sản. ● Phân tích tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu và vai trò của chỉ số này trong phân tích tài chính. ● Mô tả quá trình chia tách tỷ suất sinh lợi trên vốn cổ phần thường và các vấn đề liên quan đến thành phần của chỉ số.
● Giải thích về đòn bẩy kinh doanh và đòn bẩy tài chính cũng như cách đánh giá mức độ thành công của một công ty trong việc sử dụng đòn bẩy để tăng lợi nhuận. A good fit gap (tình huống đọc thêm) SAN FRANCISCO — Tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu của Gap Inc. đạt mức cao là 59% vào năm 2000; sau đó nó đột ngột xuống dốc. Gap đã mất liên lạc với khách hàng của mình.
Những dòng sản phẩm của nó trở nên tẻ nhạt và dòng quần áo đắt tiền Old Navy đã thu hút những khách hàng nhằm mục đích tạo ra lợi nhuận cao hơn. Dòng sản phẩm của Gap rẻ tiền hơn và hình ảnh của công ty ngày càng tuột dốc. Tăng trưởng doanh số bán hàng chậm lại từ hơn 30% mỗi năm xuống dưới một nửa mức đó. Vòng quay hàng tồn kho giảm từ hơn bảy lần một năm xuống còn dưới bốn lần do công ty phải đấu tranh để giảm lượng hàng tồn kho chưa bán được.
Gap đã vay mượn rất nhiều để chi tiền nâng cấp và mở rộng các cửa hàng của mình. Đòn bẩy tài chính của nó đã tăng lên hơn 0,76 đô la nợ cho mỗi 1 đô la vốn chủ sở hữu, gần gấp đôi mức trung bình 0,40 đô la cho tất cả các công ty giao dịch công khai. Do không có khả năng sinh lời và nợ quá cao, các cơ quan tín dụng đã hạ xếp hạng đối với trái phiếu Gap xuống chỉ trên trạng thái “Junk” có nghĩa là xuống mức thấp nhất. Gap rất cần một sự thay đổi trong chiến lược.
Nó đưa Paul Pressler vào điều hành công ty. Pressler trước đây đã quản lý các khu giải trí chủ đề của Disney và mang đến một khách hàng mới sự chú ý. Ông bắt đầu đóng cửa các cửa hàng làm ăn thua lỗ để tạo ra tiền mặt mà sau đó ông dùng để trả nợ. Đòn bẩy tài chính của Gap giảm hơn một nửa, xuống mức thận trọng hơn là 29%.
Gap vẫn chưa trở lại những năm huy hoàng của nó. Ông đã nâng cấp hệ thống thông tin của công ty để kiểm soát tốt hơn các hoạt động và tỷ suất lợi nhuận gộp của công ty tăng từ 30% lên 39%; một sự gia tăng đáng kể đối với một công ty trong ngành bán lẻ quần áo có tính cạnh tranh cao. Pressler cũng đã cắt giảm thành công một điểm phần trăm chi phí bán hàng & quản lý của Gap dưới dạng phần trăm doanh thu. Việc tăng tỷ suất lợi nhuận gộp và giảm chi phí hoạt động kết hợp để tăng tỷ suất lợi nhuận hoạt động của Gap từ mức thua lỗ lên mức lãi 8%, cao hơn nhiều so với mức trung bình 5,5% của các đối thủ cạnh tranh.
Đáp lại, giá cổ phiếu của Gap đã tăng gấp đôi. Tuy nhiên, nhiều nhà phân tích cho rằng giá cổ phiếu tăng chỉ phản ánh bảng cân đối kế toán mạnh hơn do Gap sử dụng tiền mặt để giảm nợ và mua lại cổ phiếu. Mặt khác, việc tiếp thị của Gap vẫn chưa có kết quả. Ý kiến của Jennifer Black cho rằng “Các cửa hàng trông không tốt; sản phẩm cũng không tuyệt, nó cũng chẳng ổn” , một nhà phân tích bán lẻ có công ty riêng của mình, cho biết.
“Họ đã mất tập trung vào việc phân tích thị trường và khách hàng mục tiêu của họ là ai? ” (Forbes, 2005) Họ chỉ có thể cắt giảm quy mô nhân sự và nâng cấp hệ thống và không còn phương pháp nào khác để phục hồi. Mặc dù cho đến nay Pressler rất phù hợp với Gap, nhưng ông vẫn chưa thể đưa Gap trở lại những năm tháng huy hoàng với tư cách là một nhà tiếp thị hàng đầu. Giá cổ phiếu của Gap sẽ không tăng lên cho đến khi ông ấy làm được điều đó. 3 TỔNG LƯỢC VỀ CHƯƠNG 8 Phân tích tài chính liên quan đến việc đánh giá cả rủi ro lẫn tỷ suất sinh lợi.
Tỷ suất sinh lợi trên vốn đầu tư đề cập đến thu nhập của một công ty có mối quan hệ đến vốn đầu tư. Nó là thước đo đánh giá sự thành công của một công ty trong việc sử dụng nguồn tài trợ để tạo ra lợi nhuận. Chương này mô tả tỷ suất sinh lợi trên vốn đầu tư và sự liên quan của nó trong việc phân tích báo cáo tài chính. Nhóm tác giả giải thích các thành phần trong việc đo lường tỷ suất sinh lợi trên vốn đầu tư cũng như diễn giải ý nghĩa của chúng.
Nhóm đưa ra các nghiên cứu và tìm hiểu về quá trình chia tách tỷ suất sinh lợi trên vốn đầu tư thành các thành phần quan trọng để hiểu sâu hơn về hiệu quả hoạt động tương lai của công ty. Vai trò và tầm quan trọng của đòn bẩy tài chính đối với phân tích khả năng sinh lời được tính toán. Cuối cùng, chương này trình bày từng kỹ thuật phân tích này bằng cách sử dụng dữ liệu báo cáo tài chính thực tế, bao gồm dữ liệu của Công ty Campbell Soup. Tầm quan trọng của tỷ suất sinh lợi trên vốn đầu tư Sau quá trình tìm hiểu, nhóm tác giả nhận định có nhiều phương pháp phân tích hoạt động của công ty.
Trong đó doanh thu, lợi nhuận ròng và tăng trưởng tài sản là các thước đo hiệu suất được sử dụng phổ biến. Tuy nhiên, không một thước đo riêng lẻ nào hiệu quả cho việc đo lường tất cả các thành quả của công ty. Nguyên nhân bắt nguồn từ sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các thước đo tỷ suất sinh lợi và sự phụ thuộc lẫn nhau của các hoạt động kinh doanh. Ví dụ như khi doanh nghiệp mong muốn doanh thu tăng nhưng chỉ tăng khi có nguồn lợi nhuận tăng.
Điều tương tự cũng sẽ xảy ra khi doanh nghiệp mong muốn tăng tài sản nhưng chỉ được nếu doanh nghiệp tạo ra thêm khối lượng bán hàng. Để đánh giá lợi nhuận ròng tạo ra từ công ty, nhóm xem xét mối quan hệ của chỉ tiêu này với vốn đầu tư. Ví dụ: khi hai công ty A và B có cùng mức lợi nhuận ròng là 1 triệu đô la nhưng công ty A có nguồn vốn đầu tư là 2 triệu đô la và công ty B có nguồn vốn đầu tư là 200 triệu đô thì khi đó sẽ có cái nhìn khác nhau giữa việc đánh giá lợi nhuận ròng giữa công ty A và công B. Để phân tích hiệu quả hoạt động của công ty cần phải phân tích kết hợp giữa các thước đo có mối liên quan với nhau.
Cũng như mối quan hệ giữa lợi nhuận và vốn đầu tư, được gọi là tỷ suất sinh lợi trên vốn đầu tư (ROIC) hoặc tỷ suất hoàn vốn (ROI), có lẽ là thước đo hiệu quả hoạt động của công ty được công nhận rộng rãi nhất. Thước đo này cho phép so sánh các công ty về sự thành công của họ với nguồn vốn đầu tư. Bên cạnh đó, ROI cũng cho phép người phân tích đánh giá tỷ suất sinh lợi của công ty so với rủi ro đầu tư vốn của công ty đó nhờ đó có thể so sánh tỷ suất sinh lợi trên vốn đầu tư với tỷ suất sinh lợi của các khoản đầu tư thay thế. Như là trái phiếu kho bạc chính phủ phản ánh tỷ suất sinh lợi tối thiểu do rủi ro thấp.
Các khoản đầu tư rủi ro cao hơn dự kiến sẽ mang lại tỷ suất sinh lợi cao hơn. Để đánh giá tốt hơn về tỷ suất sinh lợi trên vốn đầu tư, người phân tích còn phải đối chiếu và so sánh với thước đo hiệu suất khác, với quy mô và nguồn tài trợ của công ty. Từ việc phân tích đó giúp xác định khả năng thành công của công ty, thu hút tài chính, trả nợ cho chủ nợ và thưởng cho chủ sở hữu. Ở đây, nhóm tác giả sử dụng tỷ suất sinh lợi trên vốn đầu tư trong một số lĩnh vực phân tích của mình bao gồm: (1) tính hiệu quả quản trị, (2) mức độ khả năng sinh lợi và (3) hoạch định và kiểm soát.