CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẤU TRÚC VỐN VÀ KHẢ NĂNG SINH LỜI CỦA DOANH NGHIỆP 1. Cơ sở lý luận về cấu trúc vốn 1. Khái niệm cấu trúc vốn Cấu trúc vốn trong tài chính doanh nghiệp là sự kết hợp của nhiều dạng vốn khác nhau để hình thành nên các loại tài sản của doanh nghiệp và là điều kiện tiên quyết để một doanh nghiệp có thể ra đời, giúp hoạt động của doanh nghiệp được ổn định, vững chắc. Vì vậy, cấu trúc vốn luôn là chủ đề được các nhà nghiên cứu cũng như các doanh nghiệp quan tâm.
Đặc biệt, đối với các nhà đầu tư, cấu trúc vốn sẽ giúp họ nhận diện các loại rủi ro trong chính sách huy động vốn của doanh nghiệp cũng như đưa ra các dự báo về bức tranh tài chính của doanh nghiệp. Do vậy, để có thể huy động, quản lý và sử dụng vốn một cách hiệu quả, doanh nghiệp phải nghiên cứu từng nguồn vốn của mình để từ đó xác định một cơ cấu hợp lý phù hợp với từng điều kiện cụ thể, từng giai đoạn triển của doanh nghiệp. Nhiều nhà khoa học đưa ra các định nghĩa riêng của họ về cấu trúc vốn và được dựa trên nghiên cứu của Modigliani và Miller (1958). Đây là lý thuyết về cấu trúc vốn theo chủ nghĩa hiện đại đầu tiên được công nhận, trước đó không có lý thuyết nào được chấp nhận rộng rãi.
Theo Abor (2005) nhận định: “Cấu trúc vốn là sự kết hợp của nợ và vốn chủ sở hữu cụ thể là tỷ lệ nợ và vốn cổ phần mà các tổ chức tài chính sử dụng để tài trợ cho các hoạt động của chính bản thân doanh nghiệp”. Cùng quan điểm với Abor, Pouraghajan & Malekian (2012), Addae và cộng sự (2013) cũng cho rằng cấu trúc vốn là nguồn tài chính hỗn hợp của doanh nghiệp cấu thành từ nợ và vốn chủ sở hữu tạo nên nguồn tài sản của doanh nghiệp. Naveed & cộng sự (2010) cho rằng: “Cấu trúc vốn là mối quan hệ giữa các hình thức tài chính khác nhau vì thế nên cần được đề cập đến trong dài hạn và ngắn hạn”. Theo mối quan hệ với những định nghĩa trên, Hasan và cộng sự (2014) đưa ra khái niệm: “Cấu trúc vốn của doanh nghiệp là sự kết hợp của nợ ngắn hạn, nợ dài hạn, vốn cổ phần thường, vốn cổ phần ưu đãi được các tổ chức tài chính sử dụng để tài trợ cho mọi hoạt động điều hành và phát triển của công ty”.
Theo Nguyễn Thị Thành Vinh (2021), cấu trúc vốn của doanh nghiệp được hiểu là tỷ trọng của nợ trong tổng tài sản 6 để tài trợ cho các hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp; trong tổng nợ bao gồm nợ ngắn hạn và nợ dài hạn Tóm lại, phần lớn các nhà nghiên cứu đều cho rằng cấu trúc vốn là sự pha trộn cụ thể giữa nợ và vốn chủ sở hữu tài trợ cho toàn bộ tài sản được đầu tư mà công ty cần để tài trợ cho hoạt động của mình. Phân loại một số loại vốn trong doanh nghiệp 1. Phân loại vốn theo công dụng kinh tế Vốn cố định hay còn gọi là tiền thể hiện của tài sản cố định (TSCĐ) là khoản chi phí ứng trước cho việc mua sắm, xây dựng hay lắp đặt các TSCĐ hữu hình hoặc vô hình của doanh nghiệp. Đối với mỗi doanh nghiệp, vốn cố định là nhân tố đầu tiên để hình thành doanh nghiệp và đóng góp một phần không thể thiếu trong quá trình sản xuất kinh doanh, hỗ trợ doanh nghiệp hoạt động trơn tru.
Đặc điểm của nó là luân chuyển dần từng phần trong nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh và hoàn thành một vòng tuần hoàn khi tài sản cố định hết thời gian sử dụng, giúp các doanh nghiệp thực hiện được các chiến lược, mục tiêu lâu dài. Việc đầu tư đúng hướng tài sản cố định sẽ mang lại hiệu quả và năng suất cao trong kinh doanh giúp cho doanh nghiệp cạnh tranh tốt hơn và đứng vững trong thị trường, giúp doanh nghiệp luôn ở thế chủ động. Vốn lưu động của doanh nghiệp là số tiền ứng trước mà doanh nghiệp đã sử dụng trước đó để có thể mua sắm, hình thành tài sản lưu động, cần thiết của doanh nghiệp nhằm đảm bảo hoạt động doanh nghiệp ổn định, phát triển trong quá trình sản xuất kinh doanh cũng như quá trình tái sản xuất của doanh nghiệp được diễn ra thường xuyên, liên tục. Vốn lưu động được thể hiện ở hai bộ phận bao gồm: các khoản nợ phải trả ngắn hạn và tài sản lưu động ngắn hạn như tiền mặt, các khoản phải thu ngắn hạn, các chứng khoán thanh khoản cao, hiện vật (vật tư, hàng hóa).
Vốn lưu động luôn được chuyển hóa qua nhiều hình thức khác nhau, bắt đầu từ hình thái tiền tệ sang hình thái dự trữ vật tư hàng hóa và quay lại về hình thái tiền tệ ban đầu của nó. Vì sản xuất kinh doanh diễn ra liên tục nên vốn lưu động cũng tuần hoàn không ngừng, có tính chất chu kỳ thành sự chu chuyển của vốn. Phân loại vốn theo quan hệ sở hữu Căn cứ theo quan hệ sở hữu, thông tin về hình thức tài trợ cho hoạt động kinh doanh, tức nguồn vốn của doanh nghiệp được trình bày trên bảng cân đối kếtoán và 7 được giải thích chi tiết trên thuyết minh báo cáo tài chính, bao gồm hai nhóm: nợ phải trả và vốn chủ sở hữu, được sắp xếp theo tính ổn định tăng dần. Vốn chủ sở hữu: Nguồn vốn chủ sở hữu là vốn thuộc sở hữu của chủ doanh nghiệp (doanh nghiệp nhà nước thì chủ sở hữu là Nhà nước, doanh nghiệp cổ phần thì chủ sở hữu là người góp vốn.
Vốn chủ sở hữu là nguồn tài trợ có đặc điểm là không phải hoàn trả và có tính ổn định cao. Khi doanh nghiệp mới được thành lập thì vốn chủ sở hữu do các thành viên đóng góp và hình thành vốn điều lệ. Khi doanh nghiệp đang hoạt động thì ngoài vốn điều lệ còn có một số nguồn khác cùng thuộc nguồn vốn chủ sở hữu như: Lợi nhuận giữ lại, quỹ đầu tư phát triển, quỹ dự phòng tài chính.Đối với mọi loại hình doanh nghiệp, vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp gồm 3 bộ phận chủ yếu: Vốn góp ban đầu, lợi nhuận giữ lại, và tăng vốn bằng phát hành cổ phiếu mới. • Vốn góp ban đầu: Bất kỳ một doanh nghiệp nào khi được thành lập đều phải có một số vốn ban đầu nhất định do các chủ sở hữu góp.
• Nguồn vốn từ lợi nhuận giữ lại: Nguồn vốn tích lũy từ lợi nhuận giữ lại là bộ phận lợi nhuận được sử dụng để tái đầu tư, mở rộng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. • Phát hành cổ phiếu: Cổ phiếu là chứng từ xác nhận quyền sở hữu và lợi ích hợp pháp của người sở hữu cổ phiếu đối với tài sản hoặc vốn của công ty cổ phần. Vốn nợ phải trả: Vốn nợ phải trả hay vốn vay có vị trí đặc biệt quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nó có thể đáp ứng các nhu cầu về vốn trong ngắn hạn hoặc dài hạn, có thể huy động được số vốn lớn, tức thời.
Doanh nghiệp có thể vay nợ từ các nguồn: vốn vay ngân hàng, tín dụng thương mại và vay thông qua phát hành trái phiếu. • Nguồn vốn vay ngân hàng: Vốn vay ngân hàng đóng vai trò quan trọng nhất đối với sự phát triển của doanh nghiệp. Không một doanh nghiệp nào có thể tồn tại vững chắc trên thị trường mà không vay vốn ngân hàng hoặc sử dụng tín dụng thương mại. Vốn vay ngân hàng có thể phân loại theo thời hạn vay, bao gồm: Vay dài hạn (từ 3 năm trở lên, có nơi tính từ 5 năm trở lên), vay trung hạn (từ 1 năm đến 3 năm) và vay ngắn hạn (dưới 1 năm).
Tùy theo tính chất và mục đích 8 sử dụng, ngân hàng cũng có thể phân loại cho vay thành các loại như: Cho vay đầu tư tài sản cố định, cho vay đầu tư tài sản lưu động, cho vay để thực hiện dự án. Nguồn vốn vay ngân hàng vẫn tồn tại những hạn chế về điều kiện tín dụng, kiểm soát của ngân hàng và lãi suất cho vay. • Nguồn vốn tín dụng thương mại: Nguồn vốn này xuất phát từ việc doanh nghiệp chiếm dụng tiền hàng của nhà cung cấp hay trả chậm. Việc chiếm dụng này có thể phải trả phí hoặc không phải trả phí nhưng lại giúp doanh nghiệp có nguyên vật liệu, điện nước và các yếu tố đầu vào khác.để sản xuất kinh doanh mà chỉ phải bỏ ra một số tiền ít hơn số tiền đáng lẽ phải bỏ ngay lập tức để có được số yếu tố đầu vào đó để tiến hành sản xuất.
• Phát hành trái phiếu công ty: Trái phiếu là một loại chứng khoán xác nhận nghĩa vụ trả nợ (bao gồm vốn gốc và lãi) của tổ chức phát hành trái phiếu đối với người sở hữu trái phiếu. Trái phiếu là tên chung của các giấy vay nợ dài hạn và trung hạn, bao gồm: trái phiếu Chính phủ và trái phiếu công ty. Trái phiếu còn được gọi là trái khoán. Việc lựa chọn phát hành loại trái phiếu nào là rất quan trọng vì nó liên quan đến chi phí trả lãi, cách thức trả lãi, khả năng lưu hành và tính hấp dẫn của trái phiếu.
Trái phiếu được phát hành phải phù hợp với điều kiện cụ thể của doanh nghiệp và tình hình trên thị trường tài chính. Có các loại trái phiếu phổ biến sau: Trái phiếu có lãi suất cố định, trái phiếu có lãi suất thay đổi, trái phiếu có thể thu hồi, trái phiếu có thể chuyển đổi 1. Phân loại vốn theo nguồn huy động Nguồn vốn bên trong doanh nghiệp: là nguồn vốn có thể huy động vào đầu tư được tạo ra từ chính hoạt động của bản thân doanh nghiệp. Nó thể hiện khả năng tự tài trợ cho đầu tư và hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Nguồn vốn bên trong của doanh nghiệp bao gồm: Lợi nhuận giữ lại để tái đầu tư và các quỹ trích lập từ lợi nhuận như khoản khấu hao tài sản cố định, các khoản nợ phải trả có tính chu kỳ, tiền nhượng bán tài sản, vật tư không cần dùng hoặc thanh lý TSCĐ. Nguồn vốn bên ngoài doanh nghiệp: là nguồn vốn doanh nghiệp có thể huy động được từ bên ngoài doanh nghiệp, phục vụ cho đầu tư và hoạt động sản xuất kinh doanh.