chương 1 Tác giả tập trung vào tổng quan về khả năng thanh 3 toán của các doanh nghiệp và các nghiên cứu phân tích các nhân tố tác động đến khả năng thanh toán của doanh nghiệp. Chương 2: Thiết kế nghiên cứu: Trên cơ sở các lý thuyết nêu trên, trình bày cụ thể các bước để tiến hành nghiên cứu đề tài trong thực tiễn. Chương 3: Kết quả nghiên cứu: Đưa ra thực trạng khả năng thanh toán của các doanh nghiệp bất động sản, và tác động của các nhân tố đến khả năng thanh toán của các doanh nghiệp đó. Dựa trên các số liệu thống kê thực tế thu thập được đưa ra các phân tích, đánh giá, kiểm định sự đúng đắn của mô hình các đặc trưng ảnh hưởng được xây dựng.
Từ đó đưa ra kết quả nghiên cứu và giải thích mô hình. Chương 4: Kết luận và một số kiến nghị: Từ những nội dung kết quả nghiên cứu thu được để kết luận và đưa ra một số kiến nghị cho doanh nghiệp, nhà đầu tư và các bên liên quan nhằm cải thiện khả năng thanh toán của doanh nghiệp Bất động sản tại Việt Nam. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KHẢ NĂNG THANH TOÁN CỦA DOANH NGHIỆP VÀ CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN KHẢ NĂNG THANH TOÁN CỦA DOANH NGHIỆP 1. Cơ sở lý luận về khả năng thanh toán của doanh nghiệp 1.
Khái niệm khả năng thanh toán Khả năng thanh toán của doanh nghiệp phản ánh mối quan hệ tài chính giữa các khoản có khả năng thanh toán trong kỳ với các khoản phải thanh toán trong kỳ. Vũ Duy Hào (2010) – Tài chính doanh nghiệp – NXB Đại học Kinh tế quốc dân – Tr. Đối với nhà quản trị doanh nghiệp, khả năng thanh toán có vai trò rất quan trọng, ảnh hưởng lớn đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Do đó, các nhà quản trị rất quan tâm đến quản lý khả năng thanh toán.
Quản lý khả năng thanh toán ảnh hưởng đến lợi nhuận, sự phát triển bền vững của doanh nghiệp và hơn thế nữa còn ảnh hưởng đến sự giàu có của cổ đông. Một phần quan trọng trong việc quản lý khả năng thanh toán là duy trì tính thanh khoản để đảm bảo rằng doanh nghiệp không bị mất khả năng thanh toán, hoặc quá dư thừa khả năng thanh toán. Điều này sẽ làm gia tăng chi phí và giảm khả năng sinh lời của doanh nghiệp. Như vậy, khả năng thanh toán là khả năng của một tổ chức thanh toán các nghĩa vụ dài hạn của mình một cách kịp thời.
Nếu một doanh nghiệp không thể thanh toán bằng chính nguồn lực của mình thì không thể tiếp tục kinh doanh và có thể sẽ bị bán hoặc thanh lý, giải thể hoặc phá sản. Khả năng thanh toán là một khái niệm cốt lõi đối với người cho vay và chủ nợ, những người sử dụng các chỉ số tài chính và thông tin tài chính khác để xác định liệu người vay tiềm năng có đủ nguồn lực để thanh toán các nghĩa vụ của mình hay không. Khi người đứng đầu của một doanh nghiệp quyết định nên tài trợ cho các hoạt động của doanh nghiệp bằng nợ bổ sung hay vốn chủ sở hữu, rủi ro mất khả năng thanh toán là một trong những cân nhắc chính các nhà quản lý. Do đó, doanh nghiệp cần có một số lượng vốn luân chuyển hợp lý để bảo đảm thanh toán các khoản nợ (ngắn hạn hoặc dài hạn), khoản tiêu dùng.
Các nghiên cứu về khả năng thanh toán của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán chưa nhiều. Khi hiểu rõ về khả năng thanh toán của các doanh nghiệp sẽ giúp cho nhà quản lý đưa ra được quyết định đúng đắn về việc sử dụng hợp lý các nguồn vốn và hạn chế các rủi ro đáng tiếc có thể xảy ra. Do đó nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng thanh toán là cần thiết đối với các doanh nghiệp bất động sản niêm yết trên trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Tác động của khả năng thanh toán đến tình hình tài chính của doanh nghiệp Khả năng thanh toán là một chỉ số quan trọng đối với các doanh nghiệp, cổ đông và nhà đầu tư, giúp đánh giá tình hình tài chính, độ tin cậy, tính ổn định và tính bền vững của doanh nghiệp.
Những biến động trong dòng tiền và khả năng phát triển trong hoạt động sản xuất, kinh doanh là những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến rủi ro trong việc thanh toán các khoản nợ ngắn hạn. Do đó, việc theo dõi và duy trì khả năng thanh toán ở mức ổn định, phù hợp với đặc thù của từng doanh nghiệp là rất cần thiết. Nếu doanh nghiệp phải duy trì khả năng thanh toán ở mức quá cao, có thể dẫn đến gánh nặng tài chính, ảnh hưởng tiêu cực đến khả năng đầu tư, mở rộng và phát triển hoạt động kinh doanh. Ngược lại, khả năng thanh toán quá thấp có thể gây ra những rủi ro lớn không chỉ cho doanh nghiệp mà còn cho cổ đông, nhà đầu tư và các bên liên quan.
Cụ thể: Đối với doanh nghiệp: Một doanh nghiệp có khả năng thanh toán thấp sẽ gặp khó khăn trong việc có được lòng tin và tín nhiệm của nhà đầu tư và các bên liên quan, từ đó ít nhận được các khoản chiết khấu có lợi và cơ hội sinh lời tốt. Cùng với đó, khả năng thanh toán thấp sẽ khiến cho doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc thanh toán các khoản nợ đến hạn. Để có thể giải quyết các khoản nợ đến hạn, doanh nghiệp buộc phải bán các khoản đầu tư và tài sản với mức giá thấp, ảnh hưởng đến hình ảnh doanh nghiệp, mất lòng tin của các nhà đầu tư và các bên liên quan, tác động xấu đến việc khôi phục và phát triển của doanh nghiệp trong tương lai. Tuy nhiên, trong trường hợp xấu nhất khi doanh nghiệp mất khả năng thanh toán sẽ dẫn đến vỡ nợ và phá sản.
Đối với các cổ đông và nhà đầu tư: Khả năng thanh toán của doanh nghiệp kém báo động nguy cơ tổn thất tài sản của các cổ đông và nhà đầu tư đã bỏ tiền vào doanh nghiệp. Các cổ đông sẽ có khả năng mất quyền kiểm soát doanh nghiệp và mất đi số vốn đã đầu tư. Đối với các chủ sở hữu doanh nghiệp, khả năng thanh toán kém còn có nguy cơ ảnh hưởng đến tài sản cá nhân, tạo gánh nặng lên gia đình và xã hội nếu xảy ra vợ nợ. Tình trạng chậm trả lãi và gốc của doanh nghiệp do khả năng thanh toán kém sẽ ảnh hưởng xấu đến tình hình tài chính của các chủ nợ của doanh nghiệp và tiềm ẩn rủi ro mất trắng.
Đối với các bên liên quan: Khả năng thanh toán kém làm áp lực trả nợ của doanh nghiệp tăng, tạo áp lực tài chính và ảnh hưởng đến việc thực hiện các nghĩa vụ với các bên liên quan. Tiêu biểu như việc đình trệ hoạt động sản xuất kinh doanh, không thể thực hiện hợp đồng đã ký, ảnh hưởng nghiêm trọng đến khách hàng và các nhà cung cấp của doanh nghiệp. Tóm lại, việc theo dõi và duy trì khả năng thanh toán ở mức phù hợp là rất quan trọng. Từ những kết quả đánh giá, phân tích khả năng thanh toán đó, các nhà quản trị có 6 thể rút kinh nghiệm và đưa ra giải pháp cải thiện tình hình và phát triển doanh nghiệp.
Các nhà đầu tư và các bên liên quan có thêm căn cứ để đưa ra quyết định, hạn chế rủi ro có thể xảy ra trong tương lai. “Nếu một doanh nghiệp không thể thanh toán các khoản nợ ngắn hạn của mình, sự tồn tại của nợ là điều đáng nghi ngờ. Do đó, tất cả các phép đo khác trong phân tích chỉ đóng vai trò thứ yếu. Trần Thị Thanh Tú (2018) – Giáo trình Phân tích tài chính – NXB Trường Đại học Kinh tế - Tr.
Thước đo khả năng thanh toán của doanh nghiệp Việc phân tích về khả năng thanh toán của doanh nghiệp sẽ tập trung vào theo dõi các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, đánh giá khả năng sinh lời từ việc bán các sản phẩm và dịch vụ, các nhu cầu và tính toán lượng vốn lưu động ròng. Ta có sáu chỉ số để đánh giá khả năng thanh toán của một doanh nghiệp thường sử dụng như sau: Hệ số khả năng thanh toán tổng quát: Hệ số khả năng thanh toán tổng quát là hệ số tổng quát nhất đánh giá năng lực thanh toán của doanh nghiệp trong ngắn và dài hạn. Hệ số phả ánh mối quan hệ giữa tài sản mà doanh nghiệp hiện đang quản lý, sử dụng với tổng số nợ phải trả. Với cùng đơn vị tính, một đồng nợ phải trả của doanh nghiệp sẽ có bao nhiêu đồng tài sản đảm bảo.
Hệ số khả năng thanh toán tổng quát được khái quát hóa bằng công thức sau: 𝑇ổ𝑛𝑔 𝑡à𝑖 𝑠ả𝑛 𝐻ệ 𝑠ố 𝑘ℎả 𝑛ă𝑛𝑔 𝑡ℎ𝑎𝑛ℎ 𝑡𝑜á𝑛 𝑡ổ𝑛𝑔 𝑞𝑢á𝑡 = 𝑁ợ 𝑝ℎả𝑖 𝑡𝑟ả Nếu hệ số ≥ 1: Chứng tỏ doanh nghiệp có đủ và thừa khả năng thanh toán, khi đó tình hình của doanh nghiệp khá khả quan, tác động tích cực đến hoạt động kinh doanh, đem lại hiệu quả tài chính tốt. Nếu hệ số < 1: Chứng tỏ doanh nghiệp không có khả năng thanh toán, chỉ tiêu này càng nhỏ dẫn tới doanh nghiệp sắp bị giải thể hoặc phá sản trong tương lai, doanh nghiệp cần nhanh chóng hành động, đưa ra các giải pháp xử lý phù hợp tránh việc phá sản có thể xảy ra. Tuy nhiên, giá trị của chỉ tiêu chủ yếu đúng về mặt lý thuyết còn trên thực tế chỉ tiêu này luôn lớn hơn 1. Vì nếu giá trị của chỉ tiêu bằng 1, tức là toàn bộ tài sản của doanh nghiệp được tài trợ bằng nợ vay, doanh nghiệp không có đồng vốn chủ sở hữu nào.
Điều này thể hiện rằng doanh nghiệp phụ thuộc hoàn toàn vào nguồn tài trợ từ bên ngoài để duy trì và phát triển hoạt động kinh doanh của mình. Sự phụ thuộc đối với nợ vay đặt doanh nghiệp trong một tình hình rủi ro tài chính cao. Bất kỳ biến động tiêu cực nào trong doanh thu hoặc chi phí cũng có thể ảnh hưởng đến khả năng thanh toán nợ vay. Doanh nghiệp sẽ phải đối mặt với các khoản lãi suất và chi phí liên quan đến việc 7 vay nợ.
Nếu lãi suất tăng lên, chi phí vay nợ sẽ tăng, gây áp lực lớn cho tài chính của doanh nghiệp. Đồng thời, do không có vốn chủ sở hữu để chịu rủi ro, các nhà đầu tư hoặc ngân hàng có thể đanh sgias doanh nghiệp như một đối tác rủi ro cao hơn, và có thể yêu cầu lãi suất cao hơn hoặc các điều kiện vay nợ khắt khe hơn.