Chương I: Giới thiệu Chương II: Tổng quan các nghiên cứu trước đây Chương III: Phương pháp nghiên cứu Chương IV: Kết quả nghiên cứu Chương V: Kết luận 8 CHƯƠNG II: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 2.1 Khung lý thuyết Do bài nghiên cứu này tác giả dựa trên phương pháp luận của Fama- French (1993) – mô hình ba nhân tố thế nên tác giả sẽ giới thiệu phương pháp kể trên như một lý thuyết nền tảng xuyên suốt bài nghiên cứu nhưng trước hết, tác giả sẽ bắt đầu với lý thuyết CAPM .Đây được xem như là lý thuyết nền tảng cho mô hình ba nhân tố Fama – French.1 Lý thuyết mô hình CAPM Nếu như lý thuyết xây dựng danh mục Markowitz , cho chúng ta biết được cách xác định và ước lượng rủi ro và tỷ suất sinh lợi của từng danh mục cụ thể để từ đó đa dạng hoá đầu tư để giảm thiểu rủi ro ro tổng thể và cũng chỉ ra cách đa dạng hoá đầu tư hiệu qủa thì mô hình CAPM lại cho chúng ta thấy được mối tương quan giữa rủi ro và thu nhập kì vọng và sử dụng để định giá các chứng khoán có mức độ rủi ro cao. CAPM được ba nhà nhà kinh tế học William Sharpe, John Lintner và Jack Treynor đưa ra vào những năm giữa thập niên 60, với cơ sở lý luận chặt chẽ và đơn giản của CAPM đã khiến nó trở thành một trong những mô hình có ảnh hưởng mạnh mẽ nhất trong giới tài chính. Trong mô hình này, lợi nhuận kỳ vọng của một chứng khoán bằng lợi nhuận không rủi ro (risk-free) cộng với một khoản bù đắp rủi ro dựa trên cơ sở rủi ro toàn hệ thống của chứng khoán đó. Còn rủi ro không toàn hệ thống không được xem xét trong mô hình này do nhà đầu tư có thể xây dựng danh mục đầu tư đa dạng hoá để loại bỏ loại rủi ro này.
Công thức tính toán như sau: 9 Rs = Rrisk free + β * (Rmarket - Rrisk-free) với Rs là lãi suất kỳ vọng trên cổ phiếu. Trong đó: Beta là chỉ số phản ánh rủi ro thị trường của một cổ phiếu. Beta có thể được dự đoán dựa trên các số liệu quá khứ Rrisk free là tỷ lệ phi rủi ro, và thường là lãi suất trái phiếu chính phủ vì loại lãi suất này được coi là không có rủi ro thanh toán. Rmarket là thu nhập thị trường kỳ vọng qua thời gian.
Giả định khi sử dụng mô hình CAPM: Thị trường hiệu quả Nhà đầu tư luôn sở hữu một danh mục đầu tư (portfolio) đa dạng hoá Ý tưởng chung đằng sau mô hình định giá tài sản vốn là các nhà đầu tư khi tiến hành đầu tư vốn của mình vào bất cứ tài sản gì thì cũng được bù đắp lại theo hai cách Giá trị tiền tệ theo thời gian và rủi ro. Giá trị tiền tệ theo thời gian thể hiện thông qua tỷ lệ phi rủi ro (Rrisk free) trong công thức và khi dùng tiền để đầu tư vào bất cứ hoạt động nào thì nhà đầu tư sẽ được hưởng sự bù đắp này. Phần còn lại trong công thức thể hiện tỷ lệ rủi ro và tính toán các khoản khác mà nhà đầu tư được hưởng vì đã chấp nhận một tỉ lệ rủi ro cao hơn. Khoản bù đắp này được tính toán thông qua tỉ lệ rủi ro (beta) được sử dụng để so sánh thu nhập từ tài sản so với thu nhập thị trường kì vọng qua một khoảng thời gian và với mức đền bù rủi ro thị trường 10 Mô hình CAPM không phải là mô hình duy nhất dự báo tỷ suất sinh lợi nhưng nó có nền tảng lý thuyết vững chắc.
Mặc dù có nhiều tranh luận và nghiên cứu về tính ổn định của beta cũng như những kiểm định thực nghiệm về mô hình CAPM nhưng về cơ bản CAPM được xem là hiệu quả và đã tồn tại suốt 40 năm qua.2 Mô hình ba nhân tố Fama-French Trong khi mô hình CAPM cho rằng hệ số Beta là công cụ đo lường rủi ro chủ yếu thì lại tồn tại những bằng chứng cho thấy tỷ suất sinh lợi của chứng khoán là hàm số của các yếu tố đa rủi ro chứ không phải chỉ có tỷ suất sinh lợi thị trường như trong mô hình CAPM. Một trong số đó là Fama – French. Hai ông đã bắt đầu nghiên cứu của mình bằng cách quan sát hai loại chứng khoán có xu hướng nhìn chung là tốt hơn thị trường, bao gồm: (i) chứng khoán có giá trị vốn hóa thị trường nhỏ - small caps và (ii) chứng khoán có tỷ lệ giá trị sổ sách trên giá trị thị trường cao (chúng được gọi là những “ chứng khoán giá trị”, trái ngược với chúng là những “ chứng khoán tăng trưởng”). Sau đó, hai nhà nghiên cứu tiếp tục đưa thêm hai nhân tố nữa (nhân tố quy mô và nhân tố giá trị) vào mô hình CAPM truyền thống nhằm phản ảnh sự nhạy cảm của một danh mục đầu tư đối với hai loại chứng khoán này: Ri - Rf = ai + βi * ( Rm - Rf ) + si * SMB + hi * HML + εi Trong đó: Ri chính là tỷ suất sinh lợi của danh mục đầu tư i.
Rf là tỷ suất sinh lợi phi rủi ro. Rm là tỷ suất sinh lợi của danh mục toàn thị trường. Hệ số β trong mô hình ba nhân tố - βi cũng tương tự như β truyền thống trong mô hình CAPM nhưng có giá trị nhỏ hơn, vì có thêm hai nhân tố 11 đã được thêm vào và mỗi nhân tố này đều có hệ số hồi quy riêng để giải thích phần nào tỷ suất sinh lợi của danh mục. SMB là bình quân chênh lệch trong quá khứ của tỷ suất sinh lợi danh mục chứng khoán công ty nhỏ so với danh mục chứng khoán công ty lớn (small caps minus big caps).
HML là bình quân chênh lệch trong quá khứ của tỷ suất sinh lợi danh muc chứng khoán công ty có tỷ lệ giá trị sổ sách trên giá trị thị trường – BE/ME cao và công ty có tỷ lệ này thấp. βi, si, hi lần lượt là các hệ số hồi quy cho nhân tố phần bù rủi ro cho danh mục chứng khoán, nhân tố quy mô - SMB và nhân tố HML – nhân tố giá trị. Có một điều khá thú vị trong nghiên cứu của Fama – French khi hai ông cũng nhận thấy rằng: tỷ suất sinh lợi cao là phần thưởng cho việc chấp nhận một tỷ lệ rủi ro cao. Hệ số si và hi lần lượt đo lường mức độ ảnh hưởng của hai nhân tố SMB và HML đến tỷ suất sinh lợi của danh mục đầu tư.
Danh mục đầu tư bao gồm những chứng khoán giá trị sẽ có hệ số hi cao và ngược lại đối với danh mục bao gồm những chứng khoán tăng trưởng sẽ có hi thấp. Tương tự, danh mục đầu tư bao gồm những chứng khoán có giá trị vốn hóa thị trường cao thì sẽ có hệ số si thấp và ngược lại đối với những danh mục bao gồm những chứng khoán có giá trị vốn hóa thị trường thấp thì hệ số si cao. Mô hình ba nhân tố Fama – French có thể giải thích lên tới 90% tỷ suất sinh lợi của các danh mục đầu tư, thay vì mức độ giải thích chỉ đạt 70% như CAPM khi cùng tiến hành trên cùng một mẫu. Dấu của các hệ số hồi quy chỉ ra rằng, danh mục đầu tư gồm các cổ phần của các công ty quy mô nhỏ và 12 chứng khoán giá trị có tỷ suất sinh lợi kỳ vọng cao hơn, và có lẽ cũng có rủi ro kỳ vọng cao hơn , hơn là tỷ suất sinh lợi của danh mục đầu tư gồm các cổ phần của công ty lớn và chứng khoán tăng trưởng.
Điểm mấu chốt của mô hình ba nhân tố là nó cho phép các nhà đầu tư có thể đong đo danh mục đầu tư của họ để chúng có độ nhạy cảm cao hơn hay thấp hơn đối với các nhân tố rủi ro cụ thể, và vì vậy mà các nhà đầu tư có thể định hướng một cách chính xác hơn vào mức độ tỷ suất sinh lợi mong đợi đạt được.2 Các nghiên cứu thực nghiệm Connor và Senghal (2001) sử dụng dữ liệu giá chứng khoán của bài nghiên cứu bao gồm các giá chứng khoán điều chỉnh cuối tháng của 364 công ty từ tháng 06/1989 đến 03/1999. Mẫu các công ty được thiết lập dựa theo danh sách CRISIL-500. Giá trị sổ sách mỗi cổ phần và số lượng các cổ phần hiện đang lưu hành được thống kê vào cuối tháng 3 mỗi năm. Nguồn dữ liệu lấy từ CMEI Provis, nhà cung cấp thông tin tài chính của các công ty ở Ấn Độ.
Quá trình kiểm định hiệu quả của mô hình Fama – French ở thị trường Ấn Độ được tiến hành theo lý thuyết hồi quy đa nhân tố (Campbell, Lo và McKinley, 1997). Kết quả kiểm định hiệu quả của các mô hình định giá khi áp dụng trên thị trường Ấn Độ cho thấy, nhân tố thị trường là nhân tố có khả năng giải thích mạnh nhất trong các nhân tố, đối với cả sáu danh mục theo quy mô và giá trị. Khi được sử dụng một mình, mô hình có nhân tố thị trường (CAPM) sẽ có hệ số R2 hiệu chỉnh khoảng 70-80%. Hệ số này giảm xuống dưới 25% khi sử dụng hai nhân tố khác mà không có nhân tố thị trường (nhân tố SMB và HML).
Tuy nhiên, hai nhân tố này cũng góp phần giải thích phần nào tỷ 13 suất sinh lợi. Ngoại trừ trường hợp danh mục B/L, hệ số R2 hiệu chỉnh trong mô hình hồi quy ba nhân tố luôn cao hơn nhiều so với mô hình đơn nhân tố CAPM. Bundoo (2004) với mục đích đổi mới mô hình ba nhân tố Fama – French: bằng chứng mới từ một thị trường Chứng khoán đang phát triển. Dữ liệu là các báo cáo thường niên của các công ty được thu thập từ các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán trong khoảng thời gian từ 1997 đến 2003.
Bài nghiên cứu này sử dụng lại phương pháp luận mà Fama và French (1993) và nhiều nghiên cứu khác Những phát hiện của bài nghiên cứu có thể được tóm gọn như sau: mô hình ba nhân tố Fama – French vẫn hiệu quả khi áp dụng vào thị trường chứng khoán Mauritius. Hay nói cách khác cả hai nhân tố quy mô và tỷ lệ BE/ME đều có ảnh hưởng lên tỷ suất sinh lợi đối với thị trường chứng khoán Mauritius. Ảnh hưởng của nhân tố quy mô và nhân tố giá trị có thể hữu ích đối với các nhà quản lí danh mục và nhà đầu tư vốn.