chương 1 và chương 2, trong chương 3 này, luận án tiến hành xây dựng giả thuyết nghiên cứu và trình bày phương pháp nghiên cứu với thiết kế nghiên cứu, xây dựng mô hình nghiên cứu, nguồn dữ liệu, tổng thể mẫu nghiên cứu, và phương pháp phân tích dữ liệu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu thực nghiệm sự tác động của quản trị công ty tới hiệu quả tài chính của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Trong phần đầu của chương 4, luận án trình bày sơ lược về các công ty niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Việt Nam và đặc điểm quản trị công ty tại Việt Nam. Trong phần tiếp theo của chương 4, luận án trình bày sơ lược thống kê mô tả số liệu và phân tích tương quan cho các biến độc lập và biến kiểm soát được sử dụng trong mô hình.
Tiếp theo, luận án trình bày cụ thể kết quả hồi quy và các kiểm định khuyết tật của mô hình. Chương 5: Thảo luận kết quả nghiên cứu, một số kiến nghị và kết luận. Trên cơ sở kết quả kiểm chứng thực nghiệm trong chương 4, luận án tiến hành luận giải và thảo luận kết quả nghiên cứu. Tiếp theo, luận án sẽ đưa ra các đề xuất, khuyến nghị cho các nhà quản trị công ty, các cơ quan quản lý nhà nước và các cổ đông của công ty.
Cuối cùng, luận án nêu ra những hạn chế trong quá trình nghiên cứu và đề xuất khả năng nghiên cứu tiếp theo. Tổng quan các nghiên cứu về sự tác động của quản trị công ty đến hiệu quả tài chính của công ty phi tài chính Theo lý thuyết đại diện, trong công ty luôn tồn tại sự xung đột lợi ích giữa người chủ sở hữu và người quản lý, do sự tách biệt giữa quyền sở hữu và quyền quản lý công ty (Jensen and Meckling 1976). Người quản lý thường có xu hướng theo đuổi các chiến lược tăng quy mô doanh thu trong khi đó các chủ sở hữu (cổ đông) lại mong muốn tối đa hóa lợi nhuận. Bên cạnh đó, người quản lý cũng thường có xu hướng hành động để tối đa hóa những gì cá nhân họ nhận được trên chi phí của chủ sở hữu, do đó, người quản lý luôn tìm cơ hội tự điều chỉnh các thông tin kế toán.
Điều này gây ảnh hưởng xấu đến giá trị của công ty cũng như hiệu quả tài chính (HQTC) của công ty (Healy (1985); Klein (2002)). Để giải quyết vấn đề đại diện Shleifer and Vishny (1997) đã đưa ra phương pháp giải quyết đó là bằng một cơ chế quản trị công ty (QTCT). 9 QTCT được xem là một trong những nhân tố giúp hoàn thiện kết quả hoạt động kinh doanh của công ty (Flavianus, 2015). Bởi vì, thứ nhất, QTCT tốt sẽ là công cụ giúp các nhà đầu tư, các đối tác kinh doanh nhìn rõ hơn về sự phát triển ổn định cũng như sự tin cậy của công ty, từ đó giúp gia tăng lòng tin của nhà đầu tư, đối tác kinh doanh đối với công ty.
Thứ hai, một công ty được quản trị tốt có xu hướng hoạt động hiệu quả hơn và có khả năng tạo ra dòng tiền kỳ vọng trong tương lai cao hơn (Jensen and Meckling, 1976). Tình hình nghiên cứu ngoài nước Các nghiên cứu trên thế giới về mối quan hệ giữa QTCT và HQTC của công ty chủ yếu tập trung vào một số đặc điểm của quản trị công ty (Davis và công sự (1997); Klein (1998); Gillan (2006) Guest (2009); Bhagat and Bolton (2009); Roodposhti and Chasmi (2011); Hassan and Ahmed (2012); Tornyeva and Wereko (2012)), chẳng hạn như: Thứ nhất, đặc điểm của Hội đồng quản trị (HĐQT), bao gồm: tính độc lập, trình độ chuyên môn của các thành viên, số lượng thành viên nữ, quy mô HĐQT, và quyền kiêm nhiệm. Thứ hai, cấu trúc sở hữu, bao gồm: sở hữu của các thành viên HĐQT, sở hữu của Ban giám đốc (BGĐ), sở hữu của nhà đầu tư lớn, sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài. Thứ ba, đặc điểm của BKS, bao gồm: tính độc lập, trình độ chuyên môn và số lượng thành viên BKS.
Thứ tư, cơ chế khen thưởng dành cho thành viên HĐQT, BGĐ. Đặc điểm Hội đồng quản trị và hiệu quả tài chính Một trong những đặc điểm của HĐQT được cho là gây nhiều tranh luận nhất đó là sự kiêm nhiệm - một người giữ hai vị trí: chủ tịch HĐQT và tổng giám đốc điều hành công ty (Ho and Wong (2001); Gul and Leung (2004)). Theo lý thuyết đại diện việc kiêm nhiệm thường dẫn đến tác động tiêu cực cho hoạt động của công ty vì người chịu trách nhiệm điều hành và người kiểm soát, đánh giá hoạt động điều hành của công ty là một người và dẫn đến việc đánh giá hoạt động công ty là không khách quan, về lâu dài sẽ ảnh hưởng đến kết quả hoạt động của công ty (Gillan (2006); Raluca (2013)). Ủng hộ quan điểm trên, nghiên cứu của Bhagat and Bolton (2008) cũng đưa ra bằng chứng về tác động tiêu cực giữa việc kiêm nhiệm và HQTC của công ty.
Tuy nhiên, lý thuyết người quản gia lại cho rằng việc kiêm nhiệm có tác động tích cực đến kết quả hoạt động của công ty vì người được giữ chức vụ kiêm nhiệm này có thể điều hành và giám sát công ty một cách rõ ràng, và có sự thống nhất trong lãnh đạo công ty (Davis và công sự (1997); Adams và cộng sự (2005)). Cùng quan điểm với lý thuyết quản gia, Brickley và cộng sự (1997) đã khẳng định chủ tịch HĐQT nên kiêm nhiệm vị trí tổng giám đốc điều hành, vì như vậy ông ta mới có thể phối hợp hành động của 10 HĐQT với việc thực hiện các chiến lược của công ty một cách nhanh chóng hơn, tạo cho công ty những lợi thế cạnh tranh, đặc biệt là trong điều kiện kinh doanh khó khăn. Trong nghiên cứu của Yang and Zhao (2014) về các công ty của Mỹ giai đoạn 1979 - 1998 dưới sự tác động của thỏa thuận thương mại tự do giữa Mỹ và Canada năm 1989 (FTA) đã đưa ra bằng chứng việc kiêm nhiệm giúp công ty hoạt động hiệu quả hơn là việc tách biệt nhất là khi sự cạnh tranh ngày một khó khăn, vì sự kiêm nhiệm giúp giảm chi phí thông tin và chi phí giám sát. Nghiên cứu của Guest (2009) về sự tác động của quy mô HĐQT tới HQTC của 2746 công ty được niêm yết và hoạt động tại Anh từ năm 1981 đến 2002, đã tìm thấy bằng chứng về sự tác động ngược chiều của quy mô HĐQT đến HQTC của công ty được đo lường bằng Tobin’s Q, tỷ số khả năng sinh lời, lợi nhuận cổ phiếu và sự tác động ngược chiều này được phản ánh rõ nhất trong các công ty lớn, có quy mô HĐQT lớn.
Điều này có thể được lý giải dựa theo quan điểm của Lipton and Lorsch (1992), Jensen (1993) như sau: ban đầu khi quy mô HĐQT gia tăng tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát huy chức năng của HĐQT, tuy nhiên sự gia tăng này cũng dẫn đến tính ỷ lại, chủ quan trong công việc giám sát của HĐQT, và đồng thời sự trao đổi thông tin giữa các thành viên HĐQT cũng trở nên phức tạp hơn, việc ra quyết định cũng bị kéo dài và kém hiệu quả, dẫn đến hiệu quả hoạt động của công ty cũng bị suy giảm. Lipton and Lorsch (1992), Jensen (1993) đề xuất quy mô HĐQT không nên nhiều hơn 8 đến 9 thành viên. Trái ngược với quan điểm trên, Klein (1998) cho rằng quy mô HĐQT lớn sẽ hỗ trợ người quản lý tốt hơn khi môi trường kinh doanh ngày càng phức tạp. Bên cạnh đó quy mô HĐQT lớn sẽ dễ dàng thu thập các thông tin và nắm bắt các thông tin hơn, do đó dẫn đến tăng hiệu quả hoạt động của công ty (Adams and Mehran (2005); Dalton và cộng sự (1999)).
Các kết quả nghiên cứu thực nghiệm về sự tác động của thành viên nữ trong HĐQT tới HQTC của công ty cũng đã tìm thấy mối quan hệ tích cực giữa tỷ lệ nữ giới trong HĐQT với HQTC của công ty (Erhardt và cộng sự (2003); Carter và cộng sự (2003)). Theo Erhardt và cộng sự (2003) về cơ bản, những công ty có nhiều thành viên nữ trong HĐQT sẽ gia tăng HQTC cho công ty. Báo cáo “Đa dạng giới và hiệu quả doanh nghiệp” của ngân hàng Thuỵ Sĩ Credit Suisse phản ánh kết quả đầy ấn tượng của cuộc điều tra do Credit Suisse tiến hành trong vòng 6 năm (2005-2011) khảo sát 2.360 công ty tại 46 nước cho thấy những công ty có phụ nữ tham gia HĐQT đạt ROE cao hơn (trung bình 4%) và tỷ lệ tăng trưởng cũng cao hơn (trung bình 4%) so với các công ty không có phụ nữ tham gia HĐQT. Báo cáo kết luận các công ty có phụ nữ tham gia HĐQT có sự gia tăng ổn định trong hiệu quả kinh doanh và lợi nhuận (Tôn 11 Nữ Thị Ninh, 2014).
Tuy nhiên, Jianakoplos and Bernasek (1998) lại cho rằng sự đa dạng giới tính khiến phản ứng với rủi ro của các thành viên HĐQT khác nhau, gây bất lợi vì làm gia tăng khả năng mâu thuẫn nội bộ, làm chậm quá trình ra quyết định (Hambrick và cộng sự, 1996). Adams and Ferreira (2009) đã kết luận mối tương quan âm giữa tỷ lệ nữ giới trong HĐQT và chỉ số Tobin’s Q khi phân tích các doanh nghiệp tại Mỹ. Tuy nhiên, vẫn có những bằng chứng thực nghiệm cho thấy kết quả khác nhau, chẳng hạn như Rose (2007), sử dụng dữ liệu của tất cả các công ty niêm yết tại Đan Mạch từ năm 1998 đến 2001, cho thấy có một mối quan hệ không đáng kể giữa tỷ lệ nữ giới trong HĐQT và HQTC. Các nghiên cứu về tính độc lập, trình độ chuyên môn (trình độ học vấn) của thành viên HĐQT tới HQTC của công ty cũng được tìm hiểu trong rất nhiều công trình nghiên cứu (Hayes and Lee (1999); Jalbert và cộng sự (2002); Perry and Shivdasani (2005)).
Mặc dù các quan điểm về sự tác động này còn gây nhiều tranh luận. Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu trên đều chỉ ra sự tác động tích cực của những yếu tố này đến kết quả hoạt động của công ty. Cấu trúc sở hữu và hiệu quả tài chính Nghiên cứu của Jensen and Meckling (1976) kết luận tỷ lệ sở hữu cổ phần của thành viên BGĐ có tác động tích cực đến hiệu quả hoạt động của công ty, theo đó tỷ lệ này càng lớn, thì người quản lý càng có xu hướng quyết định nhằm tối đa hóa lợi ích của chủ sở hữu, vì điều này cũng đồng nghĩa với việc tối đa hóa lợi ích của họ. Bhagat and Bolton (2009) nghiên cứu 1.