Luận văn: Phân tích dùng thuốc trên bệnh nhân ung thư đại trực tràng - Ngô Thị Duyên

Tài liệu nghiên cứu chi tiết về việc sử dụng thuốc, phác đồ hóa trị và các biến cố bất lợi trong điều trị ung thư đại trực tràng tại Thái Bình.

Trường đại học

Đại học Dược Hà Nội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn Thạc sĩ Dược học

2019

99
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về ung thư đại trực tràng

Ung thư đại trực tràng là bệnh lý ác tính phổ biến trong dân số toàn cầu và tại Việt Nam. Tại Thái Bình, tình hình mắc bệnh này ngày càng gia tăng, đặc biệt ở những người cao tuổi. Bệnh thường được phát hiện ở giai đoạn II-III, khi đã có sự xâm lấn và di căn hạch. Phân loại giai đoạn bệnh theo hệ thống TNM giúp xác định phương án điều trị phù hợp. Các yếu tố nguy cơ bao gồm tuổi tác, chế độ ăn uống, lịch sử gia đình và bệnh lý ruột. Việc hiểu rõ đặc điểm dịch tễ học là cơ sở để xây dựng chiến lược phòng chống và điều trị hiệu quả tại các cơ sở y tế địa phương.

1.1. Dịch tễ bệnh ung thư đại trực tràng

Ung thư đại trực tràng chiếm vị trí hàng thứ ba trong các bệnh ung thư phổ biến. Tại Thái Bình, tỷ lệ mắc bệnh tăng đáng kể trong hai thập kỷ qua. Các yếu tố dịch tễ học bao gồm tuổi trên 50, giới tính nam cao hơn nữ. Chế độ ăn giàu chất béo, ít chất xơ, thừa cân, béo phì là những nguy cơ chính. Điều kiện sống, công nghiệp hóa làm tăng nguy cơ mắc bệnh. Phát hiện sớm thông qua sàng lọc giúp cải thiện tiên lượng bệnh đáng kể.

1.2. Phân loại giai đoạn bệnh

Phân loại TNM là hệ thống chuẩn quốc tế dùng để xác định giai đoạn ung thư đại trực tràng. Giai đoạn I: ung thư giới hạn trong niêm mạc và cơ bản. Giai đoạn II: xâm lấn qua lớp cơ hoặc cấu trúc xung quanh. Giai đoạn III: có di căn hạch bạch huyết. Giai đoạn IV: có di căn xa. Tại Thái Bình, phần lớn bệnh nhân được chẩn đoán ở giai đoạn II-III, yêu cầu điều trị hóa trị bổ trợ.

II. Hóa trị liệu trong điều trị ung thư đại trực tràng

Hóa trị liệu đóng vai trò quan trọng trong điều trị ung thư đại trực tràng giai đoạn II-III tại Thái Bình. Các phác đồ hóa chất tiêu chuẩn như 5-FU, oxaliplatin và irinotecan được sử dụng rộng rãi. Phác đồ FOLFOXFOLFIRI là những lựa chọn chính trong hóa trị bổ trợ. Mục tiêu của hóa trị bổ trợ là tiêu diệt các tế bào ung thư còn sót lại sau phẫu thuật, cải thiện tỷ lệ sống sót. Liều dùng được tính toán dựa trên diện tích bề mặt cơ thể (BSA) của bệnh nhân. Thời gian điều trị thường từ 6-8 chu kỳ, mỗi chu kỳ 14 hoặc 21 ngày tùy vào phác đồ.

2.1. Hóa trị bổ trợ giai đoạn II III

Hóa trị bổ trợ được áp dụng cho bệnh nhân ung thư đại trực tràng giai đoạn II-III để giảm nguy cơ tái phát. Tại Trung tâm Ung bướu Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thái Bình, phác đồ được lựa chọn dựa trên tình trạng sức khỏe, chức năng thận, gan bệnh nhân. Liều dùng khởi điểm có thể điều chỉnh tùy theo khả năng chịu đựng. Các hướng dẫn ESMO được tham khảo để đảm bảo chất lượng điều trị.

2.2. Các hóa chất điều trị chính

5-Fluorouracil (5-FU) là hóa chất cơ sở trong hầu hết các phác đồ. Oxaliplatin là chất cộng hợp, giúp tăng hiệu quả điều trị. Irinotecan (CPT-11) được sử dụng trong phác đồ FOLFIRI. Liều dùng 5-FU thường từ 400-600 mg/m² tuỳ phác đồ. Oxaliplatin liều 85 mg/m², irinotecan liều 180 mg/m². Các hóa chất được truyền theo đúng quy trình, liều lượng để đảm bảo hiệu quả điều trị và an toàn cho bệnh nhân.

III. Các biến cố bất lợi từ hóa trị liệu

Biến cố bất lợi của thuốc (ADE) là những phản ứng không mong muốn xảy ra khi sử dụng hóa trị liệu ung thư. Tại Thái Bình, các ADE thường gặp bao gồm độc tính hematologic, tiêu hóa, thần kinh ngoại biên. Độc tính cấp tính xuất hiện trong quá trình điều trị, trong khi độc tính trễ có thể xuất hiện sau vài tháng. Các ADE cấp độ cao có thể đe dọa tính mạn hoặc buộc phải dừng điều trị. Giám sát chặt chẽ qua xét nghiệm cận lâm sàng và đánh giá lâm sàng định kỳ là cần thiết. Xử trí kịp thời các ADE giúp bệnh nhân dung nạp điều trị tốt hơn, hoàn thành đầy đủ phác đồ.

3.1. Các biến cố cận lâm sàng thường gặp

Giảm bạch cầu là độc tính hematologic phổ biến nhất, với nguy cơ nhiễm trùng tăng. Giảm tiểu cầu làm tăng nguy cơ chảy máu. ALAT, ASAT tăng cao cho thấy độc tính gan. Giảm hemoglobin gây thiếu máu, mệt mỏi. Tại Thái Bình, các xét nghiệm máu được thực hiện trước mỗi chu kỳ hóa trị. Các kết quả bất thường được xử trí bằng thuốc hỗ trợ như G-CSF, truyền máu. Liều hóa trị có thể giảm hoặc trì hoãn nếu các chỉ số không phục hồi.

3.2. Các biến cố lâm sàng và xử trí

Buồn nôn, nôn là ADE thường gặp nhất (60-90% bệnh nhân). Tiêu chảy, táo bón ảnh hưởng đến chất lượng sống. Neuropathy ngoại biên từ oxaliplatin gây tê tay chân. Mệt mỏi, sốt là những triệu chứng toàn thân. Xử trí ADE bao gồm sử dụng thuốc chống nôn 5-HT3, hỗ trợ tiêu hóa, giảm đau. Theo hướng dẫn CTCAE, các ADE được phân loại từ độ 1-4 theo mức độ nghiêm trọng.

IV. Quản lý hợp lý sử dụng thuốc tại Thái Bình

Phân tích tính hợp lý trong sử dụng thuốc ung thư đại trực tràng tại Thái Bình là nền tảng đảm bảo chất lượng điều trị. Liều dùng thực tế phải tuân thủ theo liều dùng lý thuyết dựa trên BSA bệnh nhân. Sai lệch quá 10% có thể ảnh hưởng đến hiệu quả hoặc độc tính. Đường dùng, thời gian truyền phải đúng quy chuẩn để tránh biến cố. Sử dụng dung môi phù hợp (nước muối, dextrose) là bắt buộc. Phác đồ chống nôn phải được áp dụng trước hóa trị. Giáo dục bệnh nhân, theo dõi tuân thủ điều trị, ghi chép chi tiết là những yếu tố chính để đạt hiệu quả điều trị tối ưu.

4.1. Tính hợp lý liều dùng và phác đồ

Tại Trung tâm Ung bướu Thái Bình, liều dùng được tính toán chính xác dựa trên diện tích bề mặt cơ thể. Phác đồ FOLFOX: 5-FU 400 mg/m² bolus + 600 mg/m² truyền liên tục, oxaliplatin 85 mg/m². Phác đồ FOLFIRI: 5-FU tương tự, irinotecan 180 mg/m². Sai số liều dùng được kiểm soát < 5% qua hệ thống tính toán và kiểm nghiệm kép. Các yếu tố như thận, gan được đánh giá để điều chỉnh liều.

4.2. Hướng dẫn sử dụng hóa trị bổ trợ

Các hướng dẫn điều trị từ ESMO, ASCO được áp dụng tại Thái Bình. Bệnh nhân giai đoạn II high-risk (T4, G3-4) nên nhận hóa trị bổ trợ. Giai đoạn III bắt buộc hóa trị bổ trợ. Thời gian đợi sau phẫu thuật tối ưu là 4-8 tuần. Hóa trị kéo dài 6 chu kỳ phác đồ. Giám sát toàn diện, ghi chép kỹ lưỡng các ADE và kết quả điều trị.

21/12/2025
Ngô thị duyên phân tích tình hình sử dụng thuốc trên bệnh nhân ung thư đại trực tràng tại trung tâm ung bướu bệnh viện đa khoa tỉnh thái bình luận văn thạc sĩ dược học

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Ung thư đại trực tràng là một trong những bệnh ung thư phổ biến trên thế giới. Theo thống kê của cơ quan nghiên cứu ung thư quốc tế IACR (Globocan) năm 2018, ung thư đại trực tràng đứng thứ 3 thế giới về tỷ lệ mắc mới sau ung thư phổi và ung thư vú với 10,2% trong tổng số các bệnh ung thư, và tỷ lệ tử vong thuộc hàng thứ 2 sau ung thư phổi với 9,5% bệnh nhân tử vong do ung thư [77]. Tại Việt Nam, ung thư đại trực tràng (UTĐTT) là loại ung thư phổ biến thứ 5 ở cả 2 giới về tỷ lệ mắc mới (chiếm 8,9%) [78]. Trong điều trị ung thư đại trực tràng, có nhiều cách thức như phương pháp phẫu thuật, xạ trị, thì hóa trị đóng một vai trò quan trọng trong điều trị bổ trợ, ngăn chặn tái phát, di căn hay trong những trường hợp khối u đại trực tràng không thích hợp để phẫu thuật.

Trên thế giới, nhiều nghiên cứu và thử nghiệm lâm sàng chứng minh đƣợc lợi ích của hóa trị bổ trợ sau phẫu thuật đối với ung thư đại tràng giai đoạn II nguy cơ cao và giai đoạn III [35]. Nhiều nghiên cứu đa trung tâm tiến hành thử nghiệm điều trị hóa chất bổ trợ ung thư đại tràng giai đoạn II, nhằm xác định vai trò của hóa trị liệu và tìm ra các phác đồ thích hợp cho điều trị bổ trợ ung thư đại tràng giai đoạn II [57]. Các hóa chất điều trị ung thư chủ yếu là các nhóm thuốc gây độc tế bào, khoảng điều trị hẹp, khi trong quá trình sử dụng ghi nhận nhiều biến cố bất lợi từ nhẹ đến nặng, gây ảnh hưởng nhiều đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân, thậm chí gây tử vong. Do đó, khi điều trị ung thư đại trực tràng bằng hóa trị liệu cần được theo dõi, giám sát chặt chẽ về liều dùng, cách dùng để giảm thiểu các biến cố bất lợi và xử trí kịp thời các biến cố bất lợi cho bệnh nhân.

Trung tâm Ung bướu - Bệnh viện đa khoa tỉnh Thái Bình có tiền thân là khoa Ung Bướu, sau đó được nâng cấp lên thành Trung tâm Ung bướu vào năm 2017 với 150 giường bệnh. Nơi đây hàng năm tiếp nhận rất nhiều lượt bệnh nhân UTĐTT tới khám và điều trị. Theo thống kê của phòng Kế hoạch tổng hợp, trong 5 tháng đầu năm 2018, tỷ lệ bệnh ung thư đường tiêu hóa là cao nhất trong các đợt điều trị các bệnh ung thư (chiếm 44,1% tổng số đợt điều trị). Trong đó ung thư đại trực tràng chiếm tỷ lệ nhiều nhất trong các đợt điều trị bệnh ung thư đường tiêu hóa (55,7%).

1 Tại Trung tâm, hiện đã và đang sử dụng các phác đồ hóa chất điều trị ung UTĐTT. Trước tình hình trên, việc tổng kết lại tình hình sử dụng thuốc và theo dõi các biến cố bất lợi của bệnh nhân là thật sự cần thiết để nâng cao hiệu quả điều trị và chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân UTĐTT. Vì thế nhóm nghiên cứu thực hiện đề tài “Phân tích tình hình sử dụng thuốc trên bệnh nhân ung thư đại trực tràng tại Trung tâm ung bướu - Bệnh viện đa khoa tỉnh Thái Bình” với các mục tiêu: 1. Phân tích tính phù hợp về liều dùng và cách dùng của phác đồ FOLFOX4, XELOX trong điều trị bổ trợ UTĐTT tại Trung tâm Ung bướu Bệnh viện đa khoa tỉnh Thái Bình.

Phân tích các biến cố bất lợi của thuốc (ADE) ghi nhận được thông qua hoạt động giám sát tích cực về mức độ độc tính, thời điểm ghi nhận biến cố, phác đồ điều trị và các phương thức xử trí. Chúng tôi mong rằng kết quả của đề tài sẽ góp một phần nhỏ cho các bác sỹ và dược sỹ lâm sàng tại bệnh viện trong việc sử dụng thuốc hợp lý, đồng thời phát hiện kịp thời các biến cố bất lợi xảy ra trong suốt quá trình điều trị và có biện pháp xử trí phù hợp, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân. TỔNG QUAN VỀ BỆNH UNG THƯ ĐẠI TRỰC TRÀNG 1. Dịch tễ bệnh ung thư đại trực tràng 1.

Dịch tễ bệnh ung thư đại trực tràng trên thế giới Tại Hoa Kỳ, ung thư đại trực tràng là bệnh ung thư đứng thứ tư trong số các bệnh ung thư về tỷ lệ mắc mới ở cả 2 giới (chiếm 7,3%), với số bệnh nhân nam mắc mới là 80.829, số bệnh nhân nữ mắc mới là 74. Tỷ lệ mắc bệnh ung thư trực tràng ở Liên minh châu Âu là khoảng 125.000 mỗi năm, tương ứng với 35% tổng số bệnh ung thư đại trực tràng, phản ánh 15 - 25 trường hợp /100.000 dân mỗi năm và được dự đoán sẽ tăng thêm ở cả hai giới tính. Tỷ lệ tử vong là 4 - 10/100. Độ tuổi trung bình lúc chẩn đoán là xấp xỉ 70 tuổi, nhưng dự đoán cho thấy con số này sẽ tăng lên trong tương lai [33].

Dịch tễ bệnh ung thư đại trực tràng tại Việt Nam Tại TP.HCM, theo kết quả ghi nhận ung thư quần thể năm 2007 - 2011, UTĐTT đứng hàng thứ ba ở nam với tỷ lệ mắc chuẩn theo tuổi là 16,2/100.000; ở nữ giới đứng hàng thứ tư với tỷ lệ mắc chuẩn theo tuổi là 8,8/100. Theo dữ liệu từ GLOBOCAN năm 2018, tại Việt Nam số bệnh nhân nam mắc mới là 7.607, số bệnh nhân nữ mắc mới là 7. Phân loại giai đoạn bệnh ung thư đại trực tràng Xếp giai đoạn theo Dukes (1932) và Astler – Coller (1954), Modified Astler – Coller có nhiều hạn chế do không đánh giá đủ mức độ, số lượng hạch di căn. Hiện nay các nhà ung thư học áp dụng hệ thống xếp giai đoạn TNM của AJCC/UICC để thống nhất trong việc trao đổi thông tin.

Xếp hạng lâm sàng TNM theo AJCC 2010 [30] T: U nguyên phát Tx: U nguyên phát không đánh giá được. T0: Không có bằng chứng của u nguyên phát. Tis: Ung thư biểu mô tại chỗ (carcinoma insitu): u còn khu trú tại biểu mô hoặc xâm lấn lớp cơ niêm. T1: U xâm lấn lớp dưới niêm.

3 T2: U xâm lấn đến lớp cơ thành ruột. T3: U xâm lấn xuyên lớp cơ đến lớp dưới thanh mạc hay đến mô xung quanh đại tràng hoặc trực tràng không có phúc mạc bao phủ. T4a: U xâm lấn ra tới bề mặt thanh mạc. T4b: U xâm lấn trực tiếp đến cấu trúc xung quanh hay cơ quan khác.

N: Di căn hạch bạch huyết Nx: Hạch vùng không thể đánh giá được. N0: Không có hạch vùng bị di căn. N1c: U hiện diện ở dưới thanh mạc, mạc treo hoặc mô xung quanh không phải cơ của đại trực tràng và không có di căn hạch vùng. M: Di căn xa Mx: Sự hiện diện của di căn xa không thể đánh giá được.

M0: Không có di căn xa. M1a: Di căn 1 cơ quan hoặc vị trí. M1b: Di căn từ 2 cơ quan hay vị trí trở lên. Phân loại giai đoạn bệnh theo TNM theo AJCC 2010 [30] Giai đoạn T N M 0 Tis N0 M0 I T1 N0 M0 T2 N0 M0 IIA T3 N0 M0 IIB T4a N0 M0 IIC T4b N0 M0 IIIA T1-T2 N1/N1c M0 T1 N2a M0 IIIB T3-T4a N1/N1c M0 T2-T3 N2a M0 T1-T2 N2b M0 IIIC T4a N2a M0 T3-T4a N2b M0 T4b N1-N2 M0 IVA Bất kỳ T Bất kỳ N M1a IVB Bất kỳ T Bất kỳ N M1b IVA Bất kỳ T Bất kỳ N M1a 1.

ĐIỀU TRỊ UNG THƯ ĐẠI TRỰC TRÀNG 1. Phẫu thuật Là phương pháp điều trị chủ yếu trong điều trị UTĐTT, bao gồm phẫu thuật triệt căn cho những ung thư mổ được và phẫu thuật tạm thời như mở thông đại tràng cho những ung thư muộn. Trong một số trường hợp đặc biệt như ung thư tái phát, ung thư có di căn, vẫn có thể chỉ định mổ triệt căn [5], [7]. Xạ trị Được chỉ định trong các trường hợp UT trực tràng giữa và đoạn thấp, khi tổn thương chiếm trên ½ chu vi hoặc dính và xâm lấn tổ chức xung quanh.

Xạ trị gồm: xạ trị triệt căn và xạ trị tạm thời [7], [10]. 5 - Xạ trị triệt căn + Xạ trị tiền phẫu giúp thu nhỏ kích thước khối u, làm tổn thương khu trú lại, giảm mức độ xâm lấn, giảm giai đoạn bệnh từ đó giúp phẫu thuật thuận lợi hơn [7]. + Xạ trị hậu phẫu: diệt những tế bào ung thư còn sót. + Hóa xạ trị triệt căn: áp dụng cho UTĐTT không mổ được hoặc có chống chỉ định mổ.

- Xạ trị tạm thời: giảm đau, chống chảy máu, chống chèn ép [10]. Hóa trị và vai trò với ung thư giai đoạn II, III Hóa trị là phương pháp sử dụng các thuốc gây độc tế bào nhằm tiêu diệt các tế bào ác tính trong cơ thể người bệnh ung thư [6]. Hiện tại hóa trị bổ trợ có vai trò rõ ràng và đáng tin cậy cho ung thư giai đoạn III, nhưng vai trò của nó trong giai đoạn II vẫn còn đang bàn cãi [70]. UTĐTT giai đoạn III: có nhiều công trình nghiên cứu cho thấy hóa trị bổ trợ có vai trò làm giảm tỷ lệ tái phát và tăng thời gian sống thêm [59].

UTĐTT giai đoạn II: chỉ định hóa trị bổ trợ chưa được khuyến cáo rộng rãi. Khuynh hướng khuyên nên hóa trị bổ trợ cho những trường hợp có nguy cơ cao như: u T4, thủng hoặc tắc ruột, không đánh giá đủ tình trạng hạch vùng, độ mô học biệt hóa kém, có xâm lấn khoang lympho mạch máu [59]. Đặc điểm một số hóa chất điều trị UTĐTT * Oxaliplatin Là một thuốc chống ung thư chứa platin, thuộc nhóm alkyl hóa. Oxaliplatin được biến đổi không thông qua enzym trong dịch sinh lý thành một số phức hợp có hoạt tính nhất thời, bao gồm monoaquo DACH platin và diaquo DACH platin bằng cách chuyển chỗ ligand oxalate.

Các phức hợp này liên kết đồng hóa trị với chuỗi base đặc hiệu của DNA tạo thành liên kết chéo với DNA. Các liên kết chéo này ức chế DNA sao chép và phiên mã. Sự hiện diện của DACH của oxaliplatin có thể góp phần lớn vào ức chế tổng hợp DNA [4], [74]. Tác dụng không mong muốn của oxaliplatin - Độc tính thần kinh (dị cảm, khó chịu), thời gian và mức độ trầm trọng của bệnh tăng theo liều.

Rối loạn thần kinh cảm giác xảy ra trên đa số các bệnh nhân dùng 6 phác đồ phối hợp oxaliplatin với 5-FU và leucovorin để điều trị bổ trợ ung thư đại trực tràng [4], [74]. - Thần kinh trung ương: mệt mỏi, sốt, đau đầu, mất ngủ, chóng mặt. - Có thể gây dị ứng trên các bệnh nhân có tiền sử dị ứng platin. - Tiêu hóa: buồn nôn, tiêu chảy, nôn, đau bụng, táo bón, chán ăn, khó tiêu, đầy hơi.

- Hệ tạo máu: thiếu máu, giảm tiểu cầu, giảm bạch cầu, giảm bạch cầu trung tính.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ