Tổng quan nghiên cứu
Bệnh lý nhiễm khuẩn nhãn khoa là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây suy giảm thị lực và mù lòa nếu không được chẩn đoán và điều trị kịp thời. Tại Việt Nam, tình trạng kháng kháng sinh đang diễn biến phức tạp do thói quen kê đơn theo kinh nghiệm và việc lạm dụng thuốc chưa được kiểm soát chặt chẽ. Nhằm đánh giá thực trạng sử dụng thuốc tại cơ sở y tế chuyên khoa tuyến tỉnh, đề tài được triển khai tại Bệnh viện Mắt tỉnh Phú Thọ – đơn vị chuyên khoa hạng II với quy mô 110 giường bệnh kế hoạch và 13 khoa phòng chức năng. Nghiên cứu thực hiện phân tích số liệu trên 6.700 bệnh nhân khám ngoại trú và 1.847 hồ sơ bệnh án điều trị nội trú trong giai đoạn từ ngày 01/06/2021 đến ngày 31/12/2021.
Mục tiêu cụ thể của luận văn bao gồm: khảo sát đặc điểm mô hình bệnh tật và thực trạng kê đơn kháng sinh trên bệnh nhân ngoại trú và nội trú; đồng thời phân tích chi tiết tình hình sử dụng thuốc trên 102 bệnh nhân điều trị nội trú bệnh lý viêm giác mạc. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn khi lượng hóa được các chỉ số tiêu thụ thuốc, phát hiện 24,5% tỷ lệ chỉ định chưa phù hợp và ghi nhận tỷ lệ thực hiện xét nghiệm vi sinh mới dừng ở mức 50,0%. Những số liệu này tạo tiền đề khoa học vững chắc giúp Hội đồng Thuốc và Điều trị hoàn thiện danh mục thuốc, chuẩn hóa phác đồ điều trị và nâng cao an toàn người bệnh.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu vận dụng lý thuyết Dược lâm sàng hiện đại kết hợp với quy trình Đánh giá sử dụng thuốc (DUE - Drug Use Evaluation / MUE - Medication Use Evaluation) được Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) khuyến cáo. Khung lý thuyết này cho phép đánh giá có hệ thống tính phù hợp, hiệu quả và độ an toàn của thuốc trong thực hành lâm sàng. Phân loại dược lý áp dụng hệ thống phân nhóm kháng sinh quốc tế bao gồm beta-lactam, aminoglycosid, fluoroquinolon và các hoạt chất kháng nấm.
Về tiêu chuẩn đối chiếu, luận văn căn cứ trực tiếp vào Quyết định số 708/QĐ-BYT ngày 02/03/2015 của Bộ Y tế ban hành "Hướng dẫn sử dụng kháng sinh". Các khái niệm chính được làm rõ gồm: dược động học thuốc tra mắt tại chỗ, kháng sinh toàn thân đường uống, phổ kháng khuẩn trên các tác nhân gây bệnh nhãn khoa thường gặp (như Staphylococcus aureus, Pseudomonas aeruginosa, nấm men, nấm sợi) và mối liên hệ giữa chẩn đoán vi sinh học với kết quả điều trị.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng thiết kế mô tả cắt ngang, hồi cứu dữ liệu từ phần mềm quản lý thông tin bệnh viện tại phòng Kế hoạch tổng hợp và Chỉ đạo tuyến trong khung thời gian 7 tháng (01/06/2021 - 31/12/2021).
Về cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu: Đề tài áp dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện toàn bộ, thu thập tất cả các trường hợp đáp ứng tiêu chuẩn lựa chọn. Mẫu nghiên cứu gồm 6.700 đơn thuốc ngoại trú (trong đó có 5.990 ca mắc bệnh lý viêm nhiễm mắt hoặc hậu phẫu và 710 ca bệnh mắt khác), 1.847 bệnh án nội trú tại các khoa lâm sàng, cùng toàn bộ 102 bệnh án bệnh nhân nội trú viêm giác mạc tại khoa Kết giác mạc - Chấn thương và khoa Nhãn nhi - Khúc xạ. Phương pháp mô tả cắt ngang được chọn vì khả năng phản ánh toàn diện thực trạng sử dụng thuốc tại một giai đoạn cụ thể, hỗ trợ tính toán chính xác tần suất, tỷ lệ phần trăm phân bố và đo lường mức độ tuân thủ hướng dẫn điều trị của Bộ Y tế. Toàn bộ số liệu được tổng hợp và phân tích thống kê y học bằng phần mềm Microsoft Excel.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Khảo sát 6.700 bệnh nhân ngoại trú với 8.799 lượt dùng kháng sinh ghi nhận: tỷ lệ kê đơn kháng sinh tại chỗ chiếm ưu thế áp đảo với 95,4% (8.389 lượt), trong khi kháng sinh toàn thân chỉ chiếm 4,6% (410 lượt). Mặt bệnh viêm nhiễm phổ biến nhất là viêm kết mạc chiếm 56,2% (3.369 ca), tiếp theo là hậu phẫu đục thủy tinh thể chiếm 14,1% (847 ca) và viêm giác mạc chiếm 11,1% (663 ca). Về nhóm thuốc, fluoroquinolon tra mắt được sử dụng nhiều nhất với 5.753 lượt (ofloxacin chiếm 74,7%, moxifloxacin chiếm 25,2%), kế tiếp là aminoglycosid phối hợp với 2.636 lượt (Maxitrol nhỏ mắt chiếm 84,3%). Kháng sinh toàn thân đường uống chủ yếu là cephalexin 500mg (94,4%).
Đối với 1.847 bệnh nhân nội trú, độ tuổi trung bình là 66,7 tuổi, nhóm bệnh nhân trên 60 tuổi chiếm tới 74,3% và nữ giới chiếm 60,2%. Bệnh nhân phẫu thuật đục thủy tinh thể chiếm tỷ lệ cao nhất với 73,0% (1.350 ca). Kháng sinh tại chỗ chiếm 73,6% (3.591 lượt) và toàn thân chiếm 26,4% (1.288 lượt). Nhóm fluoroquinolon tại chỗ chiếm tỷ trọng lớn nhất với 1.878 lượt, trong đó biệt dược Cravit (levofloxacin 1,5%) chiếm tới 84,85%.
Phân tích sâu 102 bệnh án viêm giác mạc nội trú cho thấy viêm loét do nấm chiếm tỷ lệ cao nhất với 40,2% (41 ca), viêm loét giác mạc chiếm 23,5% (24 ca). Đáng chú ý, chỉ có 50,0% bệnh nhân (51 ca) được chỉ định làm xét nghiệm vi sinh. Khi đánh giá tính phù hợp theo Hướng dẫn sử dụng kháng sinh của Bộ Y tế (Quyết định 708/QĐ-BYT), chỉ có 25,5% trường hợp chỉ định phù hợp, 24,5% không phù hợp (chủ yếu do tiếp tục dùng kháng sinh kháng khuẩn khi xét nghiệm đã xác định dương tính với nấm và âm tính với vi khuẩn) và 50,0% không thể đánh giá do thiếu xét nghiệm vi sinh. Thời gian nằm viện trung bình là 8,1 ± 4,3 ngày, kết quả điều trị ghi nhận 92,2% bệnh nhân thuyên giảm và 4,9% khỏi bệnh.
Thảo luận kết quả
Việc tập trung sử dụng kháng sinh tra mắt tại chỗ (chiếm trên 95% ở ngoại trú và gần 74% ở nội trú) là hoàn toàn hợp lý, giúp hoạt chất đạt nồng độ điều trị tối ưu tại nhãn cầu và giảm thiểu nguy cơ tác dụng không mong muốn toàn thân. Tỷ lệ lựa chọn fluoroquinolon thế hệ mới (ofloxacin, levofloxacin, moxifloxacin) ở mức cao phản ánh xu thế lâm sàng đúng đắn trong việc bao phủ các tác nhân Gram âm nguy hiểm như Pseudomonas aeruginosa và các cầu khuẩn Gram dương. Trong các báo cáo định kỳ, mô hình dữ liệu này có thể được minh họa trực quan qua biểu đồ cơ cấu đường dùng và bảng phân bố hoạt chất theo nhóm bệnh lý.
Tuy nhiên, nghiên cứu chỉ ra khoảng trống lớn trong thực hành chẩn đoán cận lâm sàng: tỷ lệ chỉ định xét nghiệm vi sinh ở bệnh nhân viêm giác mạc mới đạt 50,0%. Việc điều trị phụ thuộc chủ yếu vào phán đoán lâm sàng ban đầu dẫn đến 24,5% ca kê đơn kháng sinh không phù hợp trên bệnh nhân nhiễm nấm. Tình trạng này giải thích vì sao thời gian điều trị viêm loét giác mạc do nấm bị kéo dài lên tới trung bình 11,6 ngày, cao hơn nhiều so với các thể viêm giác mạc khác (khoảng 5 đến 7 ngày). Kết quả này nhấn mạnh sự cần thiết phải gắn kết chặt chẽ giữa lâm sàng và cận lâm sàng vi sinh.
Đề xuất và khuyến nghị
Nhằm chuẩn hóa việc sử dụng thuốc kháng khuẩn tại Bệnh viện Mắt tỉnh Phú Thọ, luận văn đưa ra 4 giải pháp trọng tâm:
-
Bắt buộc chỉ định xét nghiệm vi sinh: Ban Giám đốc và Hội đồng Thuốc và Điều trị cần ban hành quy chế chuẩn quy định 100% bệnh nhân viêm loét giác mạc nhập viện nội trú phải được lấy bệnh phẩm soi tươi tìm nấm và nhuộm soi vi khuẩn trước khi dùng thuốc. Đặt mục tiêu nâng tỷ lệ làm xét nghiệm từ 50,0% lên tối thiểu 85,0% trong 6 tháng đầu triển khai.
-
Kiểm soát kê đơn theo kết quả cận lâm sàng: Khoa Lâm sàng phối hợp với Khoa Dược tiến hành rà soát, dừng ngay các chỉ định kháng sinh phổ rộng không cần thiết khi kết quả vi sinh khẳng định dương tính với nấm và âm tính với vi khuẩn. Phấn đấu giảm tỷ lệ kê đơn không phù hợp từ 24,5% xuống dưới 5,0% trong vòng 12 tháng.
-
Mở rộng hoạt động Dược lâm sàng: Phân công dược sĩ lâm sàng tham gia hội chẩn và đi buồng bệnh định kỳ hàng ngày tại các khoa điều trị nội trú, tư vấn lựa chọn kháng sinh và hướng dẫn khoảng cách tra thuốc (cách nhau tối thiểu 5 phút), góp phần rút ngắn thời gian nằm viện trung bình từ 8,1 ngày xuống còn 5 đến 6 ngày.
-
Tổ chức tập huấn định kỳ: Phòng Kế hoạch tổng hợp tổ chức 2 khóa tập huấn mỗi năm cho 100% bác sĩ kê đơn về tài liệu "Hướng dẫn sử dụng kháng sinh" theo Quyết định 708/QĐ-BYT, cập nhật kiến thức về vi sinh nhãn khoa và phòng chống đề kháng kháng sinh.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Nội dung và dữ liệu thực chứng của luận văn mang lại giá trị thiết thực cho nhiều đối tượng chuyên môn:
- Bác sĩ Nhãn khoa: Cập nhật cơ cấu bệnh lý nhiễm trùng mắt tại tuyến tỉnh (với 56,2% viêm kết mạc ngoại trú và 40,2% viêm giác mạc do nấm nội trú), nhận thức rõ vai trò của xét nghiệm vi sinh nhằm tránh việc lạm dụng kháng sinh bao vây.
- Dược sĩ Bệnh viện và Dược sĩ lâm sàng: Tham khảo mô hình phân tích 8.799 lượt kê đơn ngoại trú và 4.879 lượt nội trú để xây dựng danh mục thuốc đấu thầu sát thực tế, đồng thời triển khai quy trình đánh giá sử dụng thuốc (DUE) hiệu quả.
- Hội đồng Thuốc và Điều trị các bệnh viện: Tiếp cận khung đánh giá chỉ định theo tiêu chuẩn Bộ Y tế để xây dựng hướng dẫn sử dụng kháng sinh nội bộ, kiểm soát quỹ Bảo hiểm Y tế và ngăn ngừa vi khuẩn kháng thuốc.
- Học viên sau đại học và Sinh viên ngành Y - Dược: Sử dụng tài liệu làm bài mẫu nghiên cứu chuẩn mực về phương pháp mô tả cắt ngang, kỹ năng thu thập số liệu bệnh án điện tử và phân tích thống kê trong Dược lý - Dược lâm sàng.
Câu hỏi thường gặp
Tại sao kháng sinh tra mắt tại chỗ lại chiếm tỷ lệ cao vượt trội trong nhãn khoa?
Kháng sinh tại chỗ được ưu tiên hàng đầu vì thuốc thấm trực tiếp vào mô tổn thương ở kết mạc và giác mạc, đạt nồng độ diệt khuẩn cao mà hầu như không hấp thu vào tuần hoàn chung. Kết quả nghiên cứu chứng minh tỷ lệ dùng tại chỗ đạt tới 95,4% ở ngoại trú và 73,6% ở nội trú, hạn chế tối đa tác dụng phụ toàn thân.
Nhóm kháng sinh nào được sử dụng phổ biến nhất trong điều trị nội trú và ngoại trú?
Nhóm fluoroquinolon chiếm ưu thế lớn nhất với 5.753 lượt dùng ngoại trú và 1.878 lượt dùng nội trú. Trong đó, ofloxacin chiếm 74,7% ở ngoại trú và levofloxacin 1,5% (Cravit) chiếm 84,85% ở nội trú nhờ phổ kháng khuẩn rộng, hiệu quả cao trên cả vi khuẩn Gram âm và Gram dương.
Vì sao có tới 24,5% chỉ định kháng sinh bị đánh giá là không phù hợp ở bệnh nhân viêm giác mạc?
Nguyên nhân là do nhiều bệnh nhân có kết quả xét nghiệm vi sinh dương tính với nấm nhưng âm tính với vi khuẩn vẫn được bác sĩ kê đơn kháng sinh kháng khuẩn. Thói quen điều trị bao vây này không những không mang lại hiệu quả mà còn làm tăng chi phí và nguy cơ kháng thuốc.
Việc không làm xét nghiệm vi sinh ảnh hưởng như thế nào đến kết quả điều trị?
Có tới 50,0% bệnh nhân viêm giác mạc nội trú không được làm xét nghiệm vi sinh, khiến việc kê đơn hoàn toàn phụ thuộc vào cảm tính lâm sàng. Hạn chế này dẫn đến việc dùng thuốc không đúng căn nguyên, kéo dài thời gian nằm viện trung bình lên 8,1 ngày và khiến 50,0% ca bệnh không thể đánh giá được tính hợp lý.
Luận văn đã áp dụng phương pháp nghiên cứu nào để xử lý số liệu?
Tác giả đã áp dụng phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang, thu thập dữ liệu hồi cứu từ phần mềm quản lý bệnh án điện tử trên 6.700 đơn thuốc ngoại trú, 1.847 bệnh án nội trú và 102 hồ sơ bệnh nhân viêm giác mạc trong 7 tháng, sau đó xử lý bằng phần mềm Microsoft Excel.
Kết luận
- Hoàn thành khảo sát toàn diện thực trạng kê đơn kháng sinh trên 6.700 bệnh nhân ngoại trú và 1.847 bệnh nhân nội trú tại Bệnh viện Mắt tỉnh Phú Thọ năm 2021.
- Xác nhận đường dùng tại chỗ chiếm tỷ trọng chủ đạo (95,4% ngoại trú và 73,6% nội trú), trong đó nhóm fluoroquinolon và aminoglycosid phối hợp được chỉ định phổ biến nhất.
- Phân tích 102 ca viêm giác mạc nội trú chỉ ra 25,5% chỉ định phù hợp, 24,5% chưa phù hợp và 50,0% thiếu xét nghiệm vi sinh phục vụ đánh giá chuyên môn.
- Đề ra lộ trình can thiệp cụ thể nhằm nâng tỷ lệ xét nghiệm vi sinh lên trên 85,0% và hạ tỷ lệ kê đơn kháng sinh không phù hợp xuống dưới 5,0%.
- Bạn đọc có thể tham khảo toàn văn luận văn tại Thư viện Trường Đại học Dược Hà Nội để khai thác chi tiết số liệu và ứng dụng vào công tác thực hành Dược lâm sàng.