Khóa luận Nguyễn Thị Kim Thanh: Dùng thuốc giảm đau sau phẫu thuật tại BV 108

Nghiên cứu đánh giá thực trạng sử dụng thuốc giảm đau sau phẫu thuật tại Bệnh viện 108, đề xuất giải pháp tối ưu hóa hiệu quả điều trị.

Chuyên ngành

Dược

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2025

76
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về đau sau phẫu thuật

Đau sau phẫu thuật là một trong những biến chứng phổ biến nhất mà bệnh nhân phải đối mặt trong giai đoạn hồi phục. Theo nghiên cứu tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, khoảng 70-80% bệnh nhân cảm thấy đau cấp sau phẫu thuật trong 24-48 giờ đầu tiên. Cơ chế gây đau bao gồm tổn thương mô, viêm nhiễm tại vị trí mổ, và kích thích thần kinh. Quản lý đau hiệu quả không chỉ giảm bớt sự khó chịu mà còn tăng tốc độ hồi phục, giảm biến chứng và cải thiện chất lượng cuộc sống bệnh nhân. Hiểu rõ bản chất đau sau phẫu thuật giúp các chuyên gia y tế có thể lựa chọn phương pháp điều trị phù hợp nhất cho từng bệnh nhân cụ thể.

1.1. Cơ chế và phân loại đau sau phẫu thuật

Cơ chế gây đau liên quan đến tổn thương mô học, giải phóng các chất trung gian viêm như prostaglandin và leukotriene. Đau sau phẫu thuật được chia thành đau cấp tính (trong 24-48 giờ) và đau kéo dài (hơn 2-3 tháng). Các yếu tố ảnh hưởng bao gồm tuổi, giới tính, loại phẫu thuật, và tâm lý bệnh nhân. Bệnh viện 108 thường gặp đau sau phẫu thuật chấn thương với cường độ biến thiên.

1.2. Ảnh hưởng của đau đến phục hồi

Đau không được kiểm soát có thể dẫn đến các biến chứng như tình trạng giảm vận động, tăng nguy c险huyết khối tĩnh mạch và xương khớp cứng. Bệnh nhân cảm thấy mệt mỏi, khó ngủ và tâm trạng xấu, làm chậm quá trình lành vết mổ. Do đó, kiểm soát đau hiệu quả là yếu tố then chốt để đẩy nhanh hồi phục sau phẫu thuật tại các cơ sở y tế.

II. Thực trạng sử dụng thuốc giảm đau tại Bệnh viện 108

Khóa luận của Nguyễn Thị Kim Thanh đã tiến hành phân tích sử dụng thuốc giảm đau trên một mẫu bệnh nhân sau phẫu thuật tại Viện Chấn thương Bệnh viện Trung ương Quân đội 108. Kết quả nghiên cứu cho thấy tình hình sử dụng thuốc vẫn còn những bất cập trong việc lựa chọn loại thuốc, liều lượng, và thời điểm dùng. Nhiều bệnh nhân chưa được quản lý đau tối ưu do thiếu hụt kiến thức hoặc không tuân thủ phác đồ điều trị. Nghiên cứu này cung cấp dữ liệu thực tế về sử dụng thuốc giảm đau, giúp đề xuất các cải tiến trong chính sách quản lý đau tại bệnh viện.

2.1. Các thuốc giảm đau phổ biến được sử dụng

Tại Bệnh viện 108, các thuốc giảm đau chủ yếu bao gồm NSAID (Ibuprofen, Meloxicam), paracetamol, và opioid (Morphine, Tramadol). Thuốc chống viêm không steroid (NSAID) là lựa chọn hàng đầu cho đau nhẹ đến vừa, trong khi opioid dành cho đau cấp tính mức độ cao. Liều lượng và tần suất được điều chỉnh theo cường độ đau và tình trạng bệnh nhân cụ thể.

2.2. Những vấn đề trong sử dụng thuốc

Nghiên cứu xác định các vấn đề liên quan đến thuốc (DRP) như liều lượng không phù hợp, tương tác thuốc, và tác dụng không mong muốn (ADR). Một số bệnh nhân không nhận được giảm đau đầy đủ do liều quá thấp, trong khi những người khác gặp tác dụng phụ như buồn nôn, táo bón. Theo dõi chặt chẽtư vấn dược học lâm sàng cần được cải thiện.

III. Phương pháp đánh giá và quản lý đau

Đánh giá đau là bước quan trọng trong quản lý đau sau phẫu thuật. Tại Bệnh viện 108, các bác sĩ và dược sĩ sử dụng nhiều thang điểm đánh giá khác nhau. Thang VAS (Visual Analogue Scale) cho phép bệnh nhân chỉ ra cường độ đau trên một đường thẳng từ 0-10 cm. Thang NRS (Numerical Rating Scale) yêu cầu bệnh nhân đánh giá bằng con số từ 0 (không đau) đến 10 (đau tối đa). Thang FRS (Wong-Baker Faces) đặc biệt hữu ích cho trẻ em và người lớn tuổi. Các phương pháp quản lý đau đa phương kết hợp thuốc và không dùng thuốc đem lại hiệu quả tối ưu nhất.

3.1. Các thang điểm đánh giá đau

Thang VAS, NRS, và FRS là ba công cụ chính để đánh giá cường độ đau tại bệnh viện. VAS thường được sử dụng cho bệnh nhân trưởng thành, trong khi FRS phù hợp hơn cho trẻ em và người lớn tuổi. Đánh giá đau định kỳ (mỗi 4-6 giờ) giúp theo dõi hiệu quả điều trịđiều chỉnh phác đồ kịp thời. Bệnh nhân được hướng dẫn sử dụng thang điểm để tự báo cáo mức độ đau.

3.2. Phương pháp quản lý đa phương

Quản lý đau đa phương kết hợp thuốc, vật lý trị liệu, tâm lý trị liệucác kỹ thuật khác. Phương pháp PCA (Patient Controlled Analgesia) cho phép bệnh nhân tự kiểm soát liều lượng giảm đau, giảm lo âu và tăng cảm giác an toàn. Châm cứu, massage, và thư giãn cũng được sử dụng bổ sung để tăng hiệu quả giảm đau mà không cần thuốc quá nhiều.

IV. Kiến nghị cải thiện quản lý đau tại Bệnh viện 108

Dựa trên kết quả phân tích sử dụng thuốc giảm đau, công trình nghiên cứu đề xuất nhiều kiến nghị quan trọng để cải thiện chất lượng quản lý đau. Thứ nhất, cần xây dựng quy trình quản lý đau chuẩn áp dụng cho tất cả các khoa, đặc biệt là Khoa Chấn thương. Thứ hai, nâng cao kiến thức cho toàn bộ đội ngũ y tế về các phương pháp giảm đau hiện đại. Thứ ba, tăng cường theo dõitư vấn dược lâm sàng để phát hiện và xử lý các vấn đề liên quan đến thuốc kịp thời. Cuối cùng, đầu tư vào công nghệ như PCA pumpcác phương tiện khác sẽ giúp nâng cao hiệu quả điều trị đausự hài lòng của bệnh nhân.

4.1. Xây dựng quy trình và hướng dẫn chuẩn

Quy trình quản lý đau chuẩn cần được giáo dục và thực thi trong toàn bệnh viện. Hướng dẫn lâm sàng chi tiết về lựa chọn thuốc, liều lượng, và theo dõi sẽ giúp đồng nhất phác đồ giữa các khoa. Bệnh viện 108 nên lập đội quản lý đau có sự tham gia của bác sĩ, dược sĩ, và điều dưỡng để giám sát thực thiliên tục cải tiến.

4.2. Nâng cao nhận thức và đầu tư công nghệ

Đào tạo nhân sự thông qua hội thảo, tài liệu đào tạo về quản lý đau hiệu quả. Các thiết bị hiện đại như PCA pump, bơm truyền tĩnh mạch thông minh sẽ cải thiện tính chính xác của dùng thuốc. Thu thập dữ liệu định kỳ về hiệu quả điều trị, sự hài lòng bệnh nhâncác biến chứng sẽ giúp đánh giá tiến độlập kế hoạch cải tiến.

28/12/2025
Nguyễn thị kim thanh phân tích tình hình sử dụng thuốc giảm đau trên bệnh nhân sau phẫu thuật tại viện chấn thương bệnh viện trung ương quân đội 108 khóa luận tốt nghiệp dược sĩ

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1.1 Tổng quan về đau 1. Khái niệm Theo Hiê ̣p hô ̣i nghiên cứu đau quố c tế IASP (International Association for the Study of Pain) năm 1979: “Đau đươc̣ đinh ̣ nghĩa là mô ̣t cảm giác và cảm xúc khó chiụ liên quan đế n mô ̣t tổ n thương mô thực thể hoặc tiề m ẩn đau mang tính cá nhân và đươc̣ mô tả khác nhau bởi trải nghiê ̣m và cảm xúc của mỗi bê ̣nh nhân”. Đau là một hiện tượng chủ quan, mang tính cá nhân cao, ảnh hưởng không chỉ đến thể chất mà còn tác động đến tâm lý, hành vi và chất lượng cuộc sống của người bệnh [7]. Cảm giác đau có thể phát sinh do [8]: - Viêm dây thầ n kinh - Tổn thương các dây thầ n kinh - Thầ n kinh bị xâm lấ n bởi ung thư.

Cơ chế gây đau Đau là một cảm giác do hệ thần kinh trung ương xử lý, phản ứng với các kích thích có hại. Cơ chế gây đau có thể chia thành hai loại chính: đau cảm thụ (nociceptive pain) và đau thần kinh (neuropathic pain). Đau cảm thụ (Nociceptive Pain): Đau này xảy ra khi mô bị tổn thương, thường gặp trong phẫu thuật. Các chất trung gian như prostaglandin, histamine, kinin kích thích thụ thể đau, dẫn truyền tín hiệu qua tủy sống lên não.

Hệ thống giảm đau nội sinh như enkephalin, β-endorphin, serotonin và norepinephrine giúp điều hòa cảm giác đau [8]. Đau thần kinh (Neuropathic Pain): Đau này phát sinh khi có sự tổn thương hoặc rối loạn chức năng thần kinh. Các cytokine viêm như IL-6, IL-8, IL-2β làm tăng nhạy cảm thần kinh, gây đau kéo dài, rát hoặc châm chích [9]. Ngoài ra, bệnh nhân có thể than phiền đau, nhưng là dạng đau do tâm lý (Psychogenic Pain).

Đây là loại đau không liên quan tổn thương mô, thường gặp ở người có lo âu, trầm cảm. Đau kéo dài, khó mô tả rõ và ảnh hưởng đến chất lượng sống [9]. Phân loại đau 1. Theo thời gian Dựa theo đặc điểm thời gian, đau có thể được chia thành ba nhóm chính: đau cấp tính, đau mạn tính không do ung thư và đau do ung thư [10].

Đau cấp tính liên quan đến các tình trạng bệnh lý cấp hoặc chấn thương mô như phẫu thuật, thủ thuật y khoa, tai nạn, viêm cấp tính. Đây thường là loại đau cảm thụ 3 (nociceptive pain), có đặc điểm dễ xác định vị trí, tính chất và diễn tiến trong thời gian ngắn. Đau xuất hiện ngay sau khi cơ thể bị tổn thương và có xu hướng chấm dứt khi nguyên nhân được điều trị khỏi. Tuy nhiên, nếu không được kiểm soát hiệu quả, đau cấp có thể gây ra tăng hoạt tính giao cảm (như tăng nhịp tim, giãn đồng tử, đổ mồ hôi), thay đổi chuyển hóa mô, gây stress tâm lý và ảnh hưởng đến chức năng miễn dịch [10], [11].

Đau mạn tính không do ung thư thường có nguồn gốc thần kinh, tâm thần hoặc vô căn. Cơn đau kéo dài nhiều tháng đến hàng năm, có thể liên tục hoặc xen kẽ với các đợt đau cấp tính. Khác với đau cấp, đau mạn có diễn biến khó lường, vị trí và tính chất không rõ ràng. Trong nhiều trường hợp, nguyên nhân ban đầu đã hết nhưng cơn đau vẫn kéo dài dai dẳng, trở thành gánh nặng lớn đối với người bệnh.

Một số dạng đau mạn tính thường gặp gồm: đau thần kinh do tiểu đường, đau sau zona, đau dây thần kinh sinh ba, hội chứng loạn dưỡng giao cảm phản xạ [10], [11]. Đau do ung thư liên quan đến các bệnh lý ác tính hoặc tình trạng đe dọa tính mạng. Nguyên nhân có thể do khối u xâm lấn, chèn ép tổ chức, hoặc do tác dụng phụ của các phương pháp điều trị như phẫu thuật, hóa trị, xạ trị. Đau ung thư có thể phối hợp cả cơ chế cảm thụ và thần kinh, đòi hỏi cách tiếp cận điều trị toàn diện [11].

Theo sinh lý bệnh của đau Dựa trên cơ chế bệnh sinh, đau được chia thành hai nhóm chính: đau cảm thụ và đau thần kinh [10], [12]. Đau cảm thụ (nociceptive pain) là loại đau phát sinh từ kích thích cơ học, hóa học hoặc nhiệt lên các thụ thể cảm giác đau (nociceptors) tại mô lành. Đau cảm thụ được chia tiếp thành: Đau thể chất: xuất phát từ các mô như da, cơ, xương, khớp thường có tính chất rõ ràng, khu trú tốt. Đau nội tạng: phát sinh từ các cơ quan trong cơ thể như dạ dày, gan, ruột, thận thường có tính chất lan tỏa, âm ỉ, khó xác định vị trí.

Đau thần kinh (neuropathic pain) là loại đau phát sinh từ tổn thương hoặc rối loạn chức năng của hệ thần kinh trung ương hoặc ngoại vi. Đặc trưng bởi cảm giác bất thường như bỏng rát, châm chích, tê bì, như kiến bò hoặc điện giật, và thường dai dẳng, khó điều trị triệt để. Đau sau phẫu thuật Đau sau phẫu thuâ ̣t là loa ̣i đau xuấ t hiê ̣n sau khi tác dụng giảm đau của thuố c tê, thuố c mê hế t hiê ̣u lực. Đau sau phẫu thuâ ̣t đươc̣ coi là mô ̣t da ̣ng đau cấ p tính có liên quan đế n tổ n thương trực tiế p đầ u dây thầ n kinh và phản ứng viêm do mô bi tổ ̣ n thương.

Nế u không điề u tri tố ̣ t, đau sau phẫu thuâ ̣t sẽ gây ra những biế n chứng nặng như: choáng, 4 tăng huyế t áp, nhip̣ tim nhanh, nguy cơ huyế t khố i tắ c ma ̣ch, mấ t ngủ. Vì vâ ̣y viê ̣c sử dụng thuố c giảm đau là hế t sức cầ n thiế t [13]. - Đau sau phẫu thuâ ̣t có thể đươc̣ chia thành đau cấ p tính và ma ̣n tính. - Đau cấ p tính là đau ngay sau phẫu thuâ ̣t cho đế n ngày thứ 7 sau mổ.

- Đau ma ̣n tính là đau kéo dài hơn 3 tháng sau phẫu thuâ ̣t. Nguyên nhân và các yếu tố ảnh hưởng 1. Nguyên nhân gây đau Các nguyên nhân gây đau sau phẫu thuâ ̣t có thể do: cắ t da và tổ chức dưới da, cắ t mô sâu, chấ n thương, hiê ̣n tươṇ g đông máu; đau ta ̣i vi ̣trí phẫu thuâ ̣t do chèn ép, co kéo dây thầ n kinh; đau do quá trình tiêm truyề n gây tổ n thương tổ chức, kích thích tĩnh ma ̣ch, chê ̣ch ven, tụ máu; do đặt dẫn lưu, xông da ̣ dày, xông tiể u; đau, đặt nô ̣i khí quản, quá trình thở sâu; do bê ̣nh nhân cử đô ̣ng, di chuyể n, hay thực hiê ̣n các liê ̣u pháp vâ ̣t lý hồ i phục; đau do có các biế n chứng phẫu thuâ ̣t như xoắ n và tắ c ma ̣ch. Các nguyên nhân khác như: nôn, bí tiể u, băng quá chặt … [14] 1.

Những yế u tố ảnh hưởng đế n đau sau phẫu thuật Có hai yế u tố ảnh hưởng đế n tình tra ̣ng đau sau phẫu thuâ ̣t bao gồ m yế u tố thuô ̣c về bê ̣nh nhân và yế u tố thuô ̣c về phẫu thuâ ̣t. Trong đó, yế u tố thuô ̣c về bê ̣nh nhân bao gồ m: tuổ i, giới tính, trình đô ̣ văn hóa, tâm lý sơ ̣ đau, lo lắ ng, tiề n sử đau trước đó, các bê ̣nh mắ c kèm, tiề n sử la ̣m dụng thuố c. Yế u tố thuô ̣c về phẫu thuâ ̣t gồ m: vi ̣ trí và tính chấ t của phẫu thuâ ̣t, phương pháp phẫu thuâ ̣t, thời gian phẫu thuâ ̣t và phương pháp vô cảm [7]. ̣ ́ phẫu thuâ ̣t có thể ảnh đưởng đế n mức đô ̣ và thời gian đau sau phẫu thuâ ̣t như Vi tri sau: Đau dữ dô ̣i kéo dài hơn 48 giờ là do các thủ tục phẫu thuâ ̣t mở rô ̣ng ở vùng thươṇ g vi,̣ phẫu thuâ ̣t lồ ng ngực, phẫu thuâ ̣t thâ ̣n, trĩ, trực tràng, phẫu thuâ ̣t các khớp và xương chính (ngoa ̣i trừ hông), phẫu thuâ ̣t cô ̣t số ng.

Đau dữ dô ̣i kéo dài dưới 48 giờ là do: cắ t túi mâ ̣t, cắ t bỏ tuyế n tiề n liê ̣t, cắ t tử cung mổ lấ y thai. Đau vừa phải kéo dài hơn 48 giờ là do: phẫu thuâ ̣t tim, phẫu thuâ ̣t hông, phẫu thuâ ̣t thanh quản và hầ u ho ̣ng. Đau vừa phải trong thời gian ngắ n hơn là do: cắ t ruô ̣t thừa, sửa chữa thoát vi ̣be ̣n, cắ t tử cung âm đa ̣o, cắ t bỏ vú, phẫu thuâ ̣t đĩa đê ̣m giữa. Đau nhe ̣ thường gây ra bởi các thủ thuâ ̣t phụ khoa nhỏ [7].

Ả nh hưởng của đau sau phẫu thuật tới các hệ cơ quan Mặc dù đau sau phẫu thuật có thể được xem là dấu hiệu cảnh báo tổn thương mô và góp phần bảo vệ vùng cơ thể bị tổn thương bằng cách làm bệnh nhân hạn chế vận 5 động để thúc đẩy hồi phục, tuy nhiên về tổng thể, đau sau phẫu thuật gây ra nhiều ảnh hưởng bất lợi trên cả phương diện tâm lý và sinh lý người bệnh [15]. Tác động tâm lý: Cơn đau làm gia tăng mức độ lo lắng, sợ hãi và tạo cảm giác ám ảnh ở người bệnh. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến trạng thái tinh thần mà còn có thể dẫn đến thay đổi hành vi như cáu gắt, chống đối hoặc không hợp tác điều trị. Tình trạng đau càng kéo dài thì càng làm tăng cảm nhận đau theo cơ chế tâm-sinh lý, gây rối loạn giấc ngủ và cản trở quá trình phục hồi sau phẫu thuật [15].

Tác động sinh lý chung: Phản ứng stress do đau có thể gây ra nhiều rối loạn chức năng tại các hệ cơ quan như hô hấp, tim mạch, tiêu hóa, tiết niệu và nội tiết. Những rối loạn này nếu không được kiểm soát bằng các biện pháp giảm đau phù hợp có thể làm kéo dài thời gian nằm viện và tăng nguy cơ biến chứng sau phẫu thuật [15]. Hệ hô hấp: Cơn đau khiến bệnh nhân hạn chế thở sâu hoặc ho khạc đờm, làm tăng nguy cơ xẹp phổi và viêm phổi do ứ đọng dịch tiết [15]. Hệ tim mạch: Kích thích thần kinh giao cảm do đau dẫn đến tăng nhịp tim, tăng tiêu thụ oxy cơ tim, làm tăng nguy cơ thiếu máu cơ tim, nhồi máu cơ tim.

Ngoài ra, đau cũng thúc đẩy quá trình ứ trệ tuần hoàn tĩnh mạch và tăng kết dính tiểu cầu, làm tăng nguy cơ thuyên tắc tĩnh mạch sâu [15]. Hệ tiêu hóa và tiết niệu: Đau nội tạng hoặc đau bản thể sau phẫu thuật gây giảm nhu động ruột, liệt ruột cơ năng, buồn nôn và nôn. Đồng thời, đau cũng làm giảm trương lực bàng quang và niệu đạo, dẫn đến khó tiểu tiện [15].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ