Luận văn Đỗ Thu Hương: Sử dụng thuốc chống trầm cảm ở Bệnh viện Tâm thần Hà Nội 2024

Luận văn phân tích tình hình sử dụng thuốc chống trầm cảm tại Bệnh viện Tâm thần Hà Nội 2024. Đánh giá lựa chọn, liều dùng và tuân thủ điều trị.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn dược sĩ chuyên khoa cấp 1

2025

94
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về bệnh trầm cảm và hiện trạng điều trị

Bệnh trầm cảm là một rối loạn tâm thần phổ biến ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của hàng triệu người trên toàn thế giới. Theo dữ liệu từ Bệnh viện Tâm thần Hà Nội, số lượng bệnh nhân trầm cảm ngày càng tăng, đặc biệt là ở các thành phố lớn. Thuốc chống trầm cảm (CTC) đóng vai trò quan trọng trong quá trình điều trị, giúp cải thiện triệu chứng lâm sàng và nâng cao chất lượng sống. Nghiên cứu phân tích tình hình sử dụng thuốc chống trầm cảm tại khoa khám bệnh, Bệnh viện Tâm thần Hà Nội năm 2024 đã cung cấp những thông tin quý báu về thực trạng kê đơn và sử dụng thuốc trong điều trị ngoại trú.

1.1. Khái niệm và phân loại trầm cảm

Rối loạn trầm cảm (RLTC) được định nghĩa là tình trạng tâm trạng buồn bã kéo dài, mất hứng thú với các hoạt động hàng ngày. Bệnh được phân loại thành nhiều mức độ từ nhẹ đến nặng, tùy thuộc vào số lượng và mức độ nghiêm trọng của các triệu chứng lâm sàng. Các triệu chứng bao gồm mất ngủ, mệt mỏi, khó tập trung và tư tưởng tiêu cực.

1.2. Dịch tễ học và nguyên nhân bệnh

Dịch tễ học bệnh trầm cảm cho thấy tỷ lệ mắc bệnh ngày càng tăng, đặc biệt ở phụ nữ và người trung niên. Các nguyên nhân gây bệnh bao gồm yếu tố di truyền, rối loạn chất dẫn truyền thần kinh (CDTTK), căng thẳng tâm lý và các sự kiện cuộc sống tiêu cực. Hiểu rõ các nguyên nhân giúp bác sĩ lựa chọn phương pháp điều trị phù hợp.

II. Phân loại và cơ chế tác dụng của thuốc chống trầm cảm

Thuốc chống trầm cảm được chia thành nhiều nhóm dựa trên cơ chế tác dụng của chúng. Các nhóm chính bao gồm SSRI (ức chế tái hấp thu serotonin), SNRI (ức chế tái hấp thu serotonin và noradrenalin), thuốc ba vòng và IMAO (ức chế enzym monoamin oxydase). Mỗi nhóm thuốc có đặc điểm riêng về hiệu quả, tác dụng phụ và tương tác thuốc. Phân tích sử dụng thuốc chống trầm cảm tại bệnh viện cho thấy SSRI là nhóm được kê đơn phổ biến nhất do tính an toàn và dung nạp tốt.

2.1. Cơ chế tác dụng của các nhóm thuốc

SSRI hoạt động bằng cách ức chế tái hấp thu serotonin, giúp tăng nồng độ serotonin trong não. SNRI có tác dụng rộng hơn, ảnh hưởng đến cả serotonin và noradrenalin. Thuốc ba vòng có tác dụng mạnh nhưng tác dụng phụ nhiều hơn. IMAO được sử dụng khi các thuốc khác không hiệu quả, nhưng cần theo dõi chặt chẽ về tương tác thuốc và chế độ ăn.

2.2. Đặc điểm và lợi ích của từng nhóm thuốc

SSRI có tác dụng phụ nhẹ, giá rẻ và dễ sử dụng, phù hợp cho bệnh nhân ngoại trú. SNRI phù hợp với bệnh nhân có trầm cảm kèm theo bệnh đau mạn tính. Thuốc ba vòng hiệu quả cao nhưng cần cân nhắc về dung nạp. Lựa chọn thuốc phải dựa trên đặc điểm cá nhân của bệnh nhân.

III. Thực trạng sử dụng thuốc chống trầm cảm tại Bệnh viện Tâm thần Hà Nội

Phân tích tình hình sử dụng thuốc chống trầm cảm tại Bệnh viện Tâm thần Hà Nội năm 2024 tiết lộ những thông tin quan trọng về thực hành kê đơn và sử dụng thuốc. Nghiên cứu bao gồm đánh giá về lựa chọn thuốc ban đầu, liều dùng thuốc, thời điểm dùngtương tác thuốc-thuốc bất lợi. Kết quả cho thấy hầu hết các bệnh nhân được kê đơn SSRI như liều dùng thuốc chống trầm cảm trong phạm vi khuyến cáo. Tuy nhiên, tỷ lệ tuân thủ điều trị còn thấp, ảnh hưởng đến hiệu quả điều trị.

3.1. Đặc điểm lựa chọn thuốc ban đầu

Lựa chọn thuốc chống trầm cảm ban đầu tại bệnh viện tuân thủ theo hướng dẫn lâm sàng hiện đại. Các bác sĩ ưu tiên SSRI do tính an toàn, tác dụng phụ nhẹ và chi phí hợp lý. Một số bệnh nhân được kê đơn SNRI khi có chỉ định cụ thể. Sự lựa chọn được cá nhân hóa dựa trên tiền sử bệnh, tác dụng phụ tiềm tàng và sự chấp nhận của bệnh nhân.

3.2. Tỷ lệ tuân thủ điều trị và các yếu tố liên quan

Tuân thủ điều trị được đánh giá bằng thang điểm MMAS-8. Kết quả cho thấy chỉ 45-50% bệnh nhân tuân thủ đầy đủ, 35-40% tuân thủ tương đối và 10-15% không tuân thủ. Các yếu tố ảnh hưởng bao gồm tác dụng phụ, chi phí thuốc, lý do bệnh nhân và chất lượng tư vấn từ bác sĩ. Cải thiện tuân thủ điều trị là chìa khóa để nâng cao hiệu quả điều trị.

IV. Tương tác thuốc và kiến nghị cải thiện chất lượng điều trị

Tương tác thuốc-thuốc là vấn đề quan trọng trong phân tích sử dụng thuốc chống trầm cảm tại bệnh viện. Nghiên cứu phát hiện một số tương tác thuốc bất lợi giữa thuốc chống trầm cảm và các thuốc khác được bệnh nhân sử dụng. Các tương tác này có thể làm giảm hiệu quả điều trị hoặc tăng tác dụng phụ. Kiến nghị bao gồm tăng cường tư vấn bệnh nhân, theo dõi định kỳ tuân thủ điều trị, và đào tạo nâng cao kỹ năng kỹ thuật dược lâm sàng cho nhân viên y tế nhằm tối ưu hóa kết quả điều trị.

4.1. Các tương tác thuốc thường gặp

Tương tác thuốc-thuốc phổ biến nhất là giữa SSRI và thuốc chống đông máu, thuốc chống viêm không steroid và một số thuốc tim mạch. Các tương tác này có thể làm tăng nguy hiểm chảy máu, hạ huyết áp hoặc rối loạn nhịp tim. Kê đơn cần được thực hiện cẩn thận, và bệnh nhân cần được tư vấn kỹ về các dấu hiệu cảnh báo.

4.2. Kiến nghị nâng cao chất lượng điều trị

Kiến nghị chính bao gồm: (1) Tăng cường tư vấn bệnh nhân về tuân thủ điều trị chống trầm cảm, (2) Theo dõi định kỳ các bệnh nhân để đánh giá hiệu quả và tác dụng phụ, (3) Cải thiện ghi chú y tế với đầy đủ thông tin về lý do kê đơn, (4) Đào tạo nhân viên y tế về dược lâm sàng và (5) Xây dựng hướng dẫn kê đơn chặt chẽ hơn để giảm tương tác thuốc không mong muốn.

28/12/2025
Đỗ thu hương phân tích tình hình sử dụng thuốc chống trầm cảm trên bệnh nhân trầm cảm tại khoa khám bệnh bệnh viện tâm thần hà nội năm 2024 luận văn dược sĩ chuyên khoa cấp 1

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Năm 2020, đại dịch COVID-19 đã đánh dấu một bước ngoặt vào sức khoẻ tâm thần của hàng triệu người trên thế giới. Cảm giác cô đơn, lo lắng, bất an dẫn đến nhiều người bị trầm cảm. Số người mắc rối loạn lo âu và trầm cảm đã tăng lên đáng kể sau đại dịch COVID-19. Các ước tính ban đầu cho thấy mức tăng tương ứng là 26% và 28% đối với rối loạn lo âu và trầm cảm chỉ trong một năm [1].

Mặc dù có nhiều thuốc chống trầm cảm được cấp phép điều trị trầm cảm, nhưng khoảng 30% bệnh nhân trầm cảm nặng vẫn không đáp ứng sau nhiều lần điều trị, dẫn đến tình trạng rối loạn trầm cảm nặng kháng trị (TR-MDD) [2]. Hiệu quả của thuốc chống trầm cảm bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố, trong đó phải kể đến yếu tố tuân thủ của bệnh nhân. Tỉ lệ không tuân thủ liệu pháp tâm lý trong điều trị trầm cảm ước tính vào khoảng 20% (dao động từ 0-74%) [3], [4]. Tỉ lệ không tuân thủ điều trị bằng thuốc thay đổi từ khoảng 30% trong các thử nghiệm lâm sàng đến 60% trong thực tế [5], [6].

Nghiên cứu của Nguyễn Thị Phương Huy và cộng sự tại Viện sức khoẻ Tâm thần Quốc gia năm 2020 cho thấy bệnh nhân gặp tác dụng không mong muốn khi sử dụng thuốc có khả năng không tuân thủ cao gấp 3,55 lần so với những người không gặp tác dụng không mong muốn, tương tự bệnh nhân không được tư vấn sử dụng thuốc có khả năng không tuân thủ sử dụng thuốc cao gấp 2,15 lần [7]. Việc không tuân thủ có thể dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng như điều trị thất bại, tái phát, trầm cảm mạn tính gây tăng chi phí điều trị, suy giảm chức năng làm việc và các hoạt động khác. Nghiên cứu của Rubio-Valera và các đồng nghiệp đã tiến hành tổng quan hệ thống và phân tích tổng hợp 6 thử nghiệm đối chứng ngẫu nhiên đánh giá tác động can thiệp của dược sĩ đối với việc tuân thủ thuốc chống trầm cảm ở những bệnh nhân ngoại trú. Các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng những bệnh nhân nhận được sự can thiệp của dược sĩ có khả năng tuân thủ thuốc cao hơn 1,5 lần so với những bệnh nhân không nhận được (OR = 1,639; KTC 95% 1,236 đến 2,174; p < 0,001) [8].

Bệnh viện Tâm thần Hà Nội là bệnh viện chuyên khoa tâm thần hạng I của Sở Y tế Hà Nội. Bệnh viện đã nhận được sự tin tưởng từ người dân nhờ chất lượng khám chữa bệnh ngày càng được nâng cao. Trong năm 2024, tổng số lần khám bệnh BHYT là 16.437 bệnh nhân điều trị ngoại trú,, trong đó số lần chẩn đoán rối loạn trầm cảm là: 1 2.670 lần, đã tăng 300 lần chẩn đoán rối loạn so với năm 2023, bệnh viện quản lý khoảng gần 340 BN trầm cảm điều trị trầm cảm ngoại trú. Nghiên cứu của Chu Thị Hằng năm 2023 tại khoa khám bệnh, bệnh viện Tâm thần Hà Nội chỉ dừng ở khảo sát về thời điểm sử dụng, liều dùng thuốc chống trầm cảm chưa phân tích lựa chọn thuốc trên các bệnh nhân điều trị lần đầu tại khoa khám bệnh theo phác đồ mới được ban hành của bệnh viện, đánh giá các tương tác thuốc trong đơn kê và phân tích sự tuân thủ của bệnh nhân trầm cảm.

Chính vì vậy, để nâng cao hiệu quả điều trị bệnh trầm cảm tại bệnh viện cũng như cải thiện khả năng tuân thủ điều trị của bệnh nhân, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Phân tích tình hình sử dụng thuốc chống trầm cảm trên bệnh nhân trầm cảm tại khoa Khám bệnh bệnh viện Tâm thần Hà Nội năm 2024” với hai mục tiêu: 1. Khảo sát đặc điểm sử dụng thuốc chống trầm cảm trên bệnh nhân trầm cảm điều trị ngoại trú tại khoa Khám bệnh, bệnh viện Tâm thần Hà Nội năm 2024. Phân tích việc tuân thủ điều trị của bệnh nhân trầm cảm điều trị ngoại trú tại bệnh viện Tâm thần Hà Nội năm 2024. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.

Tổng quan về bệnh trầm cảm 1. Khái niệm trầm cảm Trầm cảm là một trạng thái bệnh lý của cảm xúc, biểu hiện bằng quá trình ức chế toàn bộ hoạt động tâm thần. Theo phân loại bệnh Quốc tế lần thứ 10 (ICD-10), trầm cảm điển hình thường được biểu hiện bằng khí sắc trầm, mất mọi quan tâm hay thích thú, giảm năng lượng dẫn tới tăng sự mệt mỏi và giảm hoạt động, tồn tại trong khoảng thời gian ít nhất là 2 tuần. Ngoài ra, còn có các triệu chứng khác như giảm sự tập trung chú ý, giảm tính tự trọng và lòng tự tin, ý tưởng bị tội và không xứng đáng, nhìn vào tương lai ảm đạm, bi quan, ý tưởng và hành vi tự hủy hoại hoặc tự sát, rối loạn giấc ngủ, ăn ít ngon miệng… [9] 1.

Dịch tễ học trầm cảm 1. Dịch tễ trầm cảm trên thế giới Rối loạn trầm cảm là nguồn chính gây gánh nặng bệnh tật liên quan đến sức khỏe tâm thần và là nguyên nhân hàng đầu gây ra tình trạng khuyết tật trên toàn cầu. Vào năm 2019, tình trạng này ảnh hưởng đến khoảng 280 triệu người. Đến năm 2025, dự kiến tình trạng này sẽ ảnh hưởng đến 350 triệu người trên toàn thế giới.

Tỉ lệ mắc bệnh ở người trưởng thành là khoảng 5% và tăng lên 5,7% ở những người trên 60 tuổi, nghĩa là cứ 20 người thì có một người có thể mắc rối loạn trầm cảm nặng, với tỉ lệ mắc bệnh ở phụ nữ cao hơn 50% so với nam giới [10]. Xu hướng này đặt ra những thách thức đáng kể đối với hệ thống chăm sóc sức khỏe ở cả các nước phát triển và đang phát triển, đòi hỏi phải hành động trong việc điều trị bệnh nhân, quản lý hiệu quả các nguồn lực và cải thiện chất lượng chăm sóc sức khỏe tâm thần nói chung. Mặc dù được biết và điều trị hiệu quả cho chứng trầm cảm, nhưng ngay cả ở những nước có thu nhập cao, khoảng 50% số người bị trầm cảm được điều trị hiệu quả (ở nhiều nước dưới 10%). Việc điều trị cho bệnh nhân trầm cảm gặp một số rào cản bao gồm: thiếu nguồn nhân lực, thiếu các nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe được đào tạo và sự kỳ thị của xã hội liên quan đến các rối loạn tâm thần.

Một rào cản khác là hiệu quả đánh giá không chính xác. Ở các nước có mức thu nhập thấp, những người bị chán nản thường không được chẩn đoán chính xác, và một số khác không bị rối loạn thường bị chẩn đoán sai và kê đơn thuốc trầm cảm [11]. 3 Gánh nặng trầm cảm và các điều kiện sức khoẻ tâm thần khác đang gia tăng trên toàn cầu. Theo thống kê của một số nước châu Âu, rối loạn trầm cảm dao động từ 3 - 4% dân số.

Một nghiên cứu ở Ucraina của Tintle N (2011) cho kết quả 14,4% phụ nữ và 7,1% nam giới độ tuổi từ 50 trở lên bị trầm cảm [12]. Ở Canada, theo Scott B Patten (2006), tỉ lệ trầm cảm chung trong cả cuộc đời là 12,2%, trầm cảm trong năm là 4,8%, trầm cảm trong 30 ngày là 1,8%. Trầm cảm chủ yếu phổ biến ở phụ nữ (5%) hơn ở nam giới (2,9%). Tỉ lệ mắc trầm cảm cao nhất ở nhóm tuổi từ 15 đến 25 tuổi [13].

Dịch tễ trầm cảm trong nước Năm 2016, Lưu Ngọc Bảo Trang và cộng sự đã tiến hành nghiên cứu về trầm cảm ở học sinh, sinh viên thành phố Đà Nẵng, kết quả cho thấy có 27,5% có nguy cơ trầm cảm, 19,3% biểu hiện nguy cơ trầm cảm ở mức độ nhẹ, 3,9% ở mức độ vừa và 4,3% ở mức độ nặng [14]. Theo Lê Minh Ngọc và cộng sự đã điều tra dịch tễ tại tỉnh Thái Bình năm 2021 - 2022, Trong 16.645 người tham gia, 820 người được chẩn đoán mắc trầm cảm, chiếm 4,9%. Tỉ lệ trầm cảm ở nữ giới (7,5%) cao hơn nam giới (2,5%). Nhóm 50-60 tuổi có tỉ lệ trầm cảm cao nhất (12,1%), tiếp theo là nhóm 41-50 tuổi (5,1%), thấp nhất ở nhóm 18-30 tuổi (0,5%).

Trầm cảm vừa chiếm 47,4%, trầm cảm nhẹ 44,6%, trầm cảm nặng có loạn thần 0,5% [15]. Phạm Ngọc Long và cộng sự đã thực hiện nghiên cứu cắt ngang trên 312 đối tượng người cao tuổi được chọn ngẫu nhiên tại 8 xã phường của hai tỉnh Hà Nội và Quảng Bình năm 2021 - 2022 cho thấy 7,6% người cao tuổi có các rối loạn trầm cảm, trong đó có 3,8% được chẩn đoán mắc trầm cảm [16]. Nguyên nhân gây bệnh trầm cảm Do tính không đồng nhất về lâm sàng và sinh lý của RLTC, rất khó để làm rõ sinh bệnh học của bệnh. Các lý thuyết thần kinh học hiện tại với nền tảng thực nghiệm hợp lý nhất và mức độ liên quan đến lâm sàng cao nhất được xem xét về điểm mạnh và điểm yếu của chúng.

Các lý thuyết được lựa chọn dựa trên các nghiên cứu điều tra căng thẳng về tâm lý xã hội, stress, các chất dẫn truyền thần kinh như serotonin, norepinephrin, dopamin, glutamat và gama - aminobutyric acid (GABA), các yếu tố thần kinh và nhịp sinh học. Bởi vì tất cả các lý thuyết trầm cảm chỉ áp dụng cho một số 4 bệnh nhân và bệnh lý trầm cảm có thể thay đổi đáng kể trong suốt quá trình của bệnh [17]. Về cơ bản có thể chia nguyên nhân trầm cảm vào 3 nhóm nguyên nhân chính sau: Yếu tố di truyền, các chất dẫn truyền thần kinh, yếu tố tâm lý, môi trường, xã hội. Triệu chứng lâm sàng của trầm cảm Ba triệu chứng chính: Khí sắc trầm, mất mọi quan tâm thích thú trong các hoạt động, giảm năng lượng và tăng sự mệt mỏi.

Bảy triệu chứng phổ biến khác: Giảm sự tập trung chú ý, giảm tính tự trọng và lòng tự tin, khó khăn trong việc quyết định, ý tưởng bị tội và không xứng đáng; nhìn vào tương lai ảm đạm và bi quan; ý tưởng và hành vi tự huỷ hoại hoặc tự sát; rối loạn giấc ngủ; thay đổi cảm giác ngon miệng (tăng hoặc giảm) với sự thay đổi trọng lượng cơ thể tương ứng. Các triệu chứng loạn thần như hoang tưởng, ảo giác trong giai đoạn trầm cảm có thể có hoặc không xuất hiện [9]. Các trắc nghiệm tâm lý thường dùng - Thang đánh giá trầm cảm Bảng 1.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ