ĐẶT VẤN ĐỀ Nhiễm khuẩn vết mổ (NKVM) là nhiễm khuẩn bệnh viện thường gặp hàng thứ 2, với tỷ lệ từ 5 - 10% tại các bệnh viện tại Việt Nam. Hậu quả của NKVM làm kéo dài thời gian nằm viện, tăng nguy cơ tử vong và chi phí điều trị. Tại Hoa Kỳ, theo ước tính, nhiễm khuẩn vết mổ làm kéo dài thời gian nằm viện 7 - 10 ngày, tăng chi phí điều trị khoảng 3000 – 29000 USD cho mỗi ca phẫu thuật [1]. Tại Việt Nam, tỷ lệ NKVM trung bình tại 07 bệnh viện khắp cả nước là 5,5% [2].
Sử dụng kháng sinh dự phòng (KSDP) trong phẫu thuật đã được chứng minh là biện pháp hiệu quả nhất trong việc kiểm soát nhiễm khuẩn vết mổ [2], [3], [4]. Kháng sinh dự phòng làm giảm đến mức thấp nhất lượng vi khuẩn (thường trú hoặc thoáng qua) trên bề mặt da xuống dưới mức có thể gây nhiễm trùng và kiểm soát được bởi hệ miễn dịch [5]. Phẫu thuật mổ lấy thai là một phẫu thuật sạch - nhiễm [2], [6]. Để hạn chế nguy cơ NKVM trong phẫu thuật mổ lấy thai, việc sử dụng thường quy kháng sinh dự phòng (KSDP) có thể ngăn ngừa vi khuẩn xâm nhập vào vị trí vết mổ.
So với giả dược hoặc không điều trị, việc sử dụng kháng sinh dự phòng ở phụ nữ mổ lấy thai làm giảm tỷ lệ nhiễm trùng vết mổ, viêm nội mạc tử cung và các biến chứng nhiễm trùng nghiêm trọng từ 60% đến 70%. Tuy nhiên các nghiên cứu thực hiện gần đây cho thấy việc thực hành sử dụng KSDP còn nhiều bất cập như lựa chọn kháng sinh chưa hợp lý, thời gian sử dụng kháng sinh sau phẫu thuật quá dài, thời điểm đưa liều dự phòng chưa phù hợp hoặc còn nhiều rào cản trong việc sợ triển khai KSDP trong các loại phẫu thuật, ngay cả các phẫu thuật sạch [8]. Điều đó dẫn đến nhiều hậu quả như gia tăng vi khuẩn kháng thuốc, tăng gánh nặng cho bệnh nhân, xã hội. Vì vậy, nhu cầu xây dựng và triển khai các đề án KSDP trong chương trình quản lý sử dụng kháng sinh nhằm nâng cao chất lượng điều trị tại các bệnh viện là vô cùng cần thiết.
Trung tâm Y tế huyện Hải Hà là đơn vị y tế hạng III trực thuộc Sở Y tế tỉnh Quảng Ninh, có quy mô 200 giường bệnh, thực kê 300 giường bênh. Hàng năm chi phí cho kháng sinh điều trị tại đơn vị chiếm tỷ lệ 30 - 33% so với tổng tiền 1 thuốc sử dụng của toàn trung tâm (khoảng 3,8 tỷ đồng mỗi năm), trong đó kháng sinh đuờng tiêm/tiêm truyền chiếm tỷ lệ lớn. Việc sử dụng kháng sinh an toàn, hợp lý, hiệu quả luôn là vấn đề được quan tâm trong quá trình thực hành lâm sàng tại đơn vị, đặc biệt là việc sử dụng kháng sinh trong phẫu thuật. Tại Trung tâm Y tế huyện Hải Hà, bệnh nhân mổ lấy thai chiếm tỷ lệ lớn trong tổng số bệnh nhân có chỉ định phẫu thuật.
Trong 6 tháng đầu năm 2024, Khoa Chăm sóc sức khỏe sinh sản và Phụ sản có 139 ca phẫu thuật các loại thì phẫu thuật mổ lấy thai là 101 ca (chiếm 72,7%) và chiếm 20% số ca phẫu thuật của toàn đơn vị. Kháng sinh dự phòng trong mổ lấy thai bắt đầu được triển khai tại đơn vị năm 2021 theo kinh nghiệm của các bác sĩ ngoại khoa đi học từ các tuyến trung ương, tuy nhiên chưa có nghiên cứu phân tích tính hợp lý trong sử dụng kháng sinh dự phòng trên nhóm bệnh nhân này, đơn vị cũng chưa xây dựng được hướng dẫn sử dụng kháng sinh dự phòng trong phẫu thuật mổ lấy thai. Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi thực hiện đề tài: “Phân tích sử dụng kháng sinh trên bệnh nhân phẫu thuật mổ lấy thai tại Khoa Chăm sóc sức khỏe sinh sản và Phụ sản, Trung tâm Y tế huyện Hải Hà” nhằm 02 mục tiêu sau: 1. Khảo sát đặc điểm bệnh nhân phẫu thuật mổ lấy thai được chỉ định sử dụng kháng sinh tại Khoa Chăm sóc sức khỏe sinh sản và Phụ sản, Trung tâm Y tế huyện Hải Hà từ 01/8/2023 đến 31/7/2024.
Phân tích đặc điểm sử dụng kháng sinh trên bệnh nhân phẫu thuật mổ lấy thai tại Khoa Chăm sóc sức khỏe sinh sản và Phụ sản, Trung tâm Y tế huyện Hải Hà. Từ kết quả thu được, nhóm nghiên cứu hy vọng đề xuất được các biện pháp góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng kháng sinh trên các bệnh nhân phẫu thuật mổ lấy thai tại đơn vị nói riêng và của toàn Trung tâm Y tế huyện Hải Hà nói chung. Tổng quan về nhiễm khuẩn vết mổ 1. Khái niệm nhiễm khuẩn vết mổ Nhiễm khuẩn vết mổ (NKVM) là những nhiễm khuẩn tại vị trí phẫu thuật trong thời gian từ khi mổ cho đến 30 ngày sau mổ với phẫu thuật không có cấy ghép và cho tới một năm sau mổ với phẫu thuật có cấy ghép bộ phận giả (phẫu thuật implant) [6].
Phân loại Theo vị trí xuất hiện nhiễm khuẩn, NKVM được chia thành 3 loại: (1) NKVM nông, (2) NKVM sâu, (3) Nhiễm khuẩn cơ quan/khoang cơ thể (Hình 1. Sơ đồ phân loại nhiễm khuẩn vết mổ 1. Nhiễm khuẩn vết mổ nông: NKVM nông gồm các nhiễm khuẩn ở lớp da hoặc tổ chức dưới da tại vị trí rạch da. NKVM nông phải thỏa mãn các tiêu chuẩn sau: - Nhiễm khuẩn xảy ra trong vòng 30 ngày sau phẫu thuật; - Chỉ xuất hiện ở vùng da hay vùng dưới da tại đường mổ; - Có ít nhất một trong các triệu chứng sau: + Chảy mủ từ vết mổ nông; 3 + Phân lập vi khuẩn từ cấy dịch hay mô được lấy vô trùng từ vết mổ; + Có ít nhất một trong những dấu hiệu hay triệu chứng sau: đau, sưng, nóng, đỏ và cần mở bung vết mổ, trừ khi cấy vết mổ âm tính; + Bác sĩ chẩn đoán NKVM nông, 1.
Nhiễm khuẩn vết mổ sâu NKVM sâu gồm các nhiễm khuẩn tại lớp cân và/hoặc cơ tại vị trí rạch da. NKVM sâu cũng có thể bắt nguồn từ NKVM nông để đi sâu bên trong tới lớp cân cơ. NKVM sâu phải thỏa mãn các tiêu chuẩn sau: - Nhiễm khuẩn xảy ra trong vòng 30 ngày sau phẫu thuật hay một năm đối với đặt implant; - Xảy ra ở mô mềm sâu cân/cơ của đường mổ; - Có ít nhất một trong các triệu chứng sau: + Chảy mủ từ vết mổ sâu nhưng không từ cơ quan hay khoang nơi phẫu thuật; + Vết thương hở da sâu tự nhiên hay do phẫu thuật viên mở vết thương khi bệnh nhân có ít nhất một trong các dấu hiệu hay triệu chứng sau: sốt > 380C, đau, sưng, nóng, đỏ, trừ khi cấy vết mổ âm tính; + Áp xe hay bằng chứng NKVM sâu qua thăm khám, phẫu thuật lại, X- quang hay giải phẫu bệnh; + Bác sĩ chẩn đoán NKVM sâu. Nhiễm khuẩn cơ quan/khoang phẫu thuật Nhiễm khuẩn cơ quan/khoang cơ thể gồm nhiễm khuẩn ở bất kỳ khoang giải phẫu/cơ quan trong cơ thể khác với nhiễm khuẩn tại vị trí rạch da.
NKVM tại cơ quan/khoang phẫu thuật phải thỏa mãn các tiêu chuẩn sau: - Nhiễm khuẩn xảy ra trong vòng 30 ngày sau phẫu thuật hay 1 năm đối với đặt implant; - Xảy ra ở bất kỳ nội tạng, loại trừ da, cân, cơ, đã xử lý trong phẫu thuật; - Có ít nhất một trong các triệu chứng sau: + Chảy mủ từ dẫn lưu nội tạng; 4 + Phân lập vi khuẩn từ cấy dịch hay mô được lấy vô trùng ở cơ quan hay khoang nơi phẫu thuật; + Áp xe hay bằng chứng khác của nhiễm trùng qua thăm khám, phẫu thuật lại, X-quang hay giải phẫu bệnh; + Bác sĩ chẩn đoán NKVM tại cơ quan/khoang phẫu thuật [6] 1. Nguyên nhân gây nhiễm khuẩn vết mổ 1. Tác nhân gây bệnh: Vi khuẩn là tác nhân chính gây NKVM, tiếp theo là nấm. Rất ít bằng chứng cho thấy virus và ký sinh trùng là tác nhân gây NKVM.
Các vi khuẩn chính gây NKVM thay đổi tùy theo từng cơ sở khám chữa bệnh và tùy theo vị trí phẫu thuật. Các vi khuẩn gây NKVM có xu hướng kháng kháng sinh ngày càng tăng và là vấn đề nổi cộm hiện nay, đặc biệt là các chủng vi khuẩn đa kháng thuốc như: S. aureus kháng methicillin, vi khuẩn gram (-) sinh β-lactamase phổ rộng. Tại các cơ sở khám chữa bệnh có tỷ lệ người bệnh sử dụng kháng sinh cao, thường gặp các vi khuẩn gram (-) đa kháng thuốc như: E.
coli, Pseudomonas sp, A. Ngoài ra, việc sử dụng rộng rãi các kháng sinh phổ rộng tạo thuận lợi cho sự xuất hiện các chủng nấm gây NKVM. Các tác nhân gây NKVM thường gặp theo loại phẫu thuật được trình bày trong Bảng 1. Tác nhân gây bệnh thường gặp trong NKVM[6] Loại phẫu thuật Vi khuẩn có thể gặp Ghép bộ phận giả S.
epidermidis Phẫu thuật tim, thần kinh Mắt S. epidermids, Streptococcus Bacillus Chỉnh hình S. epidermidis Sản phụ khoa Streptococci, vi khuẩn kỵ khí S. aureus, Streptococci, vi khuẩn kỵ khí, E.
coli, Đầu mặt cổ Enterococci 5 Loại phẫu thuật Vi khuẩn có thể gặp Phổi, mạch máu, cắt ruột thừa, đường mật, đại trực Trực khuẩn kỵ khí, Bacillus, B. enterococci tràng, dạ dày tá tràng Tiết niệu E. coli, Klebsiella sp. Mở bụng thăm dò B.
fragilis và các vi khuẩn kỵ khí 1. Nguồn tác nhân gây bệnh và cơ chế lây truyền Có 2 nguồn tác nhân gây NKVM gồm: - Vi sinh vật trên người bệnh (nội sinh): Là nguồn tác nhân chính gây NKVM, gồm các vi sinh vật thường trú có ngay trên cơ thể người bệnh. Các vi sinh vật này thường cư trú ở tế bào biểu bì da, niêm mạc hoặc trong các khoang/tạng rỗng của cơ thể như: khoang miệng, đường tiêu hóa, đường tiết niệu - sinh dục. Một số ít trường hợp vi sinh vật bắt nguồn từ các ổ nhiễm khuẩn ở xa vết mổ theo đường máu hoặc bạch mạch xâm nhập vào vết mổ và gây NKVM.
Các tác nhân gây bệnh nội sinh nhiều khi có nguồn gốc từ môi trường bệnh viện và có tính kháng thuốc cao. - Vi sinh vật ngoài môi trường (ngoại sinh): Là các vi sinh vật ở ngoài môi trường xâm nhập vào vết mổ trong thời gian phẫu thuật hoặc khi chăm sóc vết mổ. Các tác nhân gây bệnh ngoại sinh thường bắt nguồn từ: + Môi trường phòng mổ: Bề mặt phương tiện, thiết bị, không khí buồng phẫu thuật, nước và phương tiện vệ sinh tay ngoại khoa. + Dụng cụ, vật liệu cầm máu, đồ vải phẫu thuật bị ô nhiễm.
+ Nhân viên kíp phẫu thuật: Từ bàn tay, trên da, từ đường hô hấp. + Vi sinh vật cũng có thể xâm nhập vào vết mổ khi chăm sóc vết mổ không tuân thủ đúng nguyên tắc vô khuẩn.