Luận văn Bùi Hoàng Vinh: Thực trạng sử dụng kháng sinh tại Bệnh viện Quân y 7A năm 2022

Tải luận văn phân tích thực trạng sử dụng kháng sinh tại Bệnh viện Quân y 7A năm 2022. Dữ liệu về cơ cấu, liều dùng và quy trình quản lý.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn Dược sĩ chuyên khoa cấp II

2025

102
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Đại cương về kháng sinh và tầm quan trọng sử dụng hợp lý

Kháng sinh là những chất có khả năng tiêu diệt hoặc ức chế sự phát triển của vi khuẩn, được sử dụng rộng rãi trong điều trị nhiễm trùng. Tại Bệnh viện Quân y 7A, việc sử dụng kháng sinh đóng vai trò quan trọng trong quản lý bệnh nhân nội trú. Tuy nhiên, sử dụng kháng sinh không hợp lý dẫn đến tình trạng kháng thuốc ngày càng gia tăng, gây nguy hiểm cho sức khỏe cộng đồng. Nghiên cứu phân tích thực trạng sử dụng kháng sinh tại Bệnh viện Quân y 7A năm 2022 giúp xác định các vấn đề hiện tại và đề xuất giải pháp cải thiện. Việc tuân thủ các nguyên tắc sử dụng kháng sinh dự phòngkháng sinh điều trị là cần thiết để nâng cao hiệu quả điều trị và giảm thiểu tác dụng phụ không mong muốn.

1.1. Định nghĩa và phân loại kháng sinh

Kháng sinh được định nghĩa là những chất hóa học có nguồn gốc từ vi sinh vật hoặc được tổng hợp, có khả năng tiêu diệt hoặc ức chế vi khuẩn. Phân loại kháng sinh theo cấu trúc hóa học bao gồm: Penicillin, Cephalosporin, Aminoglycoside, Fluoroquinolone và các nhóm khác. Mỗi nhóm có đặc điểm, phổ kháng khuẩn và chỉ định sử dụng khác nhau, đòi hỏi việc lựa chọn phù hợp với tình trạng bệnh nhân.

1.2. Nguyên tắc sử dụng kháng sinh hợp lý

Sử dụng kháng sinh hợp lý đòi hỏi phải tuân theo các nguyên tắc: chẩn đoán xác định trước khi dùng, chọn thuốc có phổ kháng khuẩn thích hợp, liều dùng đúng, đường dùng phù hợp, thời gian điều trị đủ và giám sát hiệu quả. Bệnh viện Quân y 7A cần áp dụng chương trình quản lý kháng sinh để đảm bảo các nguyên tắc này được tuân thủ.

II. Thực trạng sử dụng kháng sinh tại Bệnh viện Quân y 7A năm 2022

Phân tích thực trạng sử dụng kháng sinh tại Bệnh viện Quân y 7A năm 2022 cho thấy cơ cấu kháng sinh sử dụng tại bệnh viện với các nhóm thuốc ưu tiên quản lý. Nghiên cứu đánh giá danh mục thuốc kháng sinh, cơ cấu theo nguồn gốc xuất xứ (thuốc nước ngoài, thuốc trong nước), phân loại theo cấu trúc hóa họcđường dùng (tiêm tĩnh mạch, uống, tiêm cơ). Việc phân tích liều DDD (Defined Dose Daily) giúp đánh giá tính hợp lý trong sử dụng thuốc. Các khoa nội trú như Khoa Hồi sức cấp cứu chống độc được ưu tiên trong giám sát sử dụng kháng sinh nhóm 1 - những thuốc cần quản lý chặt chẽ do nguy cơ kháng thuốc cao.

2.1. Cơ cấu thuốc kháng sinh sử dụng

Cơ cấu kháng sinh tại Bệnh viện Quân y 7A bao gồm các nhóm chính: Beta-lactam, Fluoroquinolone, Aminoglycoside và các nhóm khác. Phân tích theo đường dùng cho thấy tỷ lệ sử dụng tiêm tĩnh mạch chiếm tỷ lệ cao nhất, đường uống được sử dụng ở bệnh nhân ngoài trú. Mỗi nhóm kháng sinh có chỉ định lâm sàng cụ thể phù hợp với bệnh lý của bệnh nhân.

2.2. Giám sát sử dụng kháng sinh ưu tiên quản lý nhóm 1

Kháng sinh nhóm 1 tại Bệnh viện Quân y 7A bao gồm: Colistin, Linezolid, Vancomycin, Imipenem, Doripenem. Giám sát sử dụng các thuốc này qua phác đồ điều trị, ngày điều trị (DOT)kinh phí sử dụng. Việc áp dụng quy trình kê đơn, duyệt cấp phát kháng sinh nhóm 1 đảm bảo chỉ sử dụng khi có chỉ định cấp bách, giúp kiểm soát kháng thuốc và nâng cao hiệu quả điều trị.

III. Các phương pháp đánh giá sử dụng kháng sinh trong bệnh viện

Để đánh giá thực trạng sử dụng kháng sinh tại Bệnh viện Quân y 7A, luận văn sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khoa học. Phương pháp DOT (Days of Therapy) tính toán số ngày bệnh nhân sử dụng kháng sinh, giúp đánh giá tính hợp lý về thời gian điều trị. Chỉ số DDD (Defined Dose Daily) được tính toán để đánh giá liều dùng và so sánh với các tiêu chuẩn quốc tế. Nghiên cứu thu thập dữ liệu từ hồ sơ bệnh án, phiếu kê đơn kháng sinh và ghi chép bệnh viện của các khoa nội trú. Phân tích số liệu sử dụng phương pháp thống kê mô tả, tính toán tỷ lệ phần trăm và so sánh với các tiêu chuẩn quốc tế. Các biến số nghiên cứu bao gồm: loại kháng sinh, liều dùng, đường dùng, thời gian điều trị, chỉ định lâm sàng.

3.1. Chỉ số DOT và DDD trong đánh giá sử dụng kháng sinh

DOT (Ngày điều trị) được tính bằng tổng số ngày bệnh nhân nhận kháng sinh, không tính liều dùng. DDD (Liều xác định trong ngày) là liều bình quân được khuyến cáo để điều trị một bệnh nhân trưởng thành trong một ngày. Hai chỉ số này giúp so sánh sử dụng kháng sinh giữa các bệnh viện và xác định xu hướng sử dụng theo thời gian.

3.2. Các tiêu chí kỹ thuật trong quản lý sử dụng kháng sinh

Tiêu chí kỹ thuật bao gồm: kháng sinh ưu tiên quản lýkháng sinh không ưu tiên quản lý. Quyết định 5631 của Bộ Y tế liệt kê danh sách kháng sinh cần ưu tiên quản lý chặt chẽ. Phiếu yêu cầu sử dụng kháng sinh và quy trình duyệt giúp đảm bảo việc sử dụng theo chỉ định.

IV. Kết luận và kiến nghị nâng cao chất lượng quản lý kháng sinh

Nghiên cứu phân tích thực trạng sử dụng kháng sinh tại Bệnh viện Quân y 7A năm 2022 cung cấp cái nhìn tổng quan về cơ cấu kháng sinh, liều dùngtuân thủ quy định quản lý. Kết quả cho thấy cần cải thiện một số khía cạnh trong quản lý sử dụng kháng sinh để giảm kháng thuốc vi khuẩn. Chương trình quản lý kháng sinh (AMS) cần được tăng cường với giám sát chặt chẽ các kháng sinh nhóm 1. Đào tạo định kỳ cho nhân viên y tế về nguyên tắc sử dụng kháng sinh là cần thiết. Cần áp dụng hệ thống thông tin để giám sát sử dụng kháng sinh trong thời gian thực. Xây dựng hướng dẫn lâm sàng riêng cho Bệnh viện Quân y 7A giúp chuẩn hóa chỉ định kháng sinh. Phối hợp giữa các khoa, phòng ban như Phòng Dược, Ban KHTH để tổ chức các cuộc kiểm tra định kỳ về tuân thủ quy định.

4.1. Những phát hiện chính từ nghiên cứu

Nghiên cứu xác định cơ cấu kháng sinh sử dụng, đặc điểm phác đồ điều trịtính hợp lý trong sử dụng. Phân tích kinh phí sử dụng kháng sinh, ngày điều trị (DOT)kết quả sau điều trị cho bệnh nhân. Đánh giá thực hiện quy định về quản lý kháng sinh nhóm 1 tại Khoa Hồi sức cấp cứu. Các phát hiện này là cơ sở để đề xuất giải pháp cải thiện.

4.2. Các kiến nghị cải thiện quản lý kháng sinh

Cần tăng cường quản lý kháng sinh thông qua chương trình AMS, giám sát sử dụng kháng sinh nhóm 1 nghiêm ngặt hơn. Đào tạo y tế về tính kháng thuốchậu quả của sử dụng kháng sinh không hợp lý. Thiết lập hệ thống báo cáo định kỳ về sử dụng kháng sinh, xây dựng chỉ số giám sát để đánh giá tiến độ cải thiện và phối hợp với các cơ sở y tế khác.

28/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Kháng sinh đã, đang và vẫn luôn là nhóm thuốc có vai trò quan trọng đối với con người trong điều trị các bệnh lý nhiễm khuẩn. Việc sử dụng kháng sinh không hợp lý dẫn tới nhiều hậu quả như gia tăng tỷ lệ kháng sinh và mất đi những thuốc có chỉ số Hiệu quả/An toàn cao [1]. Đề kháng kháng sinh hiện đang là vấn đề nhức nhối của các quốc gia trên thế giới, kể cả các nước có nền y học phát triển. Đề kháng kháng sinh dẫn đến thời gian nằm viện lâu hơn, chi phí y tế cao hơn và tỷ lệ tử vong tăng [2].

Thống kê năm 2019 cho thấy đã có khoảng 1,27 triệu người chết vì nhiễm khuẩn kháng kháng sinh [3]. Do việc sử dụng kháng sinh không hợp lý trong cộng đồng, Việt Nam cũng là một trong những các quốc gia đã phải chứng kiến mối đe dọa ngày càng gia tăng của đề kháng kháng sinh. Một phần ba số bệnh nhân nội trú đã sử dụng thuốc kháng sinh không hợp lý trong quá trình nhập viện [4]. Bên cạnh đó, nhiều phác đồ kháng sinh được khuyến cáo không còn hiệu quả trong quá trình điều trị do sự lạm dụng của nhân viên y tế lẫn bệnh nhân và sự gia tăng đề kháng của vi khuẩn.

Trước thực tế trên, các đơn vị điều trị bệnh cần có các biện pháp sử dụng kháng sinh an toàn và hợp lý. Một trong những giải pháp là triển khai chương trình quản lý kháng sinh (AMS) trong bệnh viện [5]. Đánh giá sử dụng kháng sinh để xác định vấn đề cần can thiệp là nhiệm vụ thường xuyên của nhóm quản lý sử dụng kháng sinh [6]. Bệnh viện Quân y 7A là bệnh viện Quân đội hạng 1 tuyến cuối của Quân khu 7, có vai trò quan trọng trong công tác chăm sóc sức khỏe cho cán bộ, chiến sĩ trong Quân khu cũng như người dân trên địa bàn đóng quân.

Thuốc kháng sinh được sử dụng hàng năm thường chiếm khoảng 16% - 22% tổng chi phí mua thuốc. Nhằm đảm bảo sử dụng hợp lý và hạn chế tình trạng gia tăng đề kháng, nhiều kháng sinh đã được đưa vào danh mục các kháng sinh được Ban Giám đốc duyệt trước khi sử dụng [7]. Sau Quyết định 5631/QĐ-BYT ngày 31/12/2020 của Bộ Y tế, bệnh viện đã ban hành Quy chế Quản lý sử dụng kháng sinh năm 2023, triển khai các hoạt động trong chương trình quản lý sử dụng kháng sinh. Để góp phần xây dựng các chương trình quản lý và nâng cao hiệu quả sử dụng kháng sinh tại bệnh viện, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Phân tích thực trạng sử dụng kháng sinh tại bệnh viện Quân y 7A năm 2022” với 2 mục tiêu: 1.

Phân tích cơ cấu danh mục thuốc kháng sinh sử dụng tại Bệnh viện Quân y 7A năm 2022. Phân tích thực trạng giám sát sử dụng một số thuốc kháng sinh ưu tiên quản lý Nhóm 1 tại khoa Hồi sức cấp cứu chống độc Bệnh viện Quân y 7A năm 2022. Đại cương về kháng sinh 1. Định nghĩa và phân loại kháng sinh Kháng sinh (antibiotics) là những chất kháng khuẩn (antibacterial substances) được tạo ra bởi các chủng vi sinh vật (vi khuẩn, nấm, Actinomycetes), có tác dụng ức chế sự phát triển của các vi sinh vật khác.

Hiện nay từ kháng sinh được mở rộng đến cả những chất kháng khuẩn có nguồn gốc tổng hợp như các sulfonamid và quinolone [8]. Kháng sinh được chia thành nhiều nhóm, dựa theo cấu trúc hóa học. Theo cách phân loại này, kháng sinh được chia thành các nhóm như sau: Bảng 1. Phân loại kháng sinh theo cấu trúc hóa học TT Tên nhóm Phân nhóm Các Penicilin Các Cephalosporin Các β-lactam khác 1 β-lactam Carbapenem Monobactam Các chất ức chế β-lactamase 2 Aminoglycosid 3 Macrolid 4 Lincosamid 5 Phenicol Thế hệ 1 6 Tetracyclin Thế hệ 2 Glycopeptid 7 Peptid Polypetid Lipopeptid Thế hệ 1 8 Quinolon Các Fluoroquinolon: Thế hệ 2,3,4 Các nhóm kháng sinh khác Sulfonamid 9 Oxazolidinon 5-nitroimidazol Trong các nhóm, lại có thể chia theo phổ tác dụng, đó là là kháng sinh đặc hiệu, kháng sinh phổ rộng và kháng sinh phổ hẹp.

Các loại kháng sinh phổ rộng 3 có hoạt tính đối với nhiều loại vi khuẩn khác nhau. Kháng sinh phổ hẹp là các loại kháng sinh chỉ tác động lên một số vi khuẩn nhất định [9]. Phân loại theo QĐ 5631/QĐ-BYT [10] - Kháng sinh cần ưu tiên quản lý - nhóm 1: + Kháng sinh cần ưu tiên quản lý - nhóm 1 là các kháng sinh dự trữ, thuộc một trong các trường hợp sau: lựa chọn cuối cùng trong điều trị các nhiễm trùng nặng khi đã thất bại hoặc kém đáp ứng với các phác đồ kháng sinh trước đó; lựa chọn điều trị các nhiễm khuẩn nghi ngờ hoặc có bằng chứng vi sinh, xác định do vi sinh vật đa kháng; là kháng sinh để điều trị các nhiễm khuẩn nặng do vi sinh vật kháng thuốc, có nguy cơ bị đề kháng cao nếu sử dụng rộng rãi, cần cân nhắc chỉ định phù hợp; kháng sinh có độc tính cao cần giám sát nồng độ điều trị thông qua nồng độ thuốc trong máu (nếu có điều kiện triển khai tại cơ sở) hoặc giám sát chặt chẽ về lâm sàng và xét nghiệm để giảm thiểu các TDKMM và độc tính. + Các cơ sở khám, chữa bệnh cần lập kế hoạch và có lộ trình cụ thể để xây dựng và ban hành các Hướng dẫn sử dụng kháng sinh Nhóm 1 trong phạm vi của đơn vị mình dựa trên các hướng dẫn chuyên môn uy tín, cập nhật hiện có trong nước và nước ngoài - Kháng sinh cần theo dõi, giám sát sử dụng - nhóm 2 Kháng sinh cần theo dõi, giám sát sử dụng - nhóm 2 là kháng sinh được khuyến khích thực hiện chương trình giám sát sử dụng tại bệnh viện bao gồm giám sát tiêu thụ kháng sinh, giám sát tỷ lệ đề kháng của vi khuẩn với kháng sinh, thực hiện các nghiên cứu đánh giá sử dụng thuốc để có can thiệp phù hợp tùy theo điều kiện của bệnh viện.

Đặc điểm một số loại kháng sinh ưu tiên quản lý nhóm 1 [8] Imipenem: Thuốc có phổ tác dụng rất rộng trên cả vi khuẩn hiếu khí và kỵ khí. Các chủng vi khuẩn nhạy cảm bao gồm streptococci (kể cả phế cầu kháng penicilin), enterococci (nhưng không bao gồm E. faecium và các chủng kháng penicilin không do sinh enzym β-lactamase), Listeria. Một vài chủng tụ cầu kháng methicilin có thể nhạy cảm với thuốc, nhưng phần lớn các chủng này đã kháng.

Hoạt tính rất mạnh trên Enterobacteriaceae (trừ các chủng tiết carbapenemase KPC). Tác dụng được trên phần lớn các chủng Pseudomonas và Acinetobacter. Tác động trên nhiều chủng kỵ khí, bao gồm cả B. Doripenem: Phổ tác dụng tương tự imipenem.

Tác dụng trên vi khuẩn Gram-dương tương tự imipenem, tốt hơn so với meropenem và ertapenem. 4 Linezolid: Thuốc có tác dụng trên vi khuẩn Gram-dương như staphylococci, streptococci, enterococci, cầu khuẩn Gram-dương kỵ khí, Corynebacterium spp. Thuốc hầu như không có tác dụng trên vi khuẩn Gram-âm cả hiếu khí và kỵ khí. Trên lâm sàng, linezolid thường được chỉ định trong các trường hợp vi khuẩn Gram-dương đã kháng các thuốc kháng sinh khác như S.

pneumoniae kháng penicilin, các chủng staphylococci kháng methicilin trung gian và kháng vancomycin, enterococci kháng vancomycin. Tác dụng không mong muốn (ADR) Thuốc được dung nạp tốt, có thể gặp một số tác dụng không mong muốn như rối loạn tiêu hóa, đau đầu, phát ban…Đáng lưu ý nhất là tác dụng ức chế tủy xương, với các biểu hiện thiếu máu, giảm bạch cầu, giảm tiểu cầu… Trong đó, xuất huyết giảm tiểu cầu hoặc số lượng tiểu cầu giảm xuống mức rất thấp có thể gặp với tỷ lệ tới 2,4% trên các người bệnh sử dụng linezolid, thường liên quan với độ dài đợt điều trị. Cần giám sát chặt chẽ tác dụng không mong muốn này. Colistin: Tập trung trên trực khuẩn Gram-âm, bao gồm Enterobacter, E.

coli, Klebsiella, Salmonella, Pasteurella, Bordetella, và Shigella. Thuốc cũng có tác dụng trên phần lớn các chủng P. Tác dụng không mong muốn (ADR): Các thuốc nhóm polypeptid không được hấp thu nếu dùng ngoài trên da và niêm mạc nguyên vẹn, vì vậy không gây ADR toàn thân. Tuy nhiên, thuốc vẫn có thể gây một số ADR dạng quá mẫn khi dùng tại chỗ.

Khi dùng đường tiêm, thuốc gây ức chế dẫn truyền thần kinh cơ, với các biểu hiện như yếu cơ hoặc nguy hiểm hơn là ngừng thở. Các ADR khác trên thần kinh khác bao gồm dị cảm, chóng mặt, nói lắp. Các thuốc nhóm này đều rất độc với thận, cần giám sát chặt chẽ, cố gắng tránh dùng cùng với các thuốc độc thận khác như kháng sinh aminoglycosid. Nguyên tắc sử dụng kháng sinh Trong y tế, việc sử dụng kháng sinh không hợp lý sẽ để lại những hậu quả rất lớn, thuốc kháng sinh sẽ gây tác dụng không mong muốn gây ảnh hưởng đến cơ thể người dùng đồng thời gây ra hiện tượng vi khuẩn đề kháng lại kháng sinh.

Hiện nay đã xuất hiện nhiều loại vi khuẩn kháng thuốc và tỷ lệ kháng đang tăng dần theo thời gian, thậm chí có vi khuẩn kháng với hầu hết kháng sinh, còn gọi là vi khuẩn siêu kháng thuốc [11]. Theo Bộ Y tế, chỉ sử dụng kháng sinh khi có nhiễm khuẩn và cần tuân thủ theo những nguyên tắc sau: 5 1. Lựa chọn kháng sinh và liều dùng Lựa chọn thuốc kháng sinh phụ thuộc hai yếu tố: Người bệnh và vi khuẩn gây bệnh. Yếu tố liên quan đến người bệnh cần xem xét bao gồm: lứa tuổi, tiền sử dị ứng thuốc, chức năng gan – thận, tình trạng suy giảm miễn dịch, mức độ nặng của bệnh, bệnh mắc kèm, cơ địa dị ứng… Nếu là phụ nữ: cần lưu ý đối tượng phụ nữ có thai, đang cho con bú để cân nhắc lợi ích/nguy cơ.

Về vi khuẩn: loại vi khuẩn, độ nhạy cảm với kháng sinh của vi khuẩn. Liều dùng của kháng sinh phụ thuộc nhiều yếu tố: Tuổi người bệnh, cân nặng, chức năng gan – thận, mức độ nặng của bệnh. Sử dụng kháng sinh dự phòng Kháng sinh dự phòng là việc sử dụng kháng sinh trước khi xảy ra nhiễm khuẩn nhằm mục đích ngăn ngừa hiện tượng này. Theo đa số các nghiên cứu cho thấy sự cải thiện đáng kể khi sử dụng kháng sinh dự phòng, nhằm giảm tần suất nhiễm khuẩn tại vị trí hoặc cơ quan được phẫu thuật [12].

KSDP nhằm giảm tần xuất nhiễm khuẩn tại vị trí hoặc cơ quan được phẫu thuật, không dự phòng nhiễm khuẩn toàn thân hoặc vị trí cách xa nơi được phẫu thuật. Sử dụng kháng sinh điều trị theo kinh nghiệm Điều trị kháng sinh theo kinh nghiệm khi chưa có bằng chứng về vi khuẩn học do không có điều kiện nuôi cấy vi khuẩn, hoặc khi đã nuôi cấy mà không phát hiện được nhưng có bằng chứng lâm sàng rõ rệt về nhiễm khuẩn.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ