Luận văn Hoàng Thị Thu Huế: Phân tích vấn đề sử dụng insulin ở bệnh nhân ĐTĐ típ 2

Luận văn phân tích các vấn đề khi sử dụng insulin bằng bơm tiêm trên bệnh nhân đái tháo đường típ 2 điều trị ngoại trú tại tỉnh Hưng Yên năm 2024.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn dược sĩ chuyên khoa cấp 1

2025

97
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về insulin và bơm tiêm trong điều trị đái tháo đường típ 2

Insulin bơm tiêm là một phương pháp điều trị hiện đại cho bệnh nhân đái tháo đường típ 2, giúp kiểm soát đường huyết hiệu quả. Bơm tiêm insulin cho phép cung cấp liều lượng chính xác theo nhu cầu cơ thể, cải thiện chất lượng sống của bệnh nhân. Phương pháp này đã được áp dụng rộng rãi tại các bệnh viện ở Việt Nam, đặc biệt là tại Bệnh viện Y Dược cổ truyền tỉnh Hưng Yên. Nghiên cứu về sử dụng insulin bằng bơm tiêm cho thấy hiệu quả cao trong việc làm giảm biến động đường huyết và các biến chứng liên quan. Sự phát triển công nghệ bơm tiêm đã mở ra những cơ hội mới trong quản lý bệnh đái tháo đường, giúp bệnh nhân tự theo dõi và điều chỉnh liều lượng insulin một cách thuận tiện hơn.

1.1. Định nghĩa và nguyên lý hoạt động của bơm tiêm insulin

Bơm tiêm insulin là thiết bị y tế được thiết kế để cung cấp insulin liên tục dưới da. Thiết bị này hoạt động theo nguyên lý cấp dùng từng nhỏ insulin trong suốt cả ngày, mô phỏng việc tuyến tụy bình thường tiết insulin. Bơm tiêm insulin giúp duy trì nồng độ đường huyết ổn định, giảm các cú sốc đường huyết cao và thấp. Công nghệ này cho phép bệnh nhân đái tháo đường có sự kiểm soát tốt hơn so với tiêm truyền thống.

1.2. Lợi ích của sử dụng bơm tiêm so với phương pháp tiêm truyền thống

Bơm tiêm insulin cung cấp nhiều lợi ích vượt trội cho bệnh nhân đái tháo đường típ 2. Phương pháp này giúp giảm số lần tiêm hàng ngày, cải thiện tuân thủ điều trị và nâng cao chất lượng cuộc sống. Sử dụng bơm tiêm cho phép điều chỉnh liều lượng chính xác hơn, giảm biến động đường huyết và hạn chế các tác dụng không mong muốn. Bệnh nhân có thể dễ dàng điều chỉnh liều lượng trong bữa ăn, hoạt động thể chất mà không cần tiêm bổ sung.

II. Phân tích kỹ thuật sử dụng insulin bơm tiêm ở bệnh nhân

Phân tích kỹ thuật sử dụng insulin bằng bơm tiêm trên bệnh nhân đái tháo đường típ 2 tại Bệnh viện Y Dược cổ truyền tỉnh Hưng Yên cho thấy kết quả đáng chú ý. Nghiên cứu đã đánh giá mức độ tuân thủ kỹ thuật tiêm insulin, bảo quản thuốc và lựa chọn vị trí tiêm của bệnh nhân. Đặc điểm chung của nhóm bệnh nhân cho thấy đa số hiểu được tầm quan trọng của sử dụng insulin đúng cách. Tuy nhiên, vẫn tồn tại những vấn đề về tuân thủ điều trị, bảo quản insulin và kỹ thuật tiêm không chuẩn. Việc phân tích sâu này giúp xác định các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả điều trị bằng bơm tiêm insulin.

2.1. Đặc điểm bệnh nhân và kiểm soát đường huyết

Nhóm bệnh nhân đái tháo đường típ 2 sử dụng bơm tiêm insulin có độ tuổi trung bình cao, thời gian mắc bệnh dài. Kiểm soát đường huyết của bệnh nhân được đánh giá qua chỉ số HbA1c, giá trị đường huyết lúc đói và sau ăn. Kết quả cho thấy mức độ kiểm soát còn chưa tốt ở một số bệnh nhân do các vấn đề liên quan đến tuân thủ sử dụng insulin và kỹ thuật tiêm không đúng. Cần có những can thiệp cải thiện kỹ thuật sử dụng bơm tiêm insulin để nâng cao hiệu quả điều trị.

2.2. Phác đồ điều trị và tuân thủ kỹ thuật tiêm

Phác đồ điều trị đái tháo đường với bơm tiêm insulin được xây dựng dựa trên tình trạng bệnh của từng bệnh nhân. Tuân thủ kỹ thuật tiêm insulin là yếu tố quan trọng quyết định hiệu quả điều trị. Nghiên cứu cho thấy bệnh nhân cần được hướng dẫn chuẩn về cách sử dụng bơm tiêm, khử trùng vị trí tiêm, lựa chọn vị trí tiêm xoay vòng và thay đổi vị trí bơm. Những bệnh nhân có tuân thủ tốt kỹ thuật sử dụng bơm tiêm đạt được kết quả kiểm soát đường huyết tốt hơn.

III. Các vấn đề liên quan đến dùng thuốc DRP trong sử dụng insulin

Các vấn đề liên quan đến dùng thuốc (DRP) là những sai lầm trong hành vi sử dụng insulin bơm tiêm của bệnh nhân đái tháo đường. Những vấn đề này bao gồm tuân thủ dùng insulin không đầy đủ, bảo quản insulin không đúng cách, lựa chọn vị trí tiêm không hợp lý và sử dụng bơm tiêm quá lâu. Nghiên cứu tại Bệnh viện Y Dược cổ truyền tỉnh Hưng Yên đã phát hiện ra tỷ lệ bệnh nhân gặp DRP cao, đặc biệt là về bảo quản insulin ở nhiệt độ không phù hợp. Việc xác định các vấn đề dùng thuốc này giúp dược sĩ can thiệp kịp thời, cải thiện hiệu quả điều trị.

3.1. Vấn đề tuân thủ dùng insulin và bảo quản

Tuân thủ dùng insulin là một thách thức lớn trong điều trị đái tháo đường bằng bơm tiêm. Nhiều bệnh nhân quên tiêm hoặc tiêm không đúng thời điểm. Bảo quản insulin không đúng cách, để ở nhiệt độ quá cao hoặc quá thấp, làm giảm hiệu lực của thuốc. Một số bệnh nhân không biết insulin đã bị lỏng hoặc thay đổi màu sắc. Giáo dục bệnh nhân về tuân thủ dùng insulinbảo quản insulin đúng cách là rất cần thiết để nâng cao hiệu quả điều trị.

3.2. Vấn đề về vị trí tiêm và sử dụng lại bơm tiêm

Lựa chọn vị trí tiêm và thay đổi vị trí xoay vòng là những khía cạnh quan trọng của kỹ thuật sử dụng bơm tiêm insulin. Nhiều bệnh nhân tiêm vào cùng một vị trí lặp lại, gây sẹo mô dưới da và giảm hấp thụ insulin. Sử dụng lại bơm tiêm quá nhiều lần làm tăng nguy cơm nhiễm trùng và giảm độ sắc nhọn của kim. Cần tuyên truyền bệnh nhân thay vị trí tiêm theo hướng dẫn, sử dụng bơm tiêm mới sau số lần quy định để đảm bảo an toàn và hiệu quả.

IV. Tác dụng không mong muốn và kiến nghị cải thiện

Tác dụng không mong muốn liên quan đến sử dụng bơm tiêm insulin bao gồm tăng cân, hạ đường huyết, phản ứng dị ứng tại vị trí tiêm và sẹo mô dưới da. Nghiên cứu tại Bệnh viện Y Dược cổ truyền tỉnh Hưng Yên cho thấy tỷ lệ bệnh nhân gặp các tác dụng không mong muốn này không thấp. Những bệnh nhân có kỹ thuật sử dụng bơm tiêm không đúng có xu hướng gặp nhiều vấn đề hơn. Cần có những biện pháp giáo dục, hướng dẫn và theo dõi bệnh nhân một cách định kỳ. Sự can thiệp của dược sĩ lâm sàng trong quản lý tác dụng không mong muốn là rất quan trọng để cải thiện chất lượng cuộc sống của bệnh nhân.

4.1. Các tác dụng không mong muốn thường gặp

Tác dụng không mong muốn phổ biến của sử dụng bơm tiêm insulin bao gồm hạ đương huyết (hypoglycemia), tăng cân do liều lượng insulin tăng, phản ứng dị ứng tại vị trí tiêm như chứng tích tụa lipoprotein. Sẹo mô dưới da xảy ra khi bệnh nhân tiêm lặp lại vào cùng vị trí. Một số bệnh nhân còn gặp nhiễm trùng tại vị trí tiêm do vệ sinh không tốt. Việc nhận diện sớm các tác dụng không mong muốn giúp điều chỉnh phác đồ hoặc kỹ thuật tiêm kịp thời.

4.2. Kiến nghị cải thiện và vai trò của dược sĩ

Để cải thiện hiệu quả sử dụng bơm tiêm insulin và giảm tác dụng không mong muốn, cần tăng cường giáo dục bệnh nhân. Dược sĩ lâm sàng đóng vai trò quan trọng trong hướng dẫn kỹ thuật sử dụng insulin, giám sát tuân thủ điều trị và xử lý các vấn đề phát sinh. Cần thiết lập chương trình theo dõi bệnh nhân định kỳ, đánh giá hiệu quả kiểm soát đường huyết và điều chỉnh phác đồ khi cần. Hợp tác giữa các chuyên gia y tế sẽ giúp bệnh nhân đái tháo đường đạt được kết quả điều trị tốt nhất.

28/12/2025
Hoàng thị thu huế phân tích một số vấn đề liên quan đến sử dụng insulin bằng bơm tiêm trên bệnh nhân đái tháo đường típ 2 điều trị ngoại trú tại phòng khám bệnh viện y dược cổ truyền tỉnh hưng yên năm 2024 luận văn dược sĩ chu

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Tổng quan về bệnh đái tháo đường 1. Định nghĩa bệnh đái tháo đường Bệnh đái tháo đường là bệnh rối loạn chuyển hóa, có đặc điểm tăng glucose huyết mạn tính do khiếm khuyết về tiết Insulin, về tác động của Insulin, hoặc cả hai. Tăng glucose mạn tính trong thời gian dài gây nên những rối loạn chuyển hóa carbohydrate, protide, lipide, gây tổn thương ở nhiều cơ quan khác nhau, đặc biệt ở tim và mạch máu, thận, mắt, thần kinh [4].

Phân loại đái tháo đường Bệnh đái tháo đường được phân thành 4 loại chính [4] a) Đái tháo đường típ 1 (do phá hủy tế bào beta tụy, dẫn đến thiếu Insulin tuyệt đối). c) Đái tháo đường thai kỳ (là ĐTĐ được chẩn đoán trong 3 tháng giữa hoặc 3 tháng cuối của thai kỳ và không có bằng chứng về ĐTĐ típ 1, típ 2 trước đó). d) Các loại ĐTĐ đặc biệt do các nguyên nhân khác, như ĐTĐ sơ sinh hoặc đái tháo đường do sử dụng thuốc và hóa chất như sử dụng glucocorticoid, điều trị HIV/AIDS hoặc sau cấy ghép mô… 1. Điều trị đái tháo đường 1.

Các phương pháp điều trị tổng thể bao gồm một số các biện pháp sau [4]: - Tư vấn, hỗ trợ, can thiệp thay đổi lối sống: không hút thuốc, không uống rượu bia, chế độ ăn và hoạt động thể lực (áp dụng cho tất cả người bệnh, các giai đoạn). - Tư vấn tuân thủ điều trị, kiểm soát cân nặng - Thuốc uống hạ đường huyết - Thuốc tiêm hạ đường huyết - Kiểm soát tăng huyết áp - Kiểm soát rối loạn lipid máu - Chống đông 3 - Điều trị và kiểm soát biến chứng, bệnh đồng mắc. Các loại thuốc điều trị ĐTĐ [4] - Thuốc uống: Metformin, Sulfonylurea, ức chế enzym alpha glucosidase, ức chế kênh SGLT2, ức chế enzym DPP- 4, TZD (Pioglitazon). - Thuốc tiêm: Insulin, đồng vận thụ thể GLP-1.

Mục tiêu điều trị [4] Bảng 1. Mục tiêu điều trị cho BN ĐTĐ ở người trưởng thành, không có thai Mục tiêu Chỉ số HbA1c < 7% (53mmol/mol) Glucose huyết tương mao mạch 80-130 mg/dL (4,4-7,2 mmol/L)* lúc đói, trước ăn Đỉnh glucose huyết tương mao <180 mg/dL (10,0 mmol/L)* mạch sau ăn 1-2 giờ Tâm thu <140 mmHg, Tâm trương <90 mmHg Huyết áp Nếu đã có biến chứng thận, hoặc có yếu tố nguy cơ tim mạch do xơ vữa cao: Huyết áp <130/80 mmHg LDL cholesterol <100 mg/dL (2,6 mmol/L), nếu chưa có biến chứng tim mạch LDL cholesterol <70 mg/dL (1,8 mmol/L) nếu đã có bệnh tim mạch vữa xơ, hoặc có thể thấp hơn <50 Lipid máu mg/dL nếu có yếu tố nguy cơ xơ vữa cao Triglycerides <150 mg/dL (1,7 mmol/L) HDL cholesterol >40 mg/dL (1,0 mmol/L) ở nam và >50 mg/dL (1,3 mmol/L) ở nữ * Mục tiêu điều trị ở các cá nhân có thể khác nhau. - Mục tiêu có thể thấp hơn (HbA1c < 6,5%) ở BN trẻ, mới chẩn đoán, không có các bệnh lý tim mạch, nguy cơ hạ glucose máu thấp. 4 - Ngược lại, mục tiêu có thể cao hơn (HbA1c từ 7,5 - 8%) ở những BN lớn tuổi, mắc bệnh đái tháo đường đã lâu, có nhiều bệnh lý đi kèm, có tiền sử hạ glucose máu nặng trước đó.

- Cần chú ý mục tiêu glucose huyết sau ăn (sau khi bắt đầu ăn 1-2 giờ) nếu đã đạt được mục tiêu glucose huyết lúc đói nhưng chưa đạt được mục tiêu HbA1c. Mục tiêu điều trị đái tháo đường ở người cao tuổi Glucose huyết lúc Glucose Tình trạng sức Cơ sở để HbA1c Huyết áp đói hoặc trước ăn lúc đi ngủ khỏe chọn lựa (%) mmHg (mg/dL) (mg/dL) Mạnh khỏe Còn sống lâu < 7,5% 90-130 90-150 < 140/90 Nhiều bệnh, sức Kỳ vọng sống < 8,0% 90-150 100-180 < 140/90 khỏe trung bình trung bình Nhiều bệnh phức tạp hoặc bệnh Không còn < 8,5% 100-180 110-200 < 150/90 nguy kịch/ sức sống lâu khỏe kém * Đánh giá về kiểm soát đường huyết: - Thực hiện xét nghiệm HbA1c ít nhất 2 lần trong 1 năm ở những người bệnh đáp ứng mục tiêu điều trị (và những người có đường huyết được kiểm soát ổn định). - Thực hiện xét nghiệm HbA1c hàng quý ở những người bệnh được thay đổi liệu pháp điều trị hoặc những người không đáp ứng mục tiêu về glucose huyết. Thực hiện xét nghiệm HbA1c tại thời điểm người bệnh đến khám, chữa bệnh để tạo cơ hội cho việc thay đổi điều trị kịp thời hơn.

Tổng quan về Insulin và thực hành sử dụng insulin trong điều trị đái tháo đường 1. Tổng quan về insulin và các đặc tính của insulin 1. Định nghĩa Insulin Insulin là một loại hormone từ các tế bào đảo tụy ở tuyến tụy tiết ra. Chúng có tác dụng chuyển hóa các chất carbohydrate trong cơ thể.

Insulin còn có tác dụng đến việc 5 chuyển hóa các mô mỡ và gan thành loại năng lượng ATP để cung cấp cho hoạt động của cơ thể. Insulin được tổng hợp ở tế bào Beta trong đảo tụy bằng sự hoạt động của bộ máy tổng hợp protein trong tế bào. Insulin cũng là tác nhân duy nhất trong cơ thể có thể làm giảm nồng độ Glucose trong máu. Phân loại Insulin [4] Theo cấu trúc phân tử: - Insulin người /human Insulin/Insulin thường/regular Insulin: được tổng hợp bằng phương pháp tái tổ hợp DNA, rất tinh khiết, ít gây dị ứng và đề kháng do tự miễn và loạn dưỡng mô mỡ tại chỗ tiêm.

Thuốc cũng có thể bảo quản ở nhiệt độ phòng <30 độ C và có thể mang theo khi đi du lịch miễn là tránh nhiệt độ rất nóng hoặc rất lạnh. Human Insulin hiện có tại Việt Nam gồm Insulin thường (regular Insulin) và NPH (Neutral Protamine Hagedorn). - Insulin analog được tổng hợp bằng kỹ thuật tái tổ hợp DNA, nhưng có thay đổi cấu trúc bằng cách thay thế một vài acid amin hoặc gắn thêm chuỗi polypeptide để thay đổi dược tính. - Ví dụ về một số Insulin analog gồm Insulin tác dụng nhanh như Aspart, Lispro, Glulisine và loại tác dụng kéo dài như Detemir, Glargine.

Hiện nay, Insulin Degludec tác dụng dài đã được cấp phép lưu hành ở Việt Nam. Theo cơ chế tác dụng: a) Insulin tác dụng nhanh, ngắn: - Insulin người (regular Insulin) là loại tinh thể Insulin zinc hòa tan, tác dụng 30 phút sau khi tiêm dưới da, và kéo dài 5- 7 giờ với liều thường dùng, liều càng cao thời gian tác dụng càng kéo dài. Thuốc có thể truyền tĩnh mạch khi điều trị cấp cứu hôn mê do nhiễm ceton acid, tăng áp lực thẩm thấu máu, khi phẫu thuật. - Insulin analog tác dụng nhanh, ngắn.

Hiện tại có 3 loại Insulin analog tác dụng nhanh, ngắn là: Aspart, Lispro và Glulisine - Insulin Aspart: Thay thế proline ở vị trí B28 bằng aspartic acid 6 - Insulin Lispro: proline ở vị trí B28 đổi chỗ với lysine ở vị trí B29 - Insulin Glulisine: Asparagine ở vị trí B3 được thay thế bằng lysine và lysine ở vị trí B29 được thay thế bằng glutamic acid. 03 loại Insulin này ít có khuynh hướng tạo thành hexamer so với human Insulin. Sau khi tiêm dưới da, thuốc phân ly nhanh thành monomer và được hấp thu, đạt đỉnh tác dụng sau 1 giờ. Sự thay đổi cấu trúc này không ảnh hưởng đến việc gắn vào thụ thể Insulin, ngoài ra thời gian kéo dài tác dụng khoảng 4 giờ, không thay đổi theo liều dùng.

Do tác dụng nhanh của Insulin analog, BN cần lưu ý có đủ lượng carbohydrat trong phần đầu của bữa ăn. b) Insulin tác dụng trung bình, trung gian: NPH (Neutral Protamine Hagedorn hoặc Isophane Insulin): thuốc có tác dụng kéo dài nhờ phối hợp 2 phần Insulin zinc hòa tan với 1 phần protamine zinc Insulin. Sau khi tiêm dưới da, thuốc bắt dầu tác dụng sau 2-4 giờ, đỉnh tác dụng sau 6-7 giờ và thời gian kéo dài khoảng 10-20 giờ. Thường cần tiêm 2 lần một ngày để đạt hiệu quả kéo dài.

c) Insulin tác dụng chậm, kéo dài: Insulin glargine: Asparagine ở vị trí A21 được thay thế bằng glycine và 2 phân tử asparagine được gắn thêm vào đầu tận carboxyl của chuỗi B. Insulin glargine là dung dịch trong, pH acid. Khi tiêm dưới da, thuốc sẽ lắng đọng thành các phân tử nhỏ được phóng thích từ từ vào máu. Thuốc kéo dài tác dụng 24 giờ, không có đỉnh cao rõ rệt trong máu, khi tiêm 1 lần trong ngày sẽ tạo một nồng độ Insulin nền.

Thuốc không được trộn lẫn với human Insulin. Insulin analog detemir: threonine ở vị trí B30 được lấy đi và chuỗi acid béo C14 (tetradecanoic acid) được gắn với lysine ở vị trí B29 bằng phản ứng acyl hóa. Thuốc kéo dài tác dụng 24 giờ và có thể tiêm dưới da 1-2 lần/ngày để tạo nồng độ Insulin nền. Thuốc sử dụng được cho phụ nữ có thai.

Insulin Degludec: là Insulin analog, threonine ở vị trí B30 bị cắt bỏ và lysine ở vị trí B29 được gắn kết với hexdecanoic acid thông qua gamma-L-glutamyl. Trong dịch chứa có phenol và kẽm, Insulin Degludec ở dạng dihexamer, nhưng khi tiêm dưới da, chúng kết hợp thành những chuỗi multihexamer rất lớn, gồm hàng ngàn dihexamer. Các chuỗi này phân 7 tán rất chậm ở mô dưới ra và các phân tử Insulin monomer được phóng thích từ từ vào máu với nồng độ ổn định. Thời gian bán hủy của thuốc là 25 giờ.

Thuốc bắt đầu tác dụng 30-90 phút sau khi tiêm dưới da và kéo dài tác dụng hơn 42 giờ. Trạng thái ổn định đạt được sau 2 - 3 ngày dùng thuốc và tác dụng làm giảm glucose của Insulin Degludec ở trạng thái ổn định cho thấy sự biến đổi về hệ số biến thiên từ ngày này qua ngày khác thấp hơn 4 lần khi so với Insulin glargine U 100. Bên cạnh đó, Degludec cho phép linh hoạt về thời gian sử dụng (không bắt buộc phải tiệm cùng thời điểm trong ngày, chỉ cần đảm bảo tối thiểu 08 giờ giữa các lần tiêm). d) Insulin trộn, hỗn hợp: Insulin trộn sẵn gồm 2 loại tác dụng nhanh và tác dụng dài trong một lọ hoặc một bút tiêm.

Thuốc sẽ có 2 đỉnh tác dụng, Insulin tác dụng nhanh để chuyển hóa carbohydrat trong bữa ăn và Insulin tác dụng dài để tạo nồng độ Insulin nền giữa các bữa ăn. Hiện có các loại: - 70% Insulin isophane/30% Insulin hòa tan - 70% Insulin aspart kết tinh với protamin/30% Insulin aspart hòa tan - 50% Insulin Aspart Protamine/50% Insulin Aspart hòa tan - 70% Insulin Degludec/30% Insulin aspart - 75% NPL(neutral protamine lispro)/25% Insulin Lispro - 50% NPL(neutral protamine lispro)/50% Insulin Lispro Một lọ Insulin có 10 mL, với các nồng độ khác nhau. Hiện trên thị trường có 2 loại là 40 IU/mL (U 40-một lọ 10 mL có 400 đơn vị) và 100 IU/mL (U100- một lọ 10 mL có 1000 đơn vị). Chú ý phải dùng loại ống tiêm phù hợp với nồng độ thuốc: Insulin loại U 40 phải dùng ống tiêm Insulin 1mL = 40 IU, Insulin U100 phải dùng ống tiêm 1mL=100IU.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ