Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Sau khi Việt Nam chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), môi trường kinh doanh mở ra nhiều cơ hội lớn nhưng cũng gia tăng áp lực cạnh tranh gay gắt giữa các doanh nghiệp. Các đơn vị xuất nhập khẩu giữ vai trò cầu nối trọng yếu giữa thị trường nội địa và quốc tế, đòi hỏi năng lực xử lý thông tin và quản trị rủi ro linh hoạt. Đối với Công ty Xuất nhập khẩu An Giang (Angimex) – một doanh nghiệp nhà nước hoạt động tại trung tâm vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), xuất khẩu gạo là ngành hàng mũi nhọn đóng góp tỷ trọng lớn trong cơ cấu doanh thu. Tuy nhiên, trong bối cảnh công ty thực hiện lộ trình cổ phần hóa, các cơ chế ưu đãi từ phía Nhà nước giảm dần, buộc doanh nghiệp phải tự chủ tài chính và nâng cao hiệu quả vận hành. Dù kim ngạch xuất khẩu gạo của công ty liên tục duy trì ở mức cao (năm 2004 đạt 55,190 triệu USD; năm 2005 đạt 70,409 triệu USD; năm 2006 đạt 72,532 triệu USD), nhưng những biến động về giá nguyên liệu, dịch bệnh nông nghiệp, biến động tỷ giá và chính sách điều hành xuất khẩu đòi hỏi công tác nhận diện và kiểm soát rủi ro phải được thực hiện có hệ thống.
Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận gồm 2 nội dung chính:
- Tìm hiểu tình hình thực tế tại công ty, phân tích những điểm mạnh, điểm yếu và nguyên nhân thành công trong hoạt động xuất khẩu gạo.
- Phân tích các loại rủi ro và các biện pháp hạn chế rủi ro trong hoạt động xuất khẩu gạo của công ty.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động xuất khẩu gạo và các nghiệp vụ quản trị rủi ro liên quan tại doanh nghiệp.
- Phạm vi không gian: Công ty Xuất nhập khẩu An Giang (Angimex).
- Phạm vi thời gian: Số liệu thu thập và phân tích trong giai đoạn 3 năm từ 2004 đến 2006.
- Quỹ thời gian thực hiện: Giới hạn trong 60 ngày.
- Giới hạn nhiệm vụ nghiên cứu: Tập trung phân tích rủi ro nguồn nguyên liệu, rủi ro thị trường - khách hàng, rủi ro thanh toán - tỷ giá, rủi ro nghiệp vụ xuất nhập khẩu và rủi ro tài chính.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận sử dụng khung phân tích tài chính doanh nghiệp và nghiệp vụ ngoại thương để đo lường các khía cạnh rủi ro trong hoạt động sản xuất kinh doanh:
- Hệ thống chỉ tiêu tài chính:
- Vòng quay các khoản phải thu ($RT = \text{Doanh thu thuần} / \text{Khoản phải thu bình quân}$) và Kỳ thu tiền bình quân ($360 / RT$).
- Khả năng thanh toán: Hệ số thanh toán hiện hành ($R_c = \text{TSLĐ & ĐTNH} / \text{Nợ ngắn hạn}$), Hệ số thanh toán nhanh ($R_q = (\text{TSLĐ} - \text{Hàng tồn kho}) / \text{Nợ ngắn hạn}$), Hệ số thanh toán bằng tiền ($(\text{Tiền} + \text{ĐTNH}) / \text{Nợ ngắn hạn}$), và Hệ số thanh toán lãi vay ($(\text{EBIT} + \text{Lãi vay}) / \text{Lãi vay phải trả}$).
- Quản trị tồn kho: Vòng quay hàng tồn kho ($IT = \text{Doanh thu thuần} / \text{Hàng tồn kho}$) và Số ngày lưu kho ($360 / IT$).
- Hiệu quả sử dụng vốn: Số vòng quay vốn ($\text{Doanh thu thuần} / \text{Tổng nguồn vốn sử dụng bình quân}$), Số ngày quay vòng vốn ($360 / \text{Số vòng quay vốn}$), Tỷ suất sinh lợi tổng nguồn vốn ($\text{LNST} / \text{Tổng NV sử dụng bình quân}$), và Vốn luân chuyển ($\text{TSNH} - \text{Nợ ngắn hạn}$).
- Khung quy chuẩn và điều kiện ngoại thương: Điều kiện thương mại quốc tế Incoterms (tập trung vào điều kiện FOB và CIF); Quy tắc và Thực hành Thống nhất về Tín dụng Chứng từ (UCP 500 của ICC); Tập quán Ngân hàng Tiêu chuẩn Quốc tế (ISBP số 645 của ICC năm 2003); Hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001:2000 được tổ chức SGS chứng nhận tháng 9/2005.
- Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp thu thập dữ liệu: Trích xuất số liệu thứ cấp nội bộ từ báo cáo tài chính quyết toán, bảng cân đối kế toán, các chứng từ của Phòng Kế toán - Tài vụ và Phòng Kế hoạch - Kinh doanh của Angimex; kết hợp số liệu thống kê từ Sở Thương mại An Giang, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Bộ Tài chính, Tổ chức Nông Lương Liên Hiệp Quốc (FAO) và WTO.
- Phương pháp xử lý dữ liệu: Phương pháp thống kê mô tả, phân tích tổng hợp, so sánh chỉ số tuyệt đối và tương đối, đánh giá xu hướng biến động qua chuỗi thời gian 2004 - 2006.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Mở đầu
Chương này xác định tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu về rủi ro xuất khẩu gạo của Angimex trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước. Tác giả xác lập 2 mục tiêu nghiên cứu cụ thể, xác định phạm vi không gian tại Công ty Angimex, giới hạn thời gian nghiên cứu giai đoạn 2004 - 2006 với quỹ thời gian thực hiện 60 ngày. Đồng thời, chương 1 giới thiệu cấu trúc phương pháp luận thu thập số liệu chứng từ kế toán và xử lý số liệu bằng phương pháp so sánh xu hướng qua các năm.
Chương 2: Giới thiệu về Công ty Xuất nhập khẩu An Giang (Angimex)
- Lịch sử hình thành: Doanh nghiệp tiền thân là Công ty Ngoại thương tỉnh An Giang thành lập theo Quyết định số 73/QĐ-76 vào tháng 9/1976. Qua các giai đoạn tái cơ cấu, công ty đổi tên thành Liên hiệp Công ty Xuất nhập khẩu An Giang (Quyết định số 422/QĐ/UB ngày 31/12/1979) và chuyển thành Công ty Xuất nhập khẩu An Giang từ năm 1989. Từ quy mô ban đầu gồm 40 nhân sự và số vốn 5.000 đồng (tương đương 10 lượng vàng), đến năm 2006 công ty sở hữu hệ thống 8 cửa hàng thương mại và 6 nhà máy xay xát chế biến lương thực.
- Cơ cấu tổ chức: Vận hành theo mô hình trực tuyến - chức năng dưới sự điều hành của Ban Giám đốc, các phòng chức năng (Tổ chức - Hành chánh, Kế hoạch - Kinh doanh, Đầu tư - Phát triển, Kế toán - Tài vụ, Đầu tư phát triển thị trường), 2 chi nhánh tại TPHCM và Cần Thơ, Nhà máy Châu Đốc cùng các xí nghiệp chế biến và cửa hàng kinh doanh tổng hợp, đại lý xe máy Honda.
- Tình hình hoạt động kinh doanh giai đoạn 2004 - 2006:
| Chỉ tiêu tài chính |
Năm 2004 |
Năm 2005 |
Năm 2006 |
So sánh 2005/2004 (%) |
So sánh 2006/2005 (%) |
| Doanh thu (triệu đồng) |
1.170.130 |
1.494.440 |
1.205.570 |
+28,58% |
-19,80% |
| Lợi nhuận trước thuế (triệu đồng) |
16.430 |
25.790 |
22.990 |
+56,97% |
-10,86% |
| Thuế (triệu đồng) |
4.780 |
7.220 |
6.970 |
+51,05% |
-3,46% |
| Lợi nhuận sau thuế (triệu đồng) |
11.650 |
18.570 |
16.020 |
+59,40% |
-13,73% |
- Phương hướng hoạt động năm 2007: Đặt kế hoạch xuất khẩu và cung ứng xuất khẩu 250.000 tấn gạo; tăng trưởng doanh thu 15% đối với mảng xe máy, dịch vụ sửa chữa và phân bón (20.000 tấn); mở rộng sang ngành hàng mới gồm xuất khẩu 1.320 tấn cá tra fillet và nhập khẩu 20.000 tấn bã đậu nành; áp dụng hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001:2000 (SGS chứng nhận), nâng tỷ trọng bán sỉ lẻ xe máy tại các huyện lên 70% và chuẩn bị chiến lược giảm bớt sự phụ thuộc vào điều hành xuất khẩu của Nhà nước bằng cách mở rộng thị trường tiêu dùng nội địa và chế biến phụ phẩm trấu.
Chương 3: Phân tích rủi ro trong xuất khẩu gạo của Công ty Xuất nhập khẩu An Giang
Chương này đi sâu vào phân tích 4 nhóm rủi ro thực tế mà công ty đối mặt:
- Rủi ro nguồn nguyên liệu:
- Hoạt động thu mua: Công ty phân bổ kế hoạch cho các xí nghiệp thỏa thuận giá theo hình thức "thuận mua vừa bán" với thương lái hoặc nông dân, hoàn toàn chưa áp dụng hợp đồng bao tiêu. Xí nghiệp 1 và Xí nghiệp 4 có sản lượng thu mua lớn nhất. Giá thu mua bình quân của Angimex thấp hơn giá bình quân của 4 doanh nghiệp xuất khẩu trong tỉnh khoảng 100 đồng/kg.
- Giám sát nội bộ: Công ty quản lý giá và tiến độ thông qua 3 chương trình phần mềm: Chương trình báo cáo nhanh khối lương thực, Chương trình báo cáo ngày và Chương trình tổng hợp giá thành.
- Biến động cung - cầu: Giai đoạn 2004 - 2005, nhu cầu tiêu thụ toàn cầu vượt sản lượng sản xuất (năm 2004 cầu 413,72 triệu tấn so với cung 389,11 triệu tấn; năm 2005 cầu 415,35 triệu tấn so với cung 402,07 triệu tấn). Năm 2006, sản lượng lúa chịu ảnh hưởng bởi dịch bệnh rầy nâu, vàng lùn, lùn xoắn lá tại ĐBSCL, bão số 9 (Durian) và lệnh tạm dừng xuất khẩu gạo vào cuối năm của Chính phủ.
- Tỷ trọng thu mua: Lượng mua của Angimex đạt 0,207 triệu tấn (2004), 0,248 triệu tấn (2005) và 0,248 triệu tấn (2006), tương ứng chiếm 6,90%, 8,00% và 8,55% sản lượng tỉnh An Giang; chiếm 1,12%, 1,30% và 1,32% sản lượng vùng ĐBSCL. Tỷ lệ này thấp nên rủi ro thiếu hụt nguồn cung ở mức thấp.
- Rủi ro thanh toán và tỷ giá:
- Cơ cấu phương thức thanh toán: Tín dụng chứng từ L/C chiếm 40% (áp dụng cho tập đoàn và hợp đồng lớn từ vài trăm ngàn USD trở lên), Chuyển tiền bằng điện T/T chiếm 35% (áp dụng cho khách quen với lượng giao dịch nhỏ từ 250 - 500 tấn, đặt cọc trước 10% - 30%), Nhờ thu chấp nhận thanh toán D/A chiếm 20%, và Nhờ thu thanh toán đổi chứng từ D/P kết hợp CAD chiếm 5%.
- Đồng tiền thanh toán và tỷ giá: 100% hợp đồng xuất khẩu thanh toán bằng USD. Tỷ giá USD/VND có xu hướng tăng đều qua các năm (từ 15.641 VND/USD đầu năm 2004 lên gần 16.000 VND/USD năm 2006), tạo thuận lợi cho doanh thu xuất khẩu.
- Vay nợ ngoại tệ: Tỷ lệ nợ vay bằng ngoại tệ chiếm 29,67% (2004), 45,32% (2005) và 44,61% (2006) trong tổng dư nợ vay ngắn hạn. Doanh thu xuất khẩu hàng tháng bằng ngoại tệ luôn lớn hơn quy mô vay ngoại tệ (năm 2004 doanh thu đạt 869.304 triệu đồng so với 508.756 triệu đồng tiền vay; năm 2005 đạt 1.107.949 triệu đồng so với 979.702 triệu đồng; năm 2006 đạt 971.061 triệu đồng so với 659.200 triệu đồng), giúp công ty kiểm soát hoàn toàn rủi ro tỷ giá. Quá trình này được hỗ trợ bởi Chương trình biểu đồ tỷ giá và Chương trình hiệu quả USD.
- Rủi ro nghiệp vụ xuất nhập khẩu:
- Nghiệp vụ thuê tàu: Thực hiện theo điều kiện FOB (bên nhập khẩu tự thuê tàu, thông báo trước 10 - 15 ngày) và CIF (công ty thuê tàu qua quan hệ hợp tác với các hãng tàu Gemartrans, OOCL, MSC hoặc linh hoạt chuyển đổi sang thuê container khi cước phí cao).
- Nghiệp vụ bảo hiểm: Công ty ký kết hợp đồng bảo hiểm trọn gói với các hãng bảo hiểm trong nước (Bảo Việt, Bảo Minh, PJICO) cho hàng hóa lưu kho và trên đường vận chuyển.
- Điều kiện mua bán: Kiểm soát rủi ro đóng gói, tiến độ giao hàng nhờ nhà máy sản xuất bao bì nội bộ và quy trình xét duyệt hợp đồng 2 cấp (Trưởng phòng Kế hoạch - Kinh doanh và Phó Giám đốc phụ trách kinh doanh).
- Rủi ro tài chính:
| Nhóm chỉ tiêu tài chính |
Năm 2004 |
Năm 2005 |
Năm 2006 |
| Doanh thu thuần (triệu đồng) |
1.129.074 |
1.451.721 |
1.173.404 |
| Vòng quay các khoản phải thu (RT - vòng) |
18,46 |
21,38 |
28,86 |
| Kỳ thu tiền bình quân (ngày) |
19,50 |
16,84 |
12,47 |
| Hệ số thanh toán hiện hành ($R_c$ - lần) |
1,11 |
1,28 |
1,07 |
| Hệ số thanh toán nhanh ($R_q$ - lần) |
0,56 |
0,72 |
0,33 |
| Hệ số thanh toán bằng tiền (lần) |
0,02 |
0,04 |
0,04 |
| Hệ số thanh toán lãi vay (lần) |
2,25 |
2,58 |
3,00 |
| Vòng quay hàng tồn kho (IT - vòng) |
18,42 |
21,07 |
21,05 |
| Số ngày lưu kho bình quân (ngày) |
20 |
17 |
17 |
| Số vòng quay vốn (vòng) |
6,12 |
7,12 |
7,22 |
| Thời gian 1 vòng quay vốn (ngày) |
59 |
51 |
50 |
| Tỷ suất sinh lợi tổng nguồn vốn (ROA) |
6,21% |
9,06% |
8,87% |
| Vốn luân chuyển (triệu đồng) |
16.991 |
27.042 |
6.892 |
Chương 4: Kết luận và kiến nghị
Tác giả tổng kết các kết quả đạt được trong việc kiểm soát rủi ro nguyên liệu, thanh toán, tỷ giá và các chỉ số tài chính cơ bản. Đồng thời, đề xuất 4 nhóm giải pháp: khai thác triệt để các phần mềm tin học quản lý; liên kết xây dựng vùng nguyên liệu lúa chất lượng cao có ràng buộc pháp lý; đa dạng hóa sản phẩm tiêu dùng nội địa gắn với phụ phẩm lúa gạo; hoàn thiện hệ thống kiểm soát rủi ro toàn diện tại doanh nghiệp.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đưa ra các kết quả định lượng cụ thể về hoạt động xuất khẩu và quản trị tài chính của Angimex trong giai đoạn 2004 - 2006:
- Tăng trưởng kim ngạch và thị phần: Kim ngạch xuất khẩu của Angimex đạt 72,532 triệu USD vào năm 2006, chiếm 51,8% tổng kim ngạch xuất khẩu toàn tỉnh An Giang.
- Nâng cao hiệu quả thu hồi công nợ: Vòng quay các khoản phải thu tăng liên tục từ 18,46 vòng (2004) lên 21,38 vòng (2005) và 28,86 vòng (2006), giúp rút ngắn thời gian thu hồi nợ từ 19,50 ngày xuống còn 12,47 ngày.
- Cải thiện chu chuyển vốn: Số ngày luân chuyển của một vòng quay vốn rút ngắn từ 59 ngày (2004) xuống 51 ngày (2005) và 50 ngày (2006). Hệ số thanh toán lãi vay tăng từ 2,25 lần lên 3,00 lần, phản ánh năng lực bù đắp chi phí tài chính ổn định.
- Nhận diện rủi ro thanh khoản: Chỉ ra sự suy giảm mạnh của hệ số thanh toán nhanh xuống 0,33 lần và vốn luân chuyển giảm 74,51% vào năm 2006 (đạt 6.892 triệu đồng) do ảnh hưởng từ lệnh tạm dừng xuất khẩu gạo và quá trình tập trung dòng tiền thanh toán nợ ngắn hạn kết hợp đầu tư tài sản cố định.
Các giải pháp do tác giả đề xuất bao gồm:
- Tối ưu hóa việc vận hành 5 chương trình phần mềm quản lý nội bộ (3 chương trình quản lý giá thành và tồn kho khối lương thực, 2 chương trình giám sát tỷ giá và hiệu quả vay vốn ngoại tệ).
- Triển khai mô hình liên kết sản xuất thông qua hợp đồng bao tiêu lúa chất lượng cao với nông dân, có sự phối hợp của các cơ quan quản lý để đảm bảo tính thực thi pháp lý, hạn chế việc hủy hợp đồng khi giá biến động.
- Chuyển dịch một phần cơ cấu kinh doanh sang thị trường nội địa bằng các sản phẩm gạo chất lượng cao (Jasmine 2%, nếp 5%) và khai thác giá trị kinh tế từ phụ phẩm trấu.
- Thiết lập mô hình quản trị hàng tồn kho tối ưu nhằm giảm chi phí lưu kho và hạn chế rủi ro ứ đọng vốn trong các thời điểm thị trường biến động.
Đóng góp của nghiên cứu:
Khóa luận đã tổng hợp và mô hình hóa bức tranh rủi ro toàn diện của một doanh nghiệp xuất khẩu gạo đầu ngành tại ĐBSCL trong giai đoạn bước đầu gia nhập WTO; liên kết chặt chẽ giữa các chỉ số phân tích báo cáo tài chính với thực tế biến động thị trường nông sản quốc tế và chính sách quản lý nhà nước.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Thời gian nghiên cứu thực tế tại doanh nghiệp bị giới hạn trong 60 ngày; chuỗi số liệu tài chính và hoạt động kinh doanh mới dừng lại ở giai đoạn 2004 - 2006; các dữ liệu về hợp đồng bao tiêu chưa thể đánh giá toàn diện do doanh nghiệp thời điểm này chủ yếu thu mua tự do qua thương lái mà chưa triển khai mô hình bao tiêu diện rộng.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục theo dõi và đánh giá tác động của tiến trình cổ phần hóa đến cấu trúc tài chính và rủi ro thanh khoản của Angimex trong các năm tiếp theo; nghiên cứu ứng dụng các mô hình định lượng quản trị hàng tồn kho tối ưu (như EOQ) cho doanh nghiệp xuất khẩu nông sản; phân tích sâu hơn các công cụ tài chính phái sinh nhằm phòng ngừa biến động giá gạo và tỷ giá hối đoái.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng tham khảo: Tài liệu phù hợp cho sinh viên, học viên các chuyên ngành Tài chính Doanh nghiệp, Kinh doanh Quốc tế, Kinh tế Ngoại thương; các nhà nghiên cứu về chuỗi cung ứng lúa gạo tại ĐBSCL; cán bộ quản lý tài chính và nghiệp vụ xuất nhập khẩu tại các doanh nghiệp nông sản.
- Nội dung tham khảo giá trị:
- Phương pháp phân tích hệ thống tỷ số tài chính (thanh toán, luân chuyển vốn, khoản phải thu, hàng tồn kho) gắn liền với bối cảnh kinh doanh theo mùa vụ nông nghiệp.
- Cơ chế quản lý dòng tiền ngoại tệ thông qua việc cân đối doanh thu xuất khẩu bằng USD với các khoản vay ngắn hạn bằng ngoại tệ để tối ưu hóa chi phí lãi vay.
- Kinh nghiệm xây dựng và ứng dụng các công cụ báo cáo nhanh nội bộ trong quản trị giá thành thu mua nguyên liệu và theo dõi tỷ giá.
Câu hỏi thường gặp
1. Phương thức thanh toán quốc tế nào chiếm tỷ trọng cao nhất tại Công ty Angimex trong giai đoạn 2004 - 2006 và áp dụng cho đối tượng khách hàng nào?
Phương thức tín dụng chứng từ (L/C) chiếm tỷ trọng lớn nhất với 40% tổng giá trị thanh toán hàng năm, được áp dụng chủ yếu cho các tập đoàn thương mại quốc tế hoặc các hợp đồng có giá trị lớn từ vài trăm ngàn USD trở lên. Kế tiếp là phương thức chuyển tiền bằng điện (T/T) chiếm 35% (áp dụng cho khách hàng quen mua số lượng nhỏ từ 250 - 500 tấn), D/A chiếm 20% và D/P kết hợp CAD chiếm 5%.
2. Vì sao Angimex duy trì tỷ lệ vay nợ bằng ngoại tệ cao nhưng vẫn kiểm soát được rủi ro tỷ giá?
Tỷ lệ vay bằng ngoại tệ của Angimex chiếm từ 29,67% đến 45,32% tổng dư nợ ngắn hạn nhằm tận dụng mức lãi suất vay USD thấp hơn VND và thủ tục vay vốn theo hợp đồng xuất khẩu thuận tiện. Rủi ro này được kiểm soát an toàn vì 100% doanh thu xuất khẩu của công ty đều thu bằng USD, và tổng doanh thu ngoại tệ hàng tháng luôn vượt xa nghĩa vụ trả nợ vay ngoại tệ (năm 2004 đạt 869.304 triệu đồng so với 508.756 triệu đồng tiền vay; năm 2005 đạt 1.107.949 triệu đồng so với 979.702 triệu đồng; năm 2006 đạt 971.061 triệu đồng so với 659.200 triệu đồng).
3. Nguyên nhân khiến hệ số thanh toán nhanh ($R_q$) của Angimex suy giảm xuống 0,33 lần trong năm 2006 là gì?
Nguyên nhân chủ yếu do các khoản phải thu ngắn hạn của công ty giảm mạnh 59,21% (từ 64.336 triệu đồng năm 2005 xuống 26.242 triệu đồng năm 2006), trong khi nợ ngắn hạn chỉ giảm nhẹ (từ 97.403 triệu đồng xuống 93.614 triệu đồng). Đồng thời, việc thực hiện lệnh tạm dừng xuất khẩu gạo của Chính phủ vào những tháng cuối năm 2006 khiến lượng lớn tài sản bị đọng dưới dạng hàng tồn kho (chiếm 84.650 triệu đồng cuối kỳ), làm suy giảm lượng tài sản có tính thanh khoản cao để bảo đảm cho nợ ngắn hạn.
4. Chỉ số vòng quay các khoản phải thu và kỳ thu tiền bình quân của Angimex thay đổi như thế nào qua 3 năm?
Chỉ số vòng quay các khoản phải thu ($RT$) tăng trưởng liên tục qua các năm: đạt 18,46 vòng (năm 2004), 21,38 vòng (năm 2005) và 28,86 vòng (năm 2006). Tương ứng với đó, kỳ thu tiền bình quân được rút ngắn dần từ 19,50 ngày (2004) xuống 16,84 ngày (2005) và chỉ còn 12,47 ngày (2006), chứng minh hiệu quả thu hồi công nợ và quản lý bán chịu của công ty ngày càng cải thiện.
5. Angimex sử dụng những chương trình tin học nội bộ nào để kiểm soát rủi ro trong quản lý giá thành và tỷ giá?
Doanh nghiệp xây dựng và vận hành 5 chương trình hỗ trợ quản lý: 3 chương trình cho khối lương thực gồm Chương trình báo cáo nhanh khối lương thực (theo dõi sản lượng và giá mua ngày, tháng, quý), Chương trình báo cáo ngày (lưu trữ thông tin giao dịch xí nghiệp và tồn kho), Chương trình tổng hợp giá thành (tính giá thành bình quân và giá vốn tồn kho hàng ngày); cùng 2 chương trình tài chính gồm Chương trình biểu đồ tỷ giá (lưu trữ tỷ giá 4 nước xuất nhập khẩu gạo so với USD) và Chương trình hiệu quả USD (so sánh hiệu quả vay USD và vay VND).
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Trần Quang Huy đã hoàn thành việc hệ thống hóa và phân tích sâu sắc thực trạng các rủi ro trong hoạt động xuất khẩu gạo tại Công ty Xuất nhập khẩu An Giang (Angimex) giai đoạn 2004 - 2006. Nghiên cứu chỉ ra rằng công ty đã kiểm soát hiệu quả rủi ro nguồn cung, rủi ro thanh toán và rủi ro tỷ giá nhờ quy trình quản lý thông tin chặt chẽ và dòng thu ngoại tệ ổn định, song vẫn đối mặt với thách thức suy giảm thanh khoản nhanh và áp lực tồn kho khi có biến động chính sách xuất khẩu. Các giải pháp được đề xuất về ứng dụng công nghệ thông tin, thiết lập vùng nguyên liệu bao tiêu có khung pháp lý và đa dạng hóa sản phẩm nội địa mang tính khả thi cao. Đây là công trình nghiên cứu phản ánh chân thực các vấn đề quản trị tài chính và nghiệp vụ ngoại thương của doanh nghiệp xuất khẩu nông sản Việt Nam trong giai đoạn hội nhập WTO và cổ phần hóa.