CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIẾN VỀ TẠO LẬP VÀ SỬ DỤNG QUỸ BHTN 1.1 Cơ sở lý luận về tạo lập và sử dụng quỹ BHTN 1.1 Khái niệm thất nghiệp, BHTN và quỹ BHTN Để hiểu về Bảo hiểm thất nghiệp trước tiên ta phải hiểu về thất nghiệp, đối tượng thất nghiệp: Thất nghiệp, trong kinh tế học, là tình trạng người lao động muốn có việc làm mà không tìm được việc làm. Tỷ lệ thất nghiệp là phần trăm số người lao động không có việc làm trên tổng số lực lượng lao động xã hội. Một số nhà nghiên cứu khoa học Việt Nam đã đưa ra những khái niệm về thất nghiệp như: “Thất nghiệp là hiện tượng mà người có sức lao động, có nghề, muốn đi làm việc, không có việc làm và đã đăng ký ở cơ quan có thẩm quyền” hay như: “Thất nghiệp là tình trạng trong đó người có sức lao động trong độ tuổi lao động không có việc làm và đang cần tìm một việc làm có trả công” (Kỷ yếu hội thảo khoa học 1988, Bộ Lao động –Thương binh và Xã hội). Như vậy, không phải tất cả những người không có việc làm đều là người thất nghiệp, chỉ những người không có việc làm, trong độ tuổi lao động, có nhu cầu tìm việc làm mới được coi là người thất nghiệp.
Năm 2006, khái niệm “người thất nghiệp” đã được luật hóa và trở thành thuật ngữ pháp lý tại khoản 4 điều 3 Luật BHXH. Theo đó, người thất nghiệp được định nghĩa là: “người đang đóng bảo hiểm thất nghiệp mà bị mất việc làm hoặc chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc nhưng chưa tìm được việc làm”. Khái niệm “người thất nghiệp” đã được luật hóa trong luật BHXH là một loại thống kê mô tả một phần đối tượng thất nghiệp trong số người thất nghiệp của một khu vực điều tra thống kê về số lao động việc làm, giúp cụ thể 6 hóa được đối tượng người thất nghiệp được hưởng chế độ chính sách được quy định trong chính sách BHTN. Bảo hiểm thất nghiệp là chế độ nhằm bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi bị mất việc làm, hỗ trợ người lao động học nghề, duy trì việc làm, tìm việc làm trên cơ sở đóng vào Quỹ bảo hiểm thất nghiệp.
Nguyễn Văn Định (2008) nêu rõ: Bảo hiểm thất nghiệp là một loại hình phúc lợi tạm thời dành cho người đã đi làm và bị mất việc làm ngoài ý muốn. BHTN sẽ góp phần ổn định đời sống và hỗ trợ cho người lao động được học nghề và tìm việc làm, sớm đưa họ trở lại làm việc. Mức hỗ trợ thu nhập dựa trên cơ sở đóng góp của người lao động trước khi bị thất nghiệp. Người lao động tham gia BHTN, khi thất nghiệp sẽ được hỗ trợ về tư vấn giới thiệu việc làm, đào tạo nghề để có thể sớm tìm được việc làm, gia nhập lại thị trường lao động.
BHTN là hoạt động hỗ trợ một khoản tài chính đảm bảo ổn định cuộc sống cho người lao động (NLĐ) trong thời gian mất việc làm và mục đích chính của BHTN là thông qua các hoạt động đào tạo nghề, tư vấn, giới thiệu việc làm, sớm đưa những lao động thất nghiệp tìm được một việc làm mới thích hợp và ổn định. Giống như các loại hình bảo hiểm xã hội (BHXH) khác, BHTN được thiết lập nhằm hỗ trợ NLĐ và gia đình họ ổn định cuộc sống khi gặp rủi ro không có việc làm. Có nghĩa là về bản chất, BHTN chính là hình thức san sẻ rủi ro giữa những NLĐ với nhau nhằm giúp đỡ những người thất nghiệp vượt qua khó khăn. Khác với các dạng BHXH khác, BHTN là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho NLĐ chỉ trong trường hợp họ bị mất việc làm tạm thời và đang có nhu cầu tìm việc làm.
Hơn nữa, BHTN không những trợ cấp tài chính cho người thất nghiệp, mà còn chi trả cho hỗ trợ học nghề, tư vấn việc làm… Như vậy, từ góc độ trợ cấp, có thể nói BHTN là một bộ phận của BHXH. 7 Tìm hiểu về quỹ BHTN ta thấy trong Luật việc làm số 38/2013/QH13 Quốc Hội ra ngày 16 tháng 11 năm 2013, hiệu lực từ 01/01/2015 quy định tại Điều 57 quy định Mức đóng, nguồn hình thành và sử dụng Quỹ bảo hiểm thất nghiệp như sau: 1. Mức đóng và trách nhiệm đóng BHTN được quy định như sau: a) Người lao động đóng bằng 1% tiền lương tháng; b) Người sử dụng lao động đóng bằng 1% quỹ tiền lương tháng của những người lao động đang tham gia bảo hiểm thất nghiệp; c) Nhà nước hỗ trợ tối đa 1% quỹ tiền lương tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của những người lao động đang tham gia bảo hiểm thất nghiệp và do ngân sách trung ương bảo đảm. Nguồn hình thành Quỹ bảo hiểm thất nghiệp bao gồm: a) Các khoản đóng và hỗ trợ theo quy định; b) Tiền sinh lời của hoạt động đầu tư từ quỹ; c) Nguồn thu hợp pháp khác.
Như vậy, quỹ bảo hiểm thất nghiệp là một quỹ tài chính độc lập tập trung nằm ngoài ngân sách nhà nước. Quỹ được hình thành chủ yếu từ ba nguồn: Người lao động, người sử dụng lao động và ngân sách nhà nước hỗ trợ. Ngoài ra quỹ còn được bổ sung thêm do đầu tư từ quỹ mang lại hoặc do đóng góp của các tổ chức của các nhà hảo tâm. Sự đóng góp này tạo nên sự ràng buộc giữa nghĩa vụ, trách nhiệm và quyền lợi của các bên tham gia bảo hiểm thất nghiệp.
Hàng tháng họ phải có trách nhiệm đóng vào quỹ bảo hiểm. Trong cơ chế thị trường, đối với các hoạt động kinh doanh, Nhà nước chỉ thực hiện chức năng quản lý nên khi xây dựng chính sách BHTN cần có tỷ lệ tương xứng giữa đóng góp và thụ hưởng của người lao động, hạn chế tới mức thấp nhất sự bù đắp của Nhà nước đối với quỹ BHTN. Trong luật việc làm có quy định rõ Quỹ bảo hiểm thất nghiệp được hạch toán độc lập. Tổ chức bảo hiểm xã hội thực hiện việc thu, chi, quản lý 8 và sử dụng Quỹ bảo hiểm thất nghiệp.
Sau khi thành lập, quỹ này độc lập với ngân sách Nhà nước để chủ động giải quyết vấn đề thất nghiệp. Quỹ này không được sử dụng để giải quyết các vấn đề xã hội khác.2 Bản chất và mục tiêu quản lý quỹ BHTN Để quản lý quỹ BHTN cần hiểu rõ bản chất và mục tiêu quản lý quỹ BHTN, với các nguyên tắc và phương pháp quản lý nhằm mang lại hiệu quả tối ưu trong quá trình vận hành quản lý quỹ. Theo Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (2002), Giáo trình khoa học quản lý nêu rõ: Quản lý Quỹ BHTN được hiểu là sự tác động của các chủ thể quản lý vào đối tượng quản lý trong các hoạt động lập, xét duyệt dự toán, tổ chức thực hiện, điều hành và kiểm tra, giám sát hoạt động thu BHTN, chi trả các chế độ BHTN nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra theo những nguyên tắc và phương pháp quản lý nhất định. Quản lý quỹ BHTN thực chất bao gồm một chuỗi các hoạt động: Quản lý quá trình thu, quản lý quá trình chi, quản lý đối tượng tham gia BHTN… Khi nói tới quản lý Quỹ BHTN là nói đến một loạt các mối quan hệ, bao gồm quan hệ giữa Nhà nước, cơ quan BHXH, người lao động và người sử dụng lao động.
Trong các mối quan hệ trên thì người lao động và chủ sử dụng lao động là đối tượng quản lý. Chủ thể quản lý chính là Nhà nước và cơ quan BHXH Các cấp từ Trung ương tới địa phương. Bảo hiểm xã hội Việt Nam thực hiện việc thu, chi, quản lý Quỹ bảo hiểm thất nghiệp và được mở tài khoản tiền gửi Quỹ bảo hiểm thất nghiệp tại hệ thống Kho bạc Nhà nước và hệ thống Ngân hàng thương mại của Nhà nước. Số dư trên tài khoản tiền gửi được hưởng lãi suất tiền gửi theo quy định của Kho bạc Nhà nước và các Ngân hàng thương mại nhà nước.
Hàng năm, tổ chức Bảo hiểm xã hội có trách nhiệm thực hiện việc quyết toán thu, chi Quỹ bảo hiểm thất nghiệp; chi quản lý theo quy định. Như vậy, quỹ 9 BHTN phải được quản lý thống nhất từ trung ương đến địa phương, chế độ tổ chức Nhà nước theo ngành dọc, quỹ phải được hạch toán độc lập, cân đối thu chi. Quỹ BHTN sẽ hỗ trợ thu nhập cho người lao động bị thất nghiệp, nhằm thay thế thu nhập bị mất do mất việc làm, hỗ trợ người thất nghiệp có nguồn lực để tồn tại và có khả năng tìm kiếm công việc mới, góp phần ổn định đời sống của người thất nghiệp và gia đình họ. Quỹ BHTN ổn định nền kinh tế trong thời kỳ suy thoái thông qua duy trì sức mua của lực lượng lao động bị mất việc làm, khoản trợ cấp thay thế này giúp không làm suy giảm một cách bất ngờ sức mua của lực lượng lao động, tránh được sự suy giảm hoạt động kinh tế theo kiểu dây chuyền.
Theo Luật Bảo hiểm xã hội số 71/2006/QH12 ngày 29/6/2006 xác định: Mục tiêu chung của quản lý Quỹ BHTN là làm cho quá trình tổ chức thu, chi trả chế độ BHTN thông suốt, đúng, đủ, kịp thời, phục vụ cho người tham gia hưởng các chế độ BHTN ngày càng tốt hơn, đáp ứng được mục đích của BHTN là thay thế một phần thu nhập cho người lao động khi bị mất việc làm và giúp họ có cơ hội nhanh chóng trở lại thị trường lao động, góp phần ổn định, bảo đảm an toàn xã hội và thúc đẩy sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.3 Đặc điểm, vai trò của quỹ BHTN Quỹ bảo hiểm thất nghiệp là nguồn tài chính lớn hình thành từ sự đóng góp của người lao động và người sử dụng lao động được tồn tích lại và ngân sách nhà nước hỗ trợ. Ngoài ra quỹ còn được bổ sung thêm do đầu tư từ quỹ mang lại hoặc do đóng góp của các tổ chức của các nhà hảo tâm. Quỹ có vai trò lớn trong việc chi trả trợ cấp thất nghiệp, trích kinh phí đào tạo việc làm cho người lao động, ngoài ra để bảo toàn và phát triển nguồn quỹ nhàn rỗi, bảo hiểm xã hội đem đầu tư lại cho nền kinh tế trong các chương trình, dự án kinh tế - xã hội sẽ phát huy tác dụng lớn và mang lại hiệu quả, đóng góp vào công 10 cuộc xây dựng đất nước; đặc biệt trong điều kiện hiện nay, Đảng và Nhà nước đã khẳng định phát triển kinh tế - xã hội dựa trên nội lực là chính thì nguồn đầu tư tiền nhàn rỗi từ quỹ BHTN là một kênh quan trọng.