CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI KIỂM TOÁN ĐỘC LẬP 1. Lý luận về kiểm toán độc lập 1. Khái niệm về kiểm toán và kiểm toán độc lập 1. Khái quát về hoạt động kiểm toán Các thông tin và hiểu biết về “kiểm toán” chỉ mới phổ biến trên thế giới trong khoảng 100 năm trở lại đây.
Tuy nhiên, thực chất lĩnh vực này đã có từ rất lâu đời. Lịch sử đã ghi lại những hoạt động có tính chất “kiểm toán” sơ khai đầu tiên từ thời Ai Cập, Hy Lạp với những vị trí được bổ nhiệm riêng để kiểm tra ngân quỹ, xác định các gian lận cũng như để tìm hiểu xem liệu các khoản thu và chi có được ghi chép một cách chính xác hay không. Nguồn gốc của Kiểm toán xuất phát từ từ “Audire” trong tiếng Latinh có nghĩa là “nghe”. Cụm từ này biểu thị cho việc kiểm tra tài sản bằng cách bên kiểm tra sẽ “nghe” người ghi chép đọc to các thông tin và xác nhận có chấp thuận hay không.
Trải qua thời gian, cùng với sự phát triển của nền kinh tế, hoạt động kiểm toán đã ngày càng mở rộng quy mô, phục vụ nhiều đối tượng hơn, do đó cũng đòi hỏi kiểm toán viên phải có nhiều kỹ năng hơn. Khái niệm và cách vận dụng thuật ngữ này cũng phổ biến hơn do nhu cầu quản lý hoạt động sản xuất, kinh doanh ngày càng lớn qua các thời kỳ. Một số quan điểm về khái niệm kiểm toán như sau: - Theo IFAC (2021), “Kiểm toán là việc các kiểm toán viên độc lập kiểm tra và trình bày ý kiến của mình về báo cáo tài chính”. - Trong Chuẩn mực Kế toán của Vương quốc Anh, “kiểm toán là sự kiểm tra độc lập và bày tỏ ý kiến về những bản khai tài chính của công ty do kiểm toán viên được bổ nhiệm thực hiện theo các nghĩa vụ pháp lý có liên quan”.
- Trong cuốn “Auditing and Assurance Services An Integrated Approach” tái bản lần thứ 14 của hai tác giả Alvin A.Arens và Randal J.Elder, “Kiểm toán là việc tích lũy và đánh giá bằng chứng để xác định và báo cáo mức độ phù hợp giữa thông tin và các chuẩn mực đã thiết lập” (2011, Tr4). 6 Tại Việt Nam, mặc dù thuật ngữ kiểm toán mới chỉ xuất hiện từ những năm 1990, tuy nhiên cách hiểu về kiểm toán đã nhanh chóng “bắt kịp” với sự cập nhật trên thế giới. - Trong “Giáo trình Lý thuyết Kiểm toán” của Trường Đại học Kinh tế quốc dân, tái bản lần thứ 3 của PGS.TS Nguyễn Quang Quynh (2018, Tr6), kiểm toán được hiểu là “Quá trình xác minh và bày tỏ ý kiến về thực trạng hoạt động được kiểm toán bằng hệ thống phương pháp kỹ thuật của kiểm toán chứng từ và ngoài chứng từ do các kiểm toán viên có trình độ nghiệp vụ tương xứng thực hiện trên cơ sở hệ thống pháp lý có hiệu lực”. Như vậy, từ cách hiểu sơ khai ban đầu là việc kiểm tra lại các thông tin tài chính hay kiểm tra kế toán, khái niệm kiểm toán đã được phát biểu một cách rõ ràng và đầy đủ hơn, gắn với cả bằng chứng, nghiệp vụ và chuẩn mực kiểm toán được hoàn thiện đến ngày nay.
Mặc dù tồn tại nhiều khái niệm về kiểm toán, nhưng có thể khái quát những đặc điểm nổi bật về bản chất kiểm toán đã được thừa nhận rộng rãi trong các tài liệu hiện nay như sau: Thứ nhất, kiểm toán là một quá trình thu thập bằng chứng và đánh giá sự phù hợp giữa thông tin chủ thể và các chuẩn mực đã được thừa nhận. Thông tin được kiểm toán không chỉ dừng ở bút toán kế toán, báo cáo tài chính mà có thể là một hoạt động tài chính bất kỳ. Sự xuất hiện của các “chuẩn mực kiểm toán” là bước phát triển mạnh mẽ của kiểm toán ngày nay so với thời kỳ sơ khai. Các “chuẩn mực” cung cấp một thước đo, một hệ quy chiếu chung giúp công việc kiểm toán được quy chuẩn hóa, đảm bảo tính thống nhất, logic của một hoạt động khoa học và loại bỏ dần những đánh giá chủ quan.
Thứ hai, hoạt động kiểm toán do các kiểm toán viên có trình độ nghiệp vụ tương xứng thực hiện, những cá nhân có đủ năng lực chuyên môn và nắm rõ các biện pháp kiểm tra chứng từ và ngoài chứng từ. Thứ ba, khái niệm kiểm toán đã được gắn liền với các “hệ thống pháp lý có hiệu lực”, các quy định pháp lý trở thành cơ sở hoạt động của kiểm toán. Nền tảng pháp lý giúp các ý kiến kiểm toán được bảo vệ và tin tưởng hơn, đồng thời thúc đẩy sự minh bạch trong hoạt động kiểm toán. Khái niệm kiểm toán độc lập Nếu phân loại theo chủ thể thực hiện thì kiểm toán độc lập là một trong 3 loại hình kiểm toán bên cạnh kiểm toán nhà nước và kiểm toán nội bộ.
Ngày nay, số lượng doanh nghiệp được thành lập ngày càng tăng lên với các hoạt động góp vốn, sản xuất kinh doanh phức tạp. Điều này đã đặt ra yêu cầu về sự minh bạch các thông tin tài chính của doanh nghiệp nhằm đảm bảo quyền lợi chính đáng của các cổ đông cũng như các nghĩa vụ mà doanh nghiệp phải thực hiện với nhà nước. Để làm được điều đó, đòi hỏi phải có một bên thứ ba độc lập khách quan, với trình độ chuyên môn cao xác minh tính tin cậy của các thông tin tài chính được công bố. Đây là cơ sở để hoạt động KTĐL ra đời và trở thành hoạt động thiết yếu trong nền kinh tế thị trường, đồng thời cũng là yêu cầu bắt buộc của nhà nước đối với một số nhóm doanh nghiệp đặc thù.
Theo Liên đoàn Kế toán Quốc tế IFAC, kiểm toán độc lập là quá trình kiểm tra các số liệu tài liệu của doanh nghiệp do các kiểm toán viên độc lập thực hiện để xác nhận tính trung thực, hợp lý của các báo cáo tài chính và cung cấp kết quả kiểm toán cho những người được trả phí kiểm toán. Tại Việt Nam, theo Điều 5 Luật kiểm toán độc lập số 67/2011/QH12, “Kiểm toán độc lập là việc kiểm toán viên hành nghề, doanh nghiệp kiểm toán, chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam kiểm tra, đưa ra ý kiến độc lập của mình về báo cáo tài chính và công việc kiểm toán khác theo hợp đồng kiểm toán”. Từ phân tích khái niệm trên, có thể thấy rõ các đặc điểm của kiểm toán độc lập được phát biểu chi tiết hơn so với khái niệm kiểm toán, cụ thể như sau: - Về chủ thể thực hiện: hoạt động kiểm toán độc lập phải do một bên thứ ba độc lập, khách quan, đáp ứng các quy định của nhà nước thực hiện. - Về đối tượng kiểm toán: đối tượng của kiểm toán độc lập là báo cáo tài chính của doanh nghiệp cùng các công việc kiểm toán khác dựa trên hợp đồng kiểm toán.
- Mục tiêu của kiểm toán độc lập là đảm bảo tính minh bạch của các thông tin tài chính đến với các đối tượng quan tâm. Hoạt động kiểm toán độc lập cũng là một đặc thù của nền kinh tế thị trường, nơi mà các mối quan hệ giữa các cá nhân, tổ chức ngày càng phức tạp và sự cạnh tranh 8 giữa các doanh nghiệp ngày càng gay gắt. Hoạt động kiểm toán độc lập trở thành ngành dịch vụ hỗ trợ kinh doanh để duy trì “kỷ cương” của nền kinh tế. Phân loại kiểm toán độc lập Trong bài luận văn này, tác giả trình bày phân loại kiểm toán độc lập theo hai tiêu chí sau: 1.
Theo đối tượng khách thể kiểm toán Trong cuốn “Giáo trình Lý thuyết Kiểm toán căn bản Đại học Kinh tế Quốc dân” tái bản lần thứ 3, Nguyễn Quang Quynh (2018) cho rằng “khách thể kiểm toán là đơn vị được kiểm toán, có thể là một tổ chức kinh tế hay một đơn vị hành chính sự nghiệp”. Dựa trên tiêu chí khách thể kiểm toán, có thể chia kiểm toán độc lập thành 2 loại: khách thể bắt buộc và khách thể tự nguyện ● Về Khách thể bắt buộc Đây là nhóm các doanh nghiệp bắt buộc phải được kiểm toán theo quy định của pháp luật. Theo Nghị định số 17/2012/NĐ-CP ngày 13/3/2012 hướng dẫn Luật Kiểm toán độc lập, các đối tượng sau có báo cáo tài chính bắt buộc phải được kiểm toán: - Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; - Tổ chức tín dụng bao gồm cả chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam; - Tổ chức tài chính, doanh nghiệp bảo hiểm, tái bảo hiểm, môi giới bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài. - Công ty đại chúng, tổ chức phát hành và tổ chức kinh doanh chứng khoán; - Doanh nghiệp mà các tổ chức niêm yết, tổ chức phát hành và kinh doanh chứng khoán nắm giữ từ 20% quyền biểu quyết trở lên.
Có thể thấy rõ đặc điểm chung của các đối tượng bắt buộc phải được kiểm toán báo cáo tài chính cuối năm, đó là hoạt động của các tổ chức kinh tế này liên quan đến rất nhiều đối tượng chủ thể khác nhau. Với các công ty chứng khoán, doanh nghiệp niêm yết,. thì thường có số lượng cổ đông lớn, giao dịch mua, bán cổ phiếu thường xuyên. Do đó, thông tin tài chính của nhóm này cần được minh bạch để đáp ứng nhu cầu quản lý của cổ đông và nhu cầu đầu tư của những người quan tâm.
Hoạt động kiểm toán độc lập ở đây nhằm đảm bảo sự minh bạch thông tin tài chính trên thị 9 trường; Với các tổ chức có vốn đầu tư nước ngoài hay các tổ chức tài chính, tín dụng, đây là nhóm có ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế, chính trị vĩ mô nên càng cần được quản lý sát sao. Nhà nước sẽ cần nắm được tình hình hoạt động của các đối tượng này để kịp thời điều tiết, vì vậy quy định bắt buộc kiểm toán báo cáo tài chính của nhóm khách thể này là điều hợp lý. ● Khách thể tự nguyện: là tất cả các tổ chức, cá nhân còn lại có nhu cầu được kiểm toán. Hiện nay, nhà nước ta luôn khuyến khích các doanh nghiệp, tổ chức thuê các đơn vị kiểm toán có chuyên môn để thực hiện kiểm toán BCTC, báo cáo quyết toán dự án hoàn thành hay các công việc kiểm toán khác.
Bởi lẽ, công tác kiểm toán độc lập có thể giúp các doanh nghiệp kiểm tra lại một lần nữa hệ thống thông tin tài chính của mình, đảm bảo tính chính xác, kịp thời để làm căn cứ cho các quyết định phát triển công ty. Công tác kiểm toán độc lập tại các khách thể tự nguyện mang nhiều giá trị tư vấn, định hướng cho doanh nghiệp.