CHƯƠNG 1. Cơ sở lý thuyết của phương pháp sắc kí lỏng hiệu năng cao (HPLC) 1. Giới thiệu Sắc kí là quá trình tách dựa trên sự phân bố liên tục của các cấu tử chất phân tích lên hai pha: một pha thường đứng yên, có khả năng hấp thu chất phân tích gọi là pha tĩnh,một pha di chuyển qua pha tĩnh gọi là pha động; do các cấu tử chất phân tích có ái lực khác nhau với pha tĩnh, chúng di chuyển với tốc độ khác nhau và tách ra khỏi nhau. Sắc kí lỏng hiệu năng cao (HPLC) là một phương thức của phép sắc kí.Kỹ thuật phân tích HPLC bao gồm hai nhóm: sắc kí lớp mỏng áp suất cao (HPTLC) và sắc kí lỏng hiệu năng cao (HPLC).
Trong nhóm HPLC, tùy theo bản chất của quá trình sắc kí của pha tĩnh trong cột tách mà người ta chia thành: − Sắc kí phân bố (PC) của chất tan giữa hai pha không tan (trộn) vào nhau. − Sắc kí hấp phụ pha thường (NP-HPLC). − Sắc kíhấp phụ pha ngược hay pha đảo (RP- HPLC). − Sắc kí trao đổi ion (IEX-HPLC) và cặp ion (IP-HPLC).
− Sắc kí rây phân tử (FG-HPLC). Nguyên tắc cấu tạo của hệ thống HPLC Hệ thống trang bị của kỹ thuật HPLC, về cơ bản (đơn giản và đủ để làm việc được theo kỹ thuật HPLC) bao gồm 5 bộ phận chính sau đây: a) Bơm cao áp: Để bơm pha động vào cột tách, thực hiện quá trình sắc kí, rửa giải chất tan ra khỏi cột sắc kí. Bơm phải điều chỉnh được áp suất (0 – 400 bar) để tạo ra được những tốc độ nhất định của pha động qua cột tách phù hợp cho quá trình sắc kí, phải có tốc độ nằm trong vùng 0,5 – 3 ml/phút. b) Van bơm mẫu: Để bơm mẫu phân tích vào cột tách theo những lượng mẫu nhất định không đổi trong một quá trình sắc kí.
Đó là các van 6 chiều có chứa vòng mẫu có thể tích xác Trang 3 Luan van định (20, 50 hay 100µl).Van 6 chiều chỉ có một vòng mẫu, nhưng van 10 chiều thì có 3 vòng mẫu. c) Cột tách: Cột tách là cột chứa pha tĩnh, trái tim của quá trình tách sắc kí. Nó là một trong những yếu tố quyết định hiệu quả sự tách sắc kí của một hỗn hợp chất mẫu. Cột tách có nhiều cỡ khác nhau, tuỳ thuộc vào mức độ sắc kí.
Nói chung, các cột tách phân tích thường có kích thước chiều dài từ 10 – 25 cm; đường kính trong thường từ 2 – 5 mm. d) Bộ phận phát hiện chất phân tích: Đây thường là các loại detector dựa theo các tính chất của chất phân tích. Một số detector thông dụng như: − Detector hấp thụ quang phân tử,vùng phổ UV-VIS. − Detector nguyên tử phát xạ (AES) hay hấp thụ nguyên tứ (AAS).
− Detector huỳnh quang phân tử. − Detector điện hoá (đo dòng, cực phổ, độ dẫn, điện lượng). − Detector chiết suất. − Detector đo độ dẫn nhiệt.
− Detector diode phát quang và diode mảng. − Detector phổ khối lượng. Tất nhiên phải tuỳ theo chất phân tích mà chọn loại detector nào cho phù hợp để đạt được độ nhạy cao khi phát hiện các chất, cũng như khi định lượng chúng. Trong các loại trên, thì detector hấp thụ quang phân tử vùng phổ UV hay UV-VIS hiện nay đang được dùng phổ biến nhất vì nó thích hợp cho nhiều loại chất và lại không quá đắt.
e) Bộ phận hiển thị kết quả: Bộ phận hiển thị kết quả có nhiều loại, nhưng đơn giản và phổ biến nhất là các máy tự ghi (recorder) để ghi tín hiệu đo dưới dạng các pic của các chất, rồi đến bộ tích phân kế (intergrator), sau đó máy tính và máy in kèm theo để xử lý kết quả và in kết quả. Trang 4 Luan van Đó là 5 bộ phận chính cần thiết tối thiểu phải có của một hệ thống máy HPLC. Những hệ thống máy HPLC hoàn chỉnh, hiện đại, ngày nay còn có thêm: − Bộ chương trình gradient dung môi (pha động). − Bộ bơm mẫu tự động và pha loãng mẫu.
− Bộ gia nhiệt và ổn nhiệt độ cho cột tách sắc kí. − Máy tính và các chương trình (phần mềm) điều khiển toàn bộ hệ thống HPLC và xử lý kết quả tách, in kết quả tách. Sơ đồ hệ thống HPLC. Nguyên tắc của quá trình sắc kí trong cột Trong quá trình sắc kí các phân tử chất tan luôn phân bố qua lại giữa hai pha trong khi pha động luôn chảy qua cột tách với một tốc độ nhất định.
Mặt khác, do cấu trúc và tính chất của mỗi phân tử chất tan là khác nhau nên tốc độ dịch chuyển trung bình của mỗi chất tan là khác nhau trong quá trình di chuyển từ đầu cột đến cuối cột sắc kí. Khi ở trong pha động, phân tử chất tan dịch chuyển theo tốc độ của pha động; khi ở trong pha tĩnh, phân tử chất tan bị giữ lại. Như vậy sẽ có một thời gian nhất định chất tan bị lưu giữ lại trong cột sắc kí. Vì vậy, trong quá trình sắc kí, có chất bị lưu giữ lâu trên cột, có chất tan ít bị lưu giữ.
Quyết định hiệu quả của sự tách sắc kí ở đây là tổng của các mối tương tác: Trang 5 Luan van Giữa chất phân tích và pha tĩnh (F 1 ). Giữa chất phân tích và pha động (F 2 ). Giữa pha tĩnh và pha động (F 3 ) .Sơ đồ thể hiện sự ảnh hưởng của các lực rửa giải. Tổng của 3 tương tác này sẽ quyết định chất nào được rửa giải ra khỏi cột trước.
Đối với mỗi chất,sự lưu giữ được qui định bởi ba lực F 1 , F 2 , F 3. Trong đó F 1 và F 2 giữ vai trò quyết định, còn F 3 là yếu tố ảnh hưởng không lớn. Ở đây F 1 là lực giữ chất phân tích trên cột, F 2 là lực kéo của pha động đối với chất phân tích ra khỏi cột. Như vậy với các chất khác nhau thì F 1 và F 2 là khác nhau.
Kết quả là các chất khác nhau sẽ di chuyển trong cột với tốc độ khác nhau và tách ra khỏi nhau khi ra khỏi cột (như hình dưới đây).Quá trình tách sắc kí của các chất. Trang 6 Luan van 1. Các đại lượng đặc trưng 1. Thời gian lưu Các chất tan trong hỗn hợp mẫu phân tích, khi được nạp vào cột sắc kí sẽ bị lưu giữ ở trong cột tách (trên pha tĩnh) theo một thời gian nhất định.
Thời gian lưu là thời gian tính từ lúc bắt đầubơm mẫu vào cột cho tới khi pic đạt giá trị cực đại. Như vậy nếu gọi t Ri là thời gian lưu tổng cộng của chất tan i thì chúng ta luôn có: t Ri = ( t o + t′ Ri ) Trong đó: + t o là thời gian không lưu giữ ( thời gian chất tan nằm trong pha động ) + t′ Ri là thời gian lưu giữ thực của chất i ở trong cột sắc kí (thời gian lưu hiệu chỉnh) Nếu t o = 0 thì ta sẽ có t Ri = t′ Ri. Trường hợp này chỉ có khi t Ri là rất nhỏ (thường là khi t Ri nhỏ hơn 4 phút). Thời gian lưu trong HPLC.
Giá trị t′ Ri của một chất tan trong quá trình sắc kí là phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Ví dụ như: Bản chất sắc kí của pha tĩnh, kích thước, độ xốp, cấu trúc xốp. Bản chất, thành phần, tốc độ của pha động. Trang 7 Luan van Cấu tạo và bản chất của phân tử chất tan, các nhóm thế.
Trong một số trường hợp còn phụ thuộc cả vào pH của pha động, nồng độ chất tạo phức nếu các yếu tố này có ảnh hưởng đến các cân bằng động trong quá trình sắc kí. Giá trị thời gian lưu t′ Ri có ý nghĩa rất lớn trong thực tế của kỹ thuật sắc kí. Vì nó cho ta biết các chất tan (chất phân tích) trong hỗn hợp mẫu được rửa giải ra như thế nào trong các điều kiện thí nghiệm và một hệ pha đã chọn. Đồng thời đó cũng là đại lượng để chúng ta phát hiện định tính một chất.
Mặt khác, trong một hệ sắc kí chúng ta còn có: t Ri = L / u i (1.3) Trong đó u i và u o là tốc độ tuyến tính của pha động; k i ′ là hệ số dung lượng của chất tan i; L là chiều dài của cột sắc kí. Hệ số phân bố Quá trình tách sắc kí của các chất là dựa trên cơ sở sự phân bố của chất tan giữa pha động và pha tĩnh xảy ra liên tục trong quá trình sắc kí. Sự phân bố này được đặc trưng bởi mộtđại lượng gọi là hệ số phân bố K i của chất i. Hệ số này được định nghĩa là tỷ số nồng độ của chất tan i ở trong pha tĩnh và pha động và nó được tính theo công thức: 𝐶𝑖𝑆𝑃 𝐾= (1.4) 𝐶𝑖𝑀𝑃 Trong đó C iSP và C iMP là nồng độ của chất tan i trong pha tĩnh và pha động.
Hệ số K i cho ta biết khả năng phân bố của chất i như thế nào trong mỗi pha (pha động và pha tĩnh). Hệ số dung lượng Hệ số dung lượng k’cho ta biết tỷ số khối lượng của chất tan i phân bố vào trong mỗi pha là bao nhiêu.5) 𝑚𝑀𝑃 Trang 8 Luan van Mối quan hệ giữa hệ số dung tích k i ′ và hệ số phân bố K i thể hiện qua phương trình sau: 𝑉𝑆 𝑘′𝑖 = 𝐾𝑖. Hệ số tách α Hệ số tách α (hay còn gọi là thời gian lưu tương đối của hai chất A và B) là đại lượng đánh giá khả năng tách hai chất bằng phương pháp sắc kí. Nó phụ thuộc vào hệ số phân bố và là tỉ số của hệ số phân bố của hai chất.7) 𝐾𝐵 𝑘′𝐵 𝑡′𝑅𝐵 Điều kiện cần thiết để hai chất A, B tách khỏi nhau là α ≠ 1 1.
Số đĩa lý thuyết N Theo lý thuyết đĩa, để đặc trưng cho một cột tách sắc kí, người ta dùng khái niệm số đĩa N. Đây là một đại lượng, về hình thức, có thể coi mỗi đĩa trong cột sắc kí như là một lớp chất nhồi có chiều cao (bề dày) là H. Tất nhiên đây là lớp có tính chất động, và bề dày H của nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố, như: - Đường kính của hạt pha tĩnh, hình dạng và kiểu hạt tròn hay mảnh. - Độ xốp, kích thước lỗ xốp của hạt pha tĩnh.
- Bản chất, cấu trúc phân tử của chất tan (chất phân tích). - Tốc độ và thành phần của pha động trong quá trình sắc kí. - Độ nhớt của pha động.