Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Quản lý và kiểm tra chất lượng mỹ phẩm 1. Công tác quản lý và kiểm tra chất lượng mỹ phẩm trên thế giới Ngành mỹ phẩm có giá trị doanh thu rất lớn ở cộng đồng Châu Âu (EU), hợp chủng quốc Hoa Kỳ (US) và Nhật Bản cũng như nhiều nước khác trên thế giới [19]. Để đảm bảo an toàn và chất lượng mỹ phẩm tới tay người tiêu dùng, người ta cần chú ý đến các thành phần có mặt trong các sản phẩm mỹ phẩm, cũng như các phương pháp phân tích các thành phần này.
Các thành phần chính có mặt trong các sản phẩm mỹ phẩm [19]: Các nước Châu Âu phải tuân thủ theo định hướng mỹ phẩm của cộng đồng các nước này (The European Union Cosmetic Directive) được phê duyệt năm 1976, đã qua nhiều lần bổ sung, đến nay có những phụ lục chính sau: Phụ lục I: Danh mục gồm 20 nhóm sản phẩm. Phụ lục II: Danh mục các chất bị cấm (1132 chất và nhóm chất). Phụ lục III: Danh mục các chất có giới hạn về hàm lượng, nồng độ và điều kiện sử dụng (396 chất). Phụ lục IV: Danh mục các chất màu được phép sử dụng.
Phụ lục VI: Danh mục các chất bảo quản. Phụ lục VII: Danh mục các chất lọc tia UV. Tổng hợp những quy định của EU, US và Nhật Bản ta có thể so sánh và trình bày ở bảng 1.1: Một số quy định của EU, US và Nhật Bản về các nội dung cần quản lý đối với mỹ phẩm EU US (Hợp chủng Nội dung quản lý Nhật Bản (Châu Âu) quốc Hoa Kỳ) Thông tin sản phẩm Có Không bắt buộc Có Kiểm tra trên thị trường Có Có Có An toàn sản phẩm (nhà sản xuất Có Có Có chịu trách nhiệm) Danh mục chất cấm Có Có Có Danh mục chất màu Có Có Có Danh mục chất bảo quản Có Có Có Danh mục chất lọc tia UV Có Có Có Danh pháp quốc tế thành phần Có Có Có mỹ phẩm Loại sản phẩm Mỹ phẩm Mỹ phẩm, sản Mỹ phẩm, sản hay thuốc phẩm OTC hay phẩm giống thuốc thuốc hay thuốc Năm 2003, “Hiệp định hệ thống hòa hợp ASEAN trong quản lý mỹ phẩm” đã được các nước trong khối ASEAN thông qua, ký và cam kết thực hiện. Về cơ bản định hướng mỹ phẩm ASEAN theo định hướng mỹ phẩm của Châu Âu, cũng có quy định về danh mục các chất trong mỹ phẩm (thể hiện qua từng phụ lục rõ ràng).
Các phương pháp phân tích các sản phẩm mỹ phẩm [19] Châu Âu có 38 phương pháp chính thức liên quan tới 60 nguyên liệu hay nhóm chất chủ yếu là các chất bị cấm sử dụng hay các chất bảo quản. 5 Mỹ và Nhật Bản không có phương pháp phân tích chính thức cho mỹ phẩm. Hàn Quốc có 23 phương pháp chính thức để đánh giá chất lượng mỹ phẩm trước khi cấp phép lưu hành trên thị trường. Các nước ASEAN đã ban hành chính thức 8 phương pháp, trong đó có 6 phương pháp hóa lý và 2 phương pháp vi sinh.
Một số nguyên liệu mỹ phẩm được dùng trong dược phẩm có chuyên luận và phương pháp kiểm nghiệm cụ thể trong các dược điển (USP, BP, DĐVN,…). Nhưng các phương pháp chính thức không đáp ứng được toàn bộ yêu cầu kiểm nghiệm cho các sản phẩm mỹ phẩm. Vì vậy mà các nhà sản xuất, nhà phân tích kiểm nghiệm cần nghiên cứu các phương pháp mới, để đáp ứng yêu cầu đánh giá chất lượng của các sản phẩm mỹ phẩm hiện nay. Các hiệp hội quốc tế đã đưa ra một số phương pháp kiểm nghiệm như các phương pháp chính thức của Hiệp hội quốc tế những nhà hóa học phân tích (AOAC International) dùng cho kiểm nghiệm mỹ phẩm gồm 6 nhóm như các phương pháp chung; chế phẩm khử mùi và ngăn mồ hôi; chế phẩm làm rụng lông; phấn mắt; chế phẩm dùng cho tóc; chế phẩm gây bắt nắng.
Đối với nhà sản xuất cần có các phương pháp kiểm tra các chỉ tiêu cần thiết các sản phẩm của cơ sở mình. Phương pháp của nhà sản xuất được xem là bí mật riêng, do nhà sản xuất quản lý trong hồ sơ thông tin sản phẩm và phải trình lên cơ quan quản lý khi có yêu cầu. Quá trình cơ bản hình thành và hoàn thiện công tác quản lý chất lượng mỹ phẩm tại Việt Nam Đầu những năm 90 của thế kỷ XX, Việt Nam chỉ mới sản xuất được một số mặt hàng mỹ phẩm đơn giản như xà phòng tắm, kem đánh răng,.Việc quản lý chất lượng ngay từ đầu đã được quan tâm nhưng chủ yếu ở mức xây dựng 6 và ban hành các tiêu chí về chất lượng (tiêu chuẩn và quy chuẩn về kỹ thuật) mà chưa chú trọng nhiều đến độ an toàn của sản phẩm. Việc xây dựng các tiêu chuẩn và quy chuẩn cấp quốc gia do các cơ quan biên soạn tùy theo loại sản phẩm được quản lý và phân công.
Năm 1996, Bộ Y tế có Quyết định số 2585/1996/QĐ-BYT ngày 28/12/1996 của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc giao nhiệm vụ kiểm nghiệm mỹ phẩm cho Viện Kiểm nghiệm, Phân viện kiểm nghiệm và các Trung tâm kiểm nghiệm tỉnh, thành phố [2]. Năm 1998, Bộ Y tế có Quyết định số 3629/1998/QĐ-BYT ngày 19/12/1998 của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc ban hành “Danh mục các loại mỹ phẩm bắt buộc đăng ký chất lượng tại Bộ Y tế”. Theo Quyết định này, có 05 nhóm hàng mỹ phẩm bắt buộc đăng ký chất lượng tại Bộ Y tế gồm dầu gội đầu, son môi, kem dưỡng da, sữa rửa mặt và thuốc nhuộm tóc [5]. Ngày 02/9/2003, Chính Phủ Việt Nam đã ký “Hiệp định hệ thống hòa hợp ASEAN trong quản lý mỹ phẩm”.
Theo Hiệp định này 10 nước ASEAN đã cam kết thực hiện tiến trình hòa hợp, Hiệp định bắt đầu có hiệu lực từ 01/01/2008 [1]. Ngày 14/8/2006, Bộ Y tế có Quyết định số 24/2006/QĐ-BYT của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc triển khai áp dụng và hướng dẫn thực hiện các nguyên tắc, tiêu chuẩn CGMP “thực hành tốt sản xuất mỹ phẩm” của Hiệp hội các nước Đông Nam Á [4]. Ngày 14/4/2008, Cục quản lý dược Việt Nam – Bộ Y tế ra thông báo số 3307/QLD-MP về việc tiếp nhận phiếu công bố sản phẩm mỹ phẩm theo quy định mới [7]. Ngày 25/01/2011, Bộ Y tế có Thông tư số 06/2011/TT-BYT của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc ban hành “Quy định về quản lý mỹ phẩm” gồm 11 chương, 53 điều.
Thông tư có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/4/2011 [3]. 7 Theo “Hiệp định hòa hợp ASEAN trong quản lý mỹ phẩm” được cập nhật 2013 có quy định 1373 chất và nhóm chất cấm sử dụng trong mỹ phẩm, 285 chất và nhóm chất có quy định về giới hạn, nồng độ và hàm lượng sử dụng (phụ lục II và III). Hiệp định này cũng đã quy định danh mục các chất màu, các chất bảo quản, các chất chống tia tử ngoại,.được phép sử dụng [24]. Viện kiểm nghiệm thuốc Trung ương, Viện kiểm nghiệm thuốc Thành phố Hồ Chí Minh, các cơ quan kiểm nghiệm đang bước đầu triển khai áp dụng các quy trình của ASEAN.
Để hòa hợp tiêu chuẩn với các nước ASEAN trong quản lý, kiểm tra chất lượng mỹ phẩm, các Viện cần đầu tư mua sắm các thiết bị phân tích, chất chuẩn, dung môi - hóa chất và đào tạo nhân lực đủ trình độ để triển khai, thực hiện các kỹ thuật phân tích hiện đại. Nhưng hiện nay vẫn còn nhiều bất cập trong việc hoàn thiện lộ trình trên một cách hiệu quả nhất. Tính chất của các chất bảo quản paraben và triclosan 1. Tính chất lý hóa của các paraben nghiên cứu Paraben được biết đến với tên gọi chung của nhóm chất bảo quản hóa học được sử dụng khá phổ biến trong các loại mỹ phẩm, ngoài ra một số gốc paraben còn được dùng trong thực phẩm, dược phẩm [33].
Paraben được tạo ra từ phản ứng ester hóa p-hydrobenzoic acid (PHBA). Cấu trúc hóa học chung của một paraben là para-hydrobenzoat trong đó có thể là một nhóm alkyl hay aryl [20], [33]. O O H2 CO C CO C4H9 C CH3 H2 HO HO Hình 1.1: Cấu trúc hóa học của Hình 1.2: Cấu trúc hóa học của propylparaben butylparaben 8 Bảng 1.2: Tính chất của một số paraben thường gặp [20], [28], [33]. Alkyl 4-hydrobenzoat Tên paraben Methyl Ethyl Propyl Butyl Công thức phân tử C8H8O3 C9H10O3 C10H12O3 C11H14O3 Khối lượng mol 152,15 166,17 180,20 194,23 Tinh thể Tinh thể Tinh thể Tinh thể không màu không màu trắng không màu Thể chất hoặc dạng bột hoặc dạng bột hoặc bột màu trắng màu trắng màu trắng Nhiệt độ nóng chảy/điểm 131 116 96-97 68-69 đông (°C) Điểm sôi (°C) 270-280 297-298 - - Áp suất hơi (10-4 mmHg) 2,37 9,29 5,55 1,86 Độ tan trong nước (mg/L) 2,50x103 8,85x102 5,00x102 2,07x102 Hệ số phân tán 1,96 2,47 3,04 3,57 octanol/nước (giá trị log) Hằng số phân ly (pKa) 8,4 8,34 7,91 8,47 Các paraben đều có độ tan trong nước rất thấp, tan tốt trong aceton, methanol, alcohol, ether và các dung môi hữu cơ khác [41].
Ứng dụng của paraben Theo PGS. Lê Ngọc Diệp, Trường đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh, paraben là chất có mặt trong nhiều loại mỹ phẩm, đặc biệt sử dụng phổ biến trong các dòng chăm sóc cá nhân và nhiều sản phẩm dành cho trẻ em như sữa tắm, khăn giấy ướt. Các nhà sản xuất thường phối hợp các gốc paraben để giúp giảm liều lượng đồng thời tăng khả năng kháng khuẩn và kháng nấm.
Paraben có 12 loại trong đó có 5 loại bị cấm [8], paraben là các biến thể của dầu hỏa dùng trong mỹ phẩm để ngăn ngừa sự oxy hóa của sản phẩm. 9 Do phổ kháng khuẩn rộng, bền vững, khó bay hơi và có hiệu lực trong một khoảng pH rộng [9], nên paraben được sử dụng khá phổ biến cho các loại mỹ phẩm trên thị thường, đặc biệt paraben có khả năng chịu nhiệt rất tốt phù hợp với khí hậu nhiệt đới nước ta. Ở Châu Âu, nồng độ paraben cho phép trong mỹ phẩm là 0,4% cho mỗi chất và 0,8% cho cả nhóm [28]. Độc tính của paraben Báo cáo về thành phần trong mỹ phẩm (CIR) đã kiểm tra độ an toàn của methylparaben, propylparaben và butylparaben vào năm 1984 và kết luận các chất này đủ an toàn để sử dụng trong mỹ phẩm với nồng độ đến 25%.
Thông thường, paraben được sử dụng với nồng độ từ 0,01 đến 0,3% [33]. Một nghiên cứu năm 2005 trên động vật thí nghiệm khi tiếp xúc với butylparaben (50mg/kg) trong thức ăn cho 6 tuần, và đo được chất sinh ung thư. Ngoài ra nghiên cứu cũng đã chỉ ra được sự có mặt của paraben trong nước tiểu, mặc dù nồng độ là rất thấp [33]. Tuy nhiên không có bằng chứng khẳng định paraben là chất gây ra ung thư.