CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CHỨNG KHOÁN PHÁI SINH 1. Hoạt động kinh doanh Chứng khoán phái sinh 1.1 Tổng quan về Chứng khoán phái sinh - Khái niệm về Chứng khoán phái sinh Căn cứ Luật 62/2010/QH12 về Luật sửa đổi và bổ sung Luật Chứng khoán số 70/2006/QH11 và Nghị định số 42/2015/NĐ-CP về Chứng khoán phái sinh và thị trường Chứng khoán phái sinh: Chứng khoán phái sinh là một loại Chứng khoán theo quy định và được bổ sung một số chức năng đặc biệt nhằm trở thành một công cụ tài chính, tồn tại dưới dạng hợp đồng giữa các bên tham gia. Nội dung hợp đồng quy định về vai trò của các bên tham gia, xác nhận quyền lợi có thể được mua, bán các loại tài sản cơ sở hoặc Chứng khoán cũng như nghĩa vụ của các bên tham gia trong việc thanh toán tiền, hoặc các loại Chứng khoán, các tài sản trong thời điểm hoặc ngày được quy định rõ ràng cụ thể trong tương lai theo một mức giá đã được đồng ý giữa các bên. - Đặc điểm của Chứng khoán phái sinh Tuỳ theo từng loại Chứng khoán phái sinh khác nhau mà có nguồn gốc của tài sản gốc khác nhau.
Do đó, các tài sản cơ sở khác nhau quy định các tính chất riêng biệt cho từng Chứng khoán phái sinh khác nhau. Tuy vậy, về bản chất, các loại Chứng khoán phái sinh đều có những đặc điểm cơ bản sau: Đầu tiên, Chứng khoán phái sinh luôn phải có ngày đến hạn (thời gian đáo hạn). Khi đến thời điểm ngày đáo hạn, các Chứng khoán phái sinh trở nên hết giá trị hoặc tự động chấm dứt. Ví dụ, một Chứng khoán phái sinh quy định người nắm giữ có thể bán Chứng khoán theo mức giá đã thoả thuận giữa các bên tham 8 gia trong tương lai.
Đến ngày đến hạn, Chứng khoán phái sinh tự động hết hạn cho dù chủ sở hữu đã thực hiện quyền bán hay chưa. Thứ hai, Chứng khoán phái sinh được hình thành bởi ít nhất một loại tài sản cơ sở, và giá trị của chúng cũng bắt nguồn từ giá trị của tài sản cơ sở này. Do vậy, khi có sự biến động giá trị của các tài sản cơ sở mà giá trị của các hợp đồng này thay đổi. Có rất nhiều loại Chứng khoán phái sinh trên thị trường như: hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng tương lai,… Các hợp đồng này có thể có hình thái hoàn toàn khác nhau nhưng đều phải xuất phát từ một loại tài sản cơ sở nào đó.
Do sự gắn kết chặc chẽ này, mà sự cấu thành và thay đổi của Chứng khoán phái sinh liên kết chặc chẽ với sự thay đổi của hàng hoá hữu hình cấu thành nên chúng. Thứ ba, nhờ vào sự tồn tại của Chứng khoán phái sinh, các chủ sở hữu của hợp đồng đạt được những sự thoả thuận, các quyền hoặc nghĩa vụ của các bên đối với tài sản gốc trong thời gian được xác định cụ thể, nhưng không có quyền sở hữu các tài sản này trong thời điểm hiện tại tạo lập hợp đồng. Tuy không có quyền nắm giữ các tài sản cơ sở, nhưng nhà đầu tư nắm giữ các Chứng khoán phái sinh này có toàn quyền quyết định trong thời điểm đã thoả thuận trong tương lai. Thứ tư, khi tham gia vào thị trường Chứng khoán phái sinh, các khách hàng có ưu thế về vốn rất lớn so với khi tham gia vào thị trường Chứng khoán cơ sở.
Nếu như trên thị trường Chứng khoán cơ sở, nhà đầu tư chỉ có thể tham gia giao dịch trên thị trường khi có đầy đủ số tiền tương ứng với toàn bộ giá trị của số Chứng khoán, thì ở thị trường Chứng khoán phái sinh, các khách hàng chỉ phải nắm giữ số tiền cần thiết tối thiểu là số tiền ký quỹ, tương đương với một phần rất nhỏ giá trị của hợp đồng. Do đó, khách hàng có thể thu về lợi nhuận lớn hơn rất nhiều so với các giao dịch đầu tư vào thị trường Chứng khoán cơ sở. 9 Thứ năm, số lượng phát hành của Chứng khoán phái sinh hoàn toàn không có giới hạn. Nghĩa là, đối với Chứng khoán phổ thông, số lượng giao dịch bị hạn chế bởi chủ thể phát hành, và được định trước, các bên tham gia không biết được thực tế sau khi phát hành thành công có thể đáp ứng tốt nhu cầu đầu tư trên thị trường hay không.
Còn đối với Chứng khoán phái sinh, số lượng các Chứng khoán phát hành xuất phát trực tiếp từ nhu cầu trực tiếp xuất phát từ các bên tham gia. Bên cạnh đó, ngoài xuất phát từ một hàng hoá cơ sở, Chứng khoán phái sinh còn tạo nên từ việc sử dụng Chứng khoán phái sinh khác làm tài sản cơ sở, điều này khiến cho số lượng phát hành của Chứng khoán phái sinh gần như không bị bất cứ hạn chế nào. Thứ sáu, khi tham gia vào thị trường Chứng khoán truyền thống, ngay tại thời điểm giao dịch thực hiện, việc thanh toán đã hoàn tất. Trên thị trường Chứng khoán phái sinh, việc hoàn tất giao dịch được kết thúc tại một thời gian đã được hai bên thoả thuận trong tương tai.
Vì thế, các bên tham gia có thời gian chuẩn bị và không phải chịu áp lực về vốn và lãi vay cần thiết cho giao dịch. Đây cũng là một trong những đặc điểm nổi trội, thu hút sự tham gia đầu tư từ khách hàng đến với thị trường Chứng khoán phái sinh. Phân loại các loại Chứng khoán phái sinh Về phân loại, Chứng khoán phái sinh được chia thành các loại hợp đồng: hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng tương lai, hợp đồng hoán đổi và hợp đồng quyền chọn. - Hợp đồng kỳ hạn Hợp đồng kỳ hạn là một hợp đồng trong đó nêu rõ các thoả thuận được thành lập giữa các bên tham gia, trong đó bên mua có quyền hoặc nghĩa vụ được 10 mua một tài sản, và người bán có quyền hoặc nghĩa vụ bán tài sản, với một mức giá đã được hai bên thống nhất đồng ý trong một thời điểm ở tương lai.
Trong hợp đồng kỳ hạn, có rất nhiều loại sản phẩm được phép giao dịch: ngũ cốc, kim loại quý, dầu mỏ, khí đốt,… và ngày nay, ngoại tệ và các Chứng khoán cũng được xem là một loại tài sản được tham gia giao dịch trên thị trường kỳ hạn. Ví dụ: Người nông dân dự định trồng 500 tạ thóc vào năm tới, nông dân có thể bán thóc của mình với giá cả không thể định trước mà dựa vào thị trường quyết định khi thóc được thu hoạch hoặc người nông dân có thể biết trước được lợi nhuận thu được bằng cách cố định giá ngay thời điểm hiện tại thông qua việc tham gia vào một hợp đồng kỳ hạn, trong đó các điều khoản của hợp đồng quy định số thóc thu hoạch được sẽ chắc chắn được mua bởi bên tham gia hợp đồng với mức giá định trước. Bằng cách cố định giá bây giờ, người nông dân loại bỏ nguy cơ giá thóc giảm. - Hợp đồng tương lai Hợp đồng tương lai về cơ bản cũng tương tự với hợp đồng kỳ hạn, là một hợp đồng trong đó quy định rõ về các trao đổi pháp lý xảy ra giữa các chủ thể tham gia hợp đồng về vấn đề trao đổi một loại hàng hoá hoặc tài sản cụ thể với một giá trị được thoả thuận trong một thời điểm cụ thể trong tương lai được xác định bởi các chủ thể trong hợp đồng.
Hợp đồng tương lai ra đời nhằm khắc phục và hoàn thiện hơn nữa các nhược điểm của hợp đồng kỳ hạn. Phân biệt hợp đồng kỳ hạn và hợp đồng tương lai: Hợp đồng tương lai và hợp đồng kỳ hạn đều là các hợp đồng trong đó quy định người tham gia có quyền hoặc nghĩa vụ mua hoặc bán tài sản ở thời gian được thoả thuận trong tương lai. Điểm khác biệt lớn nhất giữa hai hợp đồng là 11 hợp đồng tương lai được tiêu chuẩn hoá, và có thể được giao dịch trên sàn Chứng khoán. Đối với hợp đồng kỳ hạn, các thoả thuận là các trao đổi riêng, với các điều khoản không cố định, có thể thay đổi liên tục tuỳ vào thoả thuận giữa các bên tham gia.
Ngoài ra, đối với hợp đồng kỳ hạn, giao dịch được hoàn tất vào thời gian đến hạn của hợp đồng kỳ hạn. Tuy nhiên đối với hợp đồng tương lai, hai bên chủ thể tham gia hợp đồng có thể tự do giao dịch và điều chỉnh theo sự biến động về giá cả của tài sản trong suốt thời hạn hợp đồng còn hiệu lực pháp lý. Bên cạnh đó, khi tham gia vào hợp đồng kỳ hạn, các bên tham gia chịu rủi ro lớn về tín dụng. Do hợp đồng kỳ hạn chưa có sự điều chỉnh từ các cơ quan thanh toán bù trừ, các bên tham gia luôn tồn tại nguy cơ vỡ nợ và vi phạm hợp đồng.
Vì thế, khi sở hữu một hợp đồng kỳ hạn, các bên thường chịu thêm một khoản phí bảo hiểm cho rủi ro có thể xuất hiện này. Sự tạo thành của hợp đồng tương lai là sự tiêu chuẩn hoá và cải thiện những đặc điểm còn thiếu sót tồn tại trên hợp đồng kỳ hạn, cụ thể như sau: Được chuẩn hoá: Trong hợp đồng tương lai, Sở giao dịch Chứng khoán là cơ quan chịu trách nhiệm và hoàn thiện các tiêu chuẩn được qui định trong hợp đồng tương lai. Khi tham gia vào hợp đồng, các bên tham gia theo các mẫu đã được chuẩn hoá theo quy định. Được phép tham gia giao dịch trên thị trường chính quy: Đây là một trong những điểm nổi trội của hợp đồng tương lai, các hợp đồng tương lai đã được sự chuẩn hoá và theo quy định của pháp luật, do vậy, các hợp đồng tương lai có thể dễ dàng giao dịch trên thị trường tập trung, đặc điểm này khiến việc khách hàng sở hữu hợp đồng tương lai có thể thực hiện giao dịch như các giao dịch Chứng khoán thông thường.
12 Sự thay đổi về giá của hợp đồng tương lai thay đổi theo sự biến đổi của thị trường tương tự với các Chứng khoán thông thường. Cụ thể, việc thanh toán sẽ diễn ra hằng ngày từ các bên tham gia dựa trên sự thay đổi có lợi hay bất lợi với vị trí của các bên tham gia trong hợp đồng. Rủi ro mất khả năng thanh toán được giảm thiểu tối đa nhờ vào sự can thiệp của tổ chức trung gian, trung tâm thanh toán bù trừ. Nhờ vào sự tham gia đảm bảo của bên trung gian, rủi ro khi một bên tham gia không còn khả năng thanh toán được giảm thiểu.