phần mở đầu kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục sở đồ bảng biểu khóa luận đƣợc kết cấu bởi 3 chƣơng: Chƣơng 1: Những vấn đề chung về Công ty chứng khoán và Nhà đầu tƣ. Chƣơng 2: Thực trạng mối quan hệ giữa Công ty cổ phần chứng khoán MB và Nhà đầu tƣ trong hoạt động môi giới. Chƣơng 3: Giải pháp phát triển mối quan hệ giữa Công ty cổ phần chứng khoán MB và Nhà đầu tƣ trong hoạt động môi giới. 4 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÔNG TY CHỨNG KHOÁN VÀ NHÀ ĐẦU TƢ 1.
KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY CHỨNG KHOÁN 1.1 Khái niệm về Công ty chứng khoán Để hình thành và phát triển TTCK hiệu quả, một yếu tố không thể thiếu đƣợc là các chủ thể tham gia kinh doanh trên TTCK. Mục tiêu của hình thành TTCK là thu hút vốn đầu tƣ dài hạn cho việc phát triển kinh tế và tạo tính thanh khoản cho các loại chứng khoán. Do vậy, để thúc đẩy TTCK hoạt động một cách hiệu quả cần phải có sự ra đời và hoạt động của CTCK. Theo quyết định số 27/2007/QĐ-BTC ngày 24/04/2007 của bộ trƣởng bộ tài chính thì CTCK là “tổ chức có tư cách pháp nhân hoạt động kinh doanh chứng khoán, bao gồm một, một số hoặc toàn bộ các hoạt động: môi giới chứng khoán, tự doanh, bảo lãnh phát hành, tư vấn đầu tư chứng khoán”.2 Đặc điểm của Công ty chứng khoán CTCK là tổ chức trung gian hoạt động trên TTCK- một thị trƣờng có mức độ nhạy cảm và có ảnh hƣởng lớn đến nền kinh tế.
Do vậy CTCK thuộc loại hình kinh doanh có điều kiện, tức là CTCK phải đáp ứng các điều kiện do pháp luật quy định và khi triển khai hoạt động, CTCK phải tuân theo nhƣng nguyên tắc ứng xử riêng có của ngành chứng khoán. Đặc điểm về vốn: đối với công ty hoạt động trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh, thƣơng mại dịch vụ thì yêu cầu của pháp luật về vốn cho việc thành lập là không có. Tuy nhiên, đối với CTCK lại khác, CTCK muốn thành lập phải đáp ứng yêu cầu về vốn pháp định mà luật pháp quy định. Quy định về mức pháp định để thành lập CTCK là khác nhau và tùy thuộc vào quy định từng nƣớc từng thời kì.
5 Đặc điểm về đội ngũ nhân sự: đây là lĩnh vực hoạt động có nghiệp vụ phức tạp, có độ rủi ro cao, mức độ ảnh hƣởng tới đời sống kinh tế xã hội lớn nên đòi hỏi nhân viên và lãnh đạo CTCK phải là ngƣời có trình độ nhất định, có tƣ cách nghề nghiệp, và có chứng chỉ hành nghề do cơ quan có thẩm quyền cấp. Bên cạnh đó, đối với đội ngũ lãnh đạo đòi hỏi có trình độ quản lý, không vi phạm pháp luật, có giấy phép đại diện do cơ quan có thẩm quyền cấp, độ quản lý, không vi phạm phát luật, có giấy phép đại diện do cơ quan có thẩm quyền cấp. Đặc điểm về cơ sở vật chất kĩ thuật: khi tiến hành đăng kí hoạt động, CTCK phải đáp ứng yêu cầu về trụ sở phù hợp cho việc KDCK. Đặc điểm này xuất phát từ đặc điểm của hoạt động KDCK phải có sàn giao dịch.
Bên cạnh đó, CTCK đòi hỏi phải có hệ thống trang thiết bị hiện đại phục vụ cho quá trình truyền lệnh cho KH, thông báo kết quả giao dịch cũng nhƣ giúp KH kiểm tra số dƣ tài khoản và tìm kiếm thông tin. Đặc điểm về xung đột lợi ích giữa quyền lợi của KH và CTCK. Trong hoạt động của CTCK, KH đƣợc sử dụng nhiều dịch vụ có lợi từ những sản phẩm CTCK đƣa ra, đặc biệt đó là các sản phẩm đòn bẩy tài chính…Tuy nhiên bên cạnh những lợi ích đó thì quyền lợi của KH đôi khi lại xung đột với quyền lợi của CTCK. Điều này đƣợc thể hiện ở những hoạt động nhƣ tƣ vấn đầu tƣ cho KH, hoạt động môi giới cho KH, hoạt động tự doanh của CTCK.
Những hoạt động này chủ yếu giúp cho lợi ích của công ty, và có khi làm giảm đi lợi ích của NĐT. Đặc điểm mâu thuẫn lợi ích giữa KH và CTCK này chính là điểm khác biệt giữa CTCK so với những công ty, doanh nghiệp hoạt động trong những lĩnh vực khác. Những công ty, doanh nghiệp đó luôn song song lợi ích của KH cũng nhƣ lợi ích của công ty, doanh nghiệp. Nguyên tắc hoạt động của Công ty chứng khoán 1.
Nguyên tắc tài chính - Xuất phát từ đặc điểm CTCK là phải đáp ứng về vốn pháp định cho hoạt động kinh doanh nên trong quá trình kinh doanh CTCK phải đảm bảo nguồn tài chính trong cam kết KDCK với KH. - Đảm bảo yêu cầu về vốn, cơ cấu vốn và nguyên tắc hạch toán, báo cáo theo quy định của pháp luật. - Đảm bảo tách biệt tài sản tiền và chứng khoán của KH với tài sản của công ty. CTCK không đƣợc dùng chứng khoán của KH làm vật thế chấp để vay vốn hoặc dùng tiền KH mua chứng khoán cho công ty trừ trƣờng hợp KH đồng ý bằng văn bản.
Nguyên tắc này đƣợc đƣa ra nhằm tránh rủi ro cho KH.2 Nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp Nhân viên CTCK phải tuân thủ nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp do Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán ban hành. Bộ nguyên tắc này nhằm đảm bảo tính trung thực, công bằng trong công việc của nhân viên CTCK. Nguyên tắc này bao gồm các điểm chính sau: - Giao dịch công bằng và trung thực vì lợi ích của KH. - Nhân viên công ty phải là ngƣời có kĩ năng, tân tụy với công việc và có tinh thần trách nhiệm.
- Ƣu tiên thực hiện lênh của KH trƣớc lênh của công ty. - Có nghĩa vụ thực hiện bảo mật thông tin KH, không đƣợc tiết lộ về thông tin tài khoản của KH khi chƣa đƣợc đồng ý của KH bằng văn bản trừ khi có yêu cầu của cơ quan quản lí nhà nƣớc. - Không tham gia các hoạt động kinh doanh ngoài phạm vi cấp giấy phép. - Không tiến hành các hoạt động có thể làm KH và công chúng hiểu sai về giá cả, giá trị và bản chất của CK hoặc các hoạt động gây thiệt hại cho KH.
7 - Với các hoạt động mà CTCK cung cấp cho KH phải có hợp đồng với KH trƣớc khi thực hiện dịch vụ cho họ.4 Các nghiệp vụ cơ bản của Công ty chứng khoán 1.1 Nghiệp vụ môi giới Môi giới chứng khoán là hoạt động cơ bản nhất của các CTCK, hầu hết những CTCK hoạt động trên TTCK Việt Nam đều có hoạt động này. Hoạt động môi giới chứng khoán là hoạt động mà các CTCK đứng ra làm trung gian giao dịch hoặc đại diện cho KH tiến hàng giao dịch thông qua cơ chế giao dịch tại SGDCK hoặc thị trƣờng OTC để hƣởng hoa hồng. Quyết định mua bán chứng khoán, thời điểm mua bán, mức giá, khối lƣợng là do KH tự quyết định. Vì vậy những khoản lãi lỗ chính những KH phải chịu trách nhiệm.
Đồng thời khi thực hiện cho KH những lệnh mua bán thì KH phải trả cho CTCK một khoản tiền, khoản tiền này là phí giao dịch, đã đƣợc thống nhất từ hợp đồng giữa KH và CTCK. Thông qua hoạt động môi giới này, các CTCK cung cấp cho KH của mình những sản phẩm, dịch vụ nhƣ tƣ vấn đầu tƣ, là trung gian để kết nối những ngƣời mua CK và bán CK. Vì vậy, yêu cầu đối với một nhân viên thực hiện môi giới CK là tƣơng đối cao. Đòi hỏi những ngƣời mà có tính trung thực, phẩm chất đạo đức, có lòng tin với KH, năng lực, kỹ năng nghề nghiệp, chuyên môn tốt, luôn thể hiện quan tâm tới KH, đôi khi còn phải có kinh nghiệm làm nghề dày dặn.
Nói theo cách khác, môi giới chứng khoán đƣợc hiểu là hoạt động của CTCK và của nhân viên môi giới trong sự tƣơng quan chặt chẽ với nhau và với một đối tác chung là những NĐT, có chức năng để tác động vào sự vận hành và phát triển của TTCK. Đặc điểm nghiệp vụ môi giới Nhƣ đã nói, môi giới là hoạt động cơ bản nhất của các CTCK, mà các CTCK là những công ty đặc thù hoạt động trên TTCK. Vì vậy, hoạt động cơ bản nhất của môi giới cũng có những đặc điểm khá đặc thù : Hoạt động môi giới chứng khoán gây ra xung đột lợi ích giữ CTCK, nhân viên môi giới và KH của công ty. Thật vậy, các CTCK môi giới nhƣng cũng kinh doanh cho chính mình vì mục tiêu lợi nhuận.
Đây là đặc điểm khác biệt cơ bản nhất của CTCK so với nhƣng công ty tài chính khác khi những công ty này luôn đặt lợi ích của KH luôn đi kèm theo lợi ích của công ty. Vì vậy pháp luật cũng đã có những quy định để hạn chế thấp nhất cái mâu thuẫn này trong các CTCK nhƣ tách biệt hoạt động tự doanh và môi giới trong CTCK, luôn ƣu tiên lợi ích KH lên đầu tiên… Hoạt động môi giới chứng khoán cần những người làm việc có đạo đức nghề nghiệp: Các CTCK nói chung, các nhân viên môi giới chứng khoán nói riêng luôn phải đặt đạo đức nghề nghiệp lên hàng đầu. Những nhân viên môi giới không những là những ngƣời thực hiện lệnh mua bán cho những NĐT mà họ cũng là những ngƣời thƣờng xuyên nói chuyện với NĐT, tƣ vấn, giải thích cho NĐT những thông tin, những biến động của mỗi loại chứng khoán và cho họ những lời khuyên quý giá nhất. Giữa những NĐT và nhân viên môi giới, giá trị lòng tin luôn đặt lên hàng đầu.
Hơn nữa những nhân viên môi giới cũng đƣợc phép kinh doanh chứng khoán nhƣ những NĐT. Vì vậy, để làm một nhân viên môi giới luôn đòi hỏi những ngƣời có đạo đức nghề nghiệp tốt. Những người môi giới luôn phải hoạt động tuân theo những chuẩn tắc: + Phải cẩn trọng khi hành nghề: phải biết rõ về KH của mình, những thông tin cơ bản nhất tới những suy nghĩ về KDCK của họ để tƣ vẫn cho phù hợp với từng đối tƣợng. 9 + Phải luôn trung thực, công bằng trong công việc: luôn ƣu tiên lợi ích KH trƣớc, phải đảm bảo tài sản của KH không bị xâm phạm, không đƣợc đảm bảo vệ lợi nhuận với KH… + Phải hoạt động một cách chuyên nghiệp tuân theo nhiệm vụ của mỗi công ty, đồng thời phải bảo mật thông tin KH.
Khi tham gia KDCK thì NĐT phải chịu trách nhiệm về quyết định mua bán hay lỗ lãi của mình. Hoạt động môi giới chỉ mang tính chất hỗ trợ giữa những NĐT với nhau chứ không chịu trách nhiệm về kết quả đầu tƣ của KH. Vai trò Hoạt động môi giới cũng có nhiều vai trò, nhƣng tùy vào đối tƣợng hƣớng tới thì môi giới có những vai trò riêng.