Chương 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com • Chương 2: Cơ sở lý thuyết • Chương 3: Thiết kế nghiên cứu • Chương 4: Phân tích kết quả nghiên cứu • Chương 5: Kết luận và giải pháp 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT Chương 2 trình bày những nội dung cơ bản về các lý thuyết liên quan như các khái niệm để làm nền tảng cho nghiên cứu này. Bên cạnh đó trình bày tóm tắt hai công trình nghiên cứu về chất lượng dịch vụ vận tải hành khách công cộng tại Hy Lạp và tại Ý. Trên cơ sở đó, tác giả đặt ra các giả thuyết nghiên cứu và xây dựng mô hình nghiên cứu đề nghị.1 Chất lượng dịch vụ và chất lượng dịch vụ xe khách liên tỉnh chất lượng cao 2.1 Dịch vụ Dịch vụ là hoạt động của nhà cung cấp nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Dịch vụ mang tính chất vô hình và khó đoán trước được kết quả.
Sản phẩm của dịch vụ có thể là vật chất hay tinh thần (Kotler, 1990). Dịch vụ là những hoạt động mang tính liên tục nhằm cung cấp những giá trị cho khách hàng trong một quá trình và được đánh giá thông qua mức độ hài lòng của khách hàng đối với những sản phẩm hay chuỗi sản phẩm (Mathe và Shapiro, 1993).2 Chất lượng dịch vụ Có rất nhiều học giả nghiên cứu về chất lượng dịch vụ, mỗi học giả xem xét các yếu tố cấu thành chất lượng dịch vụ rất khác nhau, sau đây là bảng tóm tắt các thành phần chất lượng dịch vụ của một vài học giả: 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Các thành phần chất lượng dịch vụ Tác giả Chất lượng kỹ thuật, chất lượng chức năng Gronroos (1984) Chất lượng chức năng Donabedian (1982, 1980) Gronroos (1984) Nhận thức của khách hàng, mong đợi của khách Czepiel (1990) hàng Sachdev và Verma (2004) TCRP Report 100 Mong đợi của khách hàng, hài lòng của khách hàng, Sachdev và Verma (2004) thái độ của khách hàng (Nguồn: Journal of Public Transportation, Vol. 1, 2010) Chất lượng dịch vụ là chất lượng mà khách hàng cảm nhận thông qua dịch vụ mà họ nhận được, nó mang tính chủ quan của từng khách hàng và có thể tách thành chất lượng kỹ thuật và chất lượng chức năng. Trong đó chất lượng kỹ thuật liên quan đến những gì được phục vụ và chất lượng chức năng nói lên chúng được phục vụ như thế nào.
Parasuraman và cộng sự đã định nghĩa: “Chất lượng dịch vụ là mức độ khác nhau giữa sự mong đợi của người tiêu dùng về dịch vụ và nhận thức của họ về kết quả của dịch vụ”. Đây có thể xem là khái niệm tổng quát nhất, bao hàm đầy đủ ý nghĩa của dịch vụ, đồng thời cũng chính xác nhất khi xem xét chất lượng dịch vụ đứng trên quan điểm khách hàng, xem khách hàng là trung tâm. Theo đó, chất lượng dịch vụ chính là chất lượng cảm nhận được của khách hàng. Nó bắt nguồn từ việc so sánh những kỳ vọng của khách hàng trước khi sử dụng dịch vụ với những gì khách hàng cảm nhận được sau khi tiêu dùng dịch vụ.
Khi sự cảm nhận về chất lượng của khách hàng đạt được kỳ vọng của họ trước đó thì xem như doanh nghiệp cung cấp dịch vụ có chất lượng hoàn hảo. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Thông tin từ các Nhu cầu cá nhân Kinh nghiệm trong quá khứ nguồn khác nhau Sự kỳ vọng dịch vụ KHÁCH HÀNG Khoảng cách 5 Sự cảm nhận dịch vụ Khoảng cách 4 Chuyến giao dịch vụ Thông tin đến khách hàng NHÀ TIẾP THỊ Khoảng cách 3 Chuyển đổi cảm nhận của Khoảng cách 1 công ty thành tiêu chí chất lượng dịch vụ Khoảng cách 2 Nhận thức của công ty về sự kỳ vọng của khách hàng Hình 2.1: Mô hình chất lượng dịch vụ của Parasuraman Sự kỳ vọng của khách hàng về chất lượng dịch vụ có sự khác biệt với sự cảm nhận của họ về chất lượng dịch vụ đó. Chất lượng dịch vụ phụ thuộc vào khoảng cách thứ 5 này. Khi khách hàng cảm thấy không có sự khác biệt giữa chất lượng mà họ kỳ vọng với chất lượng mà họ cảm nhận được khi tiêu dùng một dịch vụ, thì chất lượng của dịch vụ coi như hoàn hảo.
Theo mô hình trên thì khoảng cách về sự kỳ vọng của khách hàng và sự cảm nhận của khách hàng về chất lượng dịch vụ đó (khoảng cách 5) phụ thuộc vào bốn khoảng cách trước đấy, bao gồm: • Khoảng cách 1: xuất hiện khi có sự khác biệt giữa kỳ vọng của khách hàng về chất lượng dịch vụ và nhận thức của doanh nghiệp về sự kỳ vọng này. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com • Khoảng cách 2: xuất hiện khi doanh nghiệp dịch vụ gặp khó khăn trong việc chuyển đổi nhận thức của mình về kỳ vọng của khách hàng thành những đặc tính của chất lượng dịch vụ. • Khoảng cách 3: xuất hiện khi nhân viên dịch vụ không chuyển giao dịch vụ cho khách hàng theo những tiêu chí đã được xác định. Trong các ngành dịch vụ, sự tiếp xúc của nhân viên với khách hàng có ý nghĩa rất quan trọng đối với cảm nhận của khách hàng về chất lượng dịch vụ nhưng nhiều khi nhân viên của doanh nghiệp không thực hiện chính xác những quy trình, tiêu chí đã được đề ra.
• Khoảng cách 4: xuất hiện khi có khoảng chênh lệch giữa sự chuyển giao dịch vụ và sự thông tin đến khách hàng. Điều đó có nghĩa là việc quảng cáo và giới thiệu dịch vụ đến khách hàng không giống những gì họ nhận được từ nhà cung cấp dịch vụ. Do đó: Khoảng cách 5 = f (khoảng cách 1, khoảng cách 2, khoảng cách 3, khoảng cách 4) Ngoài ra, sự kỳ vọng của khách hàng về chất lượng dịch vụ còn chịu ảnh hưởng của ba yếu tố khác, đó là sự tiếp nhận thông tin từ nhiều nguồn khác nhau, nhu cầu cá nhân và các kinh nghiệm của bản thân khách hàng đó. Mô hình năm khoảng cách của Parasuraman là mô hình mang tính lý thuyết về chất lượng dịch vụ.
Các giả thuyết của mô hình cần có các nghiên cứu kiểm định. Để đo lường được chất lượng dịch vụ theo cảm nhận của khách hàng, cần phải xây dựng được thang đo để đo lường chúng. Parasuraman và cộng sự (1985) đã thiết kế thang đo dùng để đánh giá chất lượng trong lĩnh vực dịch vụ, theo đó bất kỳ dịch vụ nào chất lượng cũng được khách hàng cảm nhận dựa trên 10 thành phần, đó là: 1. Khả năng đáp ứng (responsiveness) 3.
Năng lực phục vụ (assurance) 4. Lịch sự (courtesy) 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Hiểu biết khách hàng (understanding customer) 10. Phương tiện hữu hình (tangibles) Mô hình này có ưu điểm bao quát hầu hết mọi khía cạnh của dịch vụ, tuy nhiên tất cả mười thành phần của thang đo SERVQUAL quá phức tạp nên khó khăn trong việc đánh giá và phân tích.
Vì vậy, Parasuraman và cộng sự (1988) đã điều chỉnh lại mô hình chất lượng dịch vụ còn 5 thành phần cơ bản với 21 biến quan sát, đó là: • Tin cậy (reliability): thể hiện qua khả năng thực hiện dịch vụ phù hợp và đúng thời hạn ngay từ lần đầu tiên. • Đáp ứng (responsiveness): thể hiện qua sự mong muốn và sẵn sàng của nhân viên phục vụ cung cấp dịch vụ kịp thời cho khách hàng. • Năng lực phục vụ (assurance): thể hiện qua trình độ chuyên môn và cung cách phục vụ lịch sự, niềm nở với khách hàng. • Đồng cảm (empathy): thể hiện sự quan tâm chăm sóc đến từng cá nhân khách hàng • Phương tiện hữu hình (tangibles): thể hiện qua ngoại hình, trang phục của các nhân viên phục vụ, các trang thiết bị, dụng cụ phục vụ cho dịch vụ.
Parasuraman và cộng sự (1991) khẳng định rằng thang đo SERVQUAL (Xem phụ lục 1) là một thang đo hoàn chỉnh về chất lượng dịch vụ và có thể được ứng dụng cho mọi loại hình dịch vụ khác nhau. Tuy nhiên, mỗi ngành dịch vụ cụ thể có những đặc thù riêng của chúng. Nhiều nhà nghiên cứu khác như Bojanic (1991), Cronin & Taylor (1992), Dabholkar và cộng sự (1996), Mehta và cộng sự (2000), Bastos (2008) cũng đã kiểm định thang đo này với nhiều loại hình dịch vụ tại nhiều quốc gia khác nhau. Kết quả cho thấy các thành phần của chất lượng dịch vụ không thống nhất với nhau ở từng ngành dịch vụ và từng thị trường khác nhau.
Do đó, khi sử dụng thang đo SERVQUAL các nhà nghiên cứu cần phải điều chỉnh để thang đo này phù hợp với từng nghiên cứu cụ thể. 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.3 Chất lượng dịch vụ xe khách liên tỉnh chất lượng cao Căn cứ quyết định số 16/2007/QĐ – BGTVT của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải, tác giả trích dẫn một vài khái niệm sau: “Tuyến vận tải khách là tuyến được xác định để xe ô tô khách vận chuyển khách từ một bến xe thuộc địa danh này đến một bến xe thuộc địa danh khác.” “Vận tải khách theo tuyến cố định là vận tải khách theo tuyến có bến đi, bến đến là bến xe khách và xe chạy theo hành trình, lịch trình quy định.” “Đối với chuyến xe chất lượng cao, doanh nghiệp tổ chức chuyến xe chất lượng cao phải đăng ký với cơ quan quản lý tuyến về chất lượng phương tiện và các dịch vụ phục vụ khách trên suốt hành trình để theo dõi trong quá trình thực hiện.” Từ đó, tác giả đưa ra khái niệm xe khách liên tỉnh chất lượng cao như sau: “Xe khách liên tỉnh chất lượng cao là loại xe ô tô có 9 ghế ngồi trở lên kể cả ghế người lái, vận chuyển khách từ một bến xe thuộc tỉnh này đến một bến xe thuộc tỉnh khác, và xe chạy theo hành trình, lịch trình đã đăng ký theo quy định về chuyến xe chất lượng cao.” Khái niệm kinh doanh dịch vụ vận tải xe khách liên tỉnh: “Kinh doanh vận tải khách liên tỉnh bằng ô tô là việc sử dụng xe ô tô khách để vận chuyển khách, có thu tiền, từ một bến xe thuộc tỉnh này đến một bến xe thuộc tỉnh khác” (theo quyết định số 16/2007/QĐ – BGTVT của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải). Chất lượng dịch vụ xe khách liên tỉnh chất lượng cao được định nghĩa là mức độ khác nhau giữa sự mong đợi của khách hàng về dịch vụ xe khách liên tỉnh chất lượng cao và nhận thức của họ về kết quả dịch vụ đó.2 Khái niệm sự thỏa mãn của khách hàng Sự thỏa mãn của khách hàng là mức độ trạng thái cảm giác của khách hàng khi so sánh giá trị thu được từ sản phẩm mà khách hàng cảm nhận được với những kỳ vọng của họ về sản phẩm đó (Philip Kotler, 2001).