Phân Tích Nguyên Nhân Tai Nạn Lao Động Trên Công Trình Xây Dựng

Chuyên khảo phân tích Kl le duc giap 610187b, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo., phục vụ nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn

Chuyên ngành

Khoa Học Môi Trường

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Tốt Nghiệp

2007

75
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU VỀ AN TOÀN VỆ SINH LAO ĐỘNG CỦA NGÀNH XÂY DỰNG

1.1. Phân tích điều kiện lao động và nguyên nhân chấn thương trong xây dựng

1.1.1. Tổng quan về điều kiện lao động trong ngành xây dựng

1.1.2. Nhân lực tham gia vào ngành xây dựng

1.1.3. Tình hình an toàn lao động-vệ sinh lao động trong và ngoài nước

1.1.3.1. An toàn vệ sinh lao động ở nước ngoài
1.1.3.2. Tình hình tai nạn lao động từ năm 1995 – 2003

1.1.4. Phân tích các vụ tai nạn lao động

1.1.5. Thiệt hại về vật chất

1.1.6. Đánh giá chung về tình hình tai nạn lao động trong những năm vừa qua

2. CHƯƠNG 2: GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY ĐẦU TƯ XÂY DỰNG 3/2

2.1. Quá trình hình thành và phát triển công ty 3/2

2.2. Tổ chức công tác BHLĐ tại công ty

2.3. Giới thiệu về công trường xây dựng Trịnh Hoài Đức và Trần Quốc Toản thuộc ban quản lý công ty đầu tư xây dựng 3/2

2.3.1. Đặc điểm nguồn nhân lực

2.3.2. Hợp đồng lao động

3. CHƯƠNG 3: PHÂN TÍCH ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG ATVSLĐ – MTLĐ TRÊN CÔNG TRƯỜNG XÂY DỰNG

3.1. Điều kiện làm việc của công nhân

3.1.1. Ảnh hưởng của điều kiện làm việc đến sức khỏe của công nhân làm việc trên công trường

3.1.2. Về tư thế lao động của công nhân trên công trường (EGÔNÔMI)

3.2. Nhận xét về điều kiện lao động của công nhân trên công trường xây dựng

3.2.1. Các yếu tố so sánh đặc trưng liên quan đến điều kiện lao động xấu của ngành xây dựng với các ngành kinh tế khác

3.2.2. Tóm tắt các tác hại nghề nghiệp đặc trưng của ngành xây dựng và hậu quả của chúng

3.2.3. Ảnh hưởng của nghề nghiệp lên cơ thể người công nhân xây dựng

3.2.4. Biện pháp cải thiện điều kiện làm việc của người công nhân trước tác động của vi khí hậu trên công trường

3.3. Loại hình TNLĐ không có người chết

3.4. Phân tích các vùng nguy hiểm trên công trường xây dựng Trịnh Hoài Đức và Trần Quốc Toản

3.4.1. Thực trạng công tác đào hố, thi công làm móng trên công trường xây dựng TRỊNH HOÀI ĐỨC

3.4.2. Công tác đổ bê tông tại công trường

3.4.3. Nhận xét về những nguy cơ tai nạn trong công tác đào đất và đổ bê tông

3.5. Nguy cơ ngã cao trong xây dựng

3.5.1. Thực trạng công tác thi công tại công trường Trịnh Hoài Đức

3.5.2. Công việc kéo tấm lót sàn

3.5.3. Công việc vận chuyển vật liệu lên lầu 1

3.5.4. Công việc trên mái

3.5.5. Công tác hoàn thiện công trình

3.5.6. Công tác xây, trát

3.6. Nhận xét về các vùng nguy hiểm trên công trường và việc thi công trên cao trên công trường

3.6.1. Một số vùng nguy hiểm phổ biến trên công trường xây dựng

3.6.2. Nhận xét công tác làm việc trên cao

3.6.3. Những nguyên nhân chính gây tai nạn ngã cao

3.6.4. Sử dụng giàn giáo

3.6.5. Các biện pháp quản lý an toàn trong xây dựng

3.6.6. Thực hiện giám sát, kiểm tra an toàn khi thi công ở trên cao

3.6.7. Thực trạng công tác an toàn về điện tại công trường

4. CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Phân Tích Nguyên Nhân Tai Nạn Lao Động Trong Ngành Xây Dựng

Tai nạn lao động trong ngành xây dựng là một vấn đề nghiêm trọng, ảnh hưởng đến sức khỏe và an toàn của người lao động. Ngành xây dựng có đặc thù riêng, với nhiều yếu tố nguy hiểm tiềm ẩn. Việc phân tích nguyên nhân tai nạn lao động giúp xác định các yếu tố rủi ro và đề xuất biện pháp phòng ngừa hiệu quả.

1.1. Tình Hình Tai Nạn Lao Động Trong Ngành Xây Dựng

Từ năm 1995 đến 2003, số vụ tai nạn lao động trong ngành xây dựng tăng đáng kể. Theo thống kê, số vụ tai nạn chết người chiếm tỷ lệ cao, đặc biệt là do ngã cao và sập đổ công trình.

1.2. Đặc Điểm Ngành Xây Dựng Ảnh Hưởng Đến An Toàn Lao Động

Ngành xây dựng có nhiều yếu tố nguy hiểm như điều kiện làm việc không ổn định, thời tiết khắc nghiệt và yêu cầu kỹ thuật cao. Những yếu tố này làm tăng nguy cơ tai nạn lao động.

II. Các Nguyên Nhân Chính Gây Tai Nạn Lao Động Trong Ngành Xây Dựng

Nguyên nhân tai nạn lao động trong ngành xây dựng rất đa dạng, bao gồm cả yếu tố con người và yếu tố môi trường. Việc hiểu rõ các nguyên nhân này là cần thiết để có biện pháp phòng ngừa hiệu quả.

2.1. Yếu Tố Con Người Trong Tai Nạn Lao Động

Thiếu kỹ năng, không tuân thủ quy định an toàn và sự mệt mỏi là những yếu tố chính dẫn đến tai nạn lao động. Đào tạo an toàn lao động là cần thiết để giảm thiểu rủi ro.

2.2. Yếu Tố Kỹ Thuật Và Môi Trường

Sự thiếu hụt thiết bị bảo hộ, điều kiện làm việc không an toàn và thiết kế công trình kém cũng là nguyên nhân quan trọng gây ra tai nạn lao động.

III. Phương Pháp Phân Tích Nguyên Nhân Tai Nạn Lao Động

Phân tích nguyên nhân tai nạn lao động có thể được thực hiện thông qua nhiều phương pháp khác nhau. Việc áp dụng các phương pháp này giúp xác định rõ ràng các yếu tố gây ra tai nạn.

3.1. Phân Tích Dữ Liệu Tai Nạn Lao Động

Sử dụng thống kê để phân tích số liệu tai nạn lao động giúp nhận diện các xu hướng và nguyên nhân chính. Điều này hỗ trợ trong việc đưa ra các biện pháp phòng ngừa.

3.2. Phỏng Vấn Người Lao Động

Phỏng vấn người lao động để thu thập thông tin về các tình huống xảy ra tai nạn là một phương pháp hiệu quả. Điều này giúp hiểu rõ hơn về nguyên nhân và điều kiện làm việc.

IV. Biện Pháp Phòng Ngừa Tai Nạn Lao Động Trong Ngành Xây Dựng

Để giảm thiểu tai nạn lao động, cần áp dụng các biện pháp phòng ngừa hiệu quả. Những biện pháp này không chỉ bảo vệ sức khỏe người lao động mà còn nâng cao hiệu quả công việc.

4.1. Đào Tạo An Toàn Lao Động

Đào tạo thường xuyên về an toàn lao động cho công nhân là rất quan trọng. Điều này giúp nâng cao nhận thức và kỹ năng của người lao động trong việc phòng ngừa tai nạn.

4.2. Cải Thiện Điều Kiện Làm Việc

Cải thiện điều kiện làm việc, bao gồm việc cung cấp thiết bị bảo hộ và cải thiện môi trường làm việc, là cần thiết để giảm thiểu rủi ro tai nạn lao động.

V. Ứng Dụng Thực Tiễn Và Kết Quả Nghiên Cứu Về Tai Nạn Lao Động

Nghiên cứu về tai nạn lao động trong ngành xây dựng đã chỉ ra nhiều vấn đề cần giải quyết. Việc áp dụng các biện pháp phòng ngừa đã mang lại kết quả tích cực trong việc giảm thiểu tai nạn.

5.1. Kết Quả Nghiên Cứu Từ Các Công Trình

Nghiên cứu từ các công trình xây dựng cho thấy việc áp dụng biện pháp an toàn đã giúp giảm thiểu số vụ tai nạn lao động đáng kể.

5.2. Thực Tiễn Ứng Dụng Biện Pháp An Toàn

Nhiều công ty đã áp dụng các biện pháp an toàn lao động hiệu quả, từ đó cải thiện tình hình an toàn lao động trong ngành xây dựng.

VI. Kết Luận Và Tương Lai Của An Toàn Lao Động Trong Ngành Xây Dựng

Kết luận về tình hình tai nạn lao động trong ngành xây dựng cho thấy cần có những biện pháp mạnh mẽ hơn để bảo vệ người lao động. Tương lai của an toàn lao động phụ thuộc vào sự cải thiện liên tục trong quy trình làm việc.

6.1. Tương Lai Của An Toàn Lao Động

Cần có sự đầu tư vào công nghệ và đào tạo để nâng cao an toàn lao động trong ngành xây dựng. Điều này sẽ giúp giảm thiểu tai nạn lao động trong tương lai.

6.2. Đề Xuất Chính Sách An Toàn Lao Động

Đề xuất các chính sách an toàn lao động mạnh mẽ hơn từ chính phủ và các tổ chức liên quan là cần thiết để bảo vệ sức khỏe người lao động.

25/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU VỀ AN TOÀN VỆ SINH LAO ĐỘNG CỦA NGÀNH XÂY DỰNG 1.4 Phân tích điều kiện lao động và nguyên nhân chấn thương trong xây dựng 1.1 Tổng quan về điều kiện lao động trong ngành xây dựng Điều kiện lao động phụ thuộc vào điều kiện địa lý tự nhiên của từng nơi và mối quan hệ của con người trong xã hội. Đặc trưng của quá trình lao động là: Tính chất và cường độ lao động, tư thế của con ngừơi khi làm việc, sự căng thẳng của các bộ phận trong cơ thể như tay, chân, mắt … Tình trạng vệ sinh môi trường sản xuất được đặc trưng bởi: điều kiện vi khí hậu ( nhiệt độ, độ ẩm và tồc độ lưu chuyển của không khí ); nồng độ hơi, khí, bụi trong không khí, mức độ tiếng ồn, rung động, độ chiếu sáng… Các yếu tố trên tồn tại riêng lẻ hoặc kết hợp trong những điều kiện nhất định ( vượt quá giới hạn cho phép ) có thể gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người, gây tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp. Đối với các ngành sản xuất khác, trong quá trình sản xuất người công nhân làm việc ở một chỗ hay trong một khu vực nhất định, còn sản phẩm thì chuyển từ nơi này đến nơi khác theo dây chuyền sản xuất. Ngược lại ngành xây dựng thì sản phẩm ( ngôi nhà, hay công trình xây dựng khác như ống khói, tháp nước, trụ cầu…) ở cố định một chỗ, còn công nhân thì lại luôn di chuyển trong quá trình làm việc.

Do đặc điểm trên nên người lao động luôn phải thay đổi tổ chức, sắp xếp bố trí chỗ làm việc cho thích hợp với từng lúc, sự bố trí giữa các thành viên cũng bị xáo trộn, mối quan hệ giữa người với máy móc cũng thay đổi luôn. Tất cả những điều này làm cho quá trình làm việc của họ phức tạp thêm nhiều. Ngành xây dựng là ngành có nhiều nghề và công việc nặng nhọc, khối lượng về thi công cơ giới và lao động thủ công lớn. Công nhân lao động phần lớn phải thực hiên công việc ở ngoài trời, chịu ảnh hưởng xấu của thời tiết, khí hậu nóng gắt, mưa gió và giông bão, khí hậu nóng lạnh thay đổi đột ngột… dễ làm cho người lao động chóng mệt mỏi, mất tập trung và sẽ xảy ra TNLĐ nhiều hơn.2 Nhân lực tham gia vào ngành xây dựng Trong những năm gần đây ngành xây dựng đã có những bứơc tiến rõ nét cả về số lượng lẫn chất lượng, tình hình đô thị hóa và quy hoạch đã tạo cho ngành xây dựng luôn luôn phải đẩy nhanh tiến độ, và kịp thời đáp ứng nhu cầu của xã hội.

Vì vậy lao động trong ngành xây dựng ngày càng đông, sự giải tỏa về vướng mắc cuộc sống là cho họ một công việc. Tham gia hoạt động trong lĩnh vực xây dựng ngoài các doanh nghiệp quốc doanh còn có các doanh nghiệp như các công ty tư nhân, công ty TNHH, công ty cổ phần đã tạo nên một lực lượng thi công hùng hậu, thu hút một lượng lớn lao 10 động trong và ngoài tỉnh. Theo thống kê từ năm 1990 đến năm 2000 thì mỗi năm tổng số công nhân xây dựng tăng lên trung bình 10.000 người, tuy nhiên bên cạnh đó thì tình hình TNLĐ cũng có chiều hướng tăng theo, trong đó thì những vụ TNLĐ chết người cũng tăng lên đáng kể. Môi trường làm việc thì không ổn định và chịu sự tác động trực tiếp của thời tiết và máy móc nên nguy cơ về suy giảm sức khỏe và bệnh nghề nghiệp cũng ngày càng gia tăng.5 Tình hình an toàn lao động-vệ sinh lao động trong và ngoài nước 1.1 An toàn vệ sinh lao động ở nước ngoài Xây dựng là một trong những ngành công nghiệp lớn trên thế giới hoạt động củ nó bao trùm hầu hết các lĩnh vực như tái thiết các công trình bị hủy hoại do những thảm họa gây ra bởi cả con người và tự nhiên, lĩnh vực cung cấp năng lượng, xây nhà ở, cầu cống… mặc dù ở các nước đã có sự cơ khí hóa cao, nhưng ngành xây dựng cũng là ngành còn sử dụng nhiều lao động, chiếm từ 9 – 12%, có khi lên tới 20% lực lượng lao động của mỗi quốc gia.

Để có sự phát triển không ngừng và thỏa mãn hạng mục xây dựng thì ngành phải có sự trả giá. Mặc dù có những khó khăn trong việc thống kê số liệu trong mỗi ngành công nghiệp mà ở đó các TNLĐ thường không được điều tra và khai báo đầy đủ, nhưng ở nhiều nước người ta cũng ghi nhận được những tai nạn nặng và số tai nạn chết người. Những vụ TNLĐ này đã gây ra những tổn thất không nhỏ về người và của. Thông qua những tài liệu tham khảo đã cho thấy được TNLĐ cũng chiếm tỷ lệ cao, đứng thứ 2 sau ngành ngành mỏ, đôi lúc đứng sau ngành lâm nghiệp, gia công gỗ.

Một vài số liệu ở những quốc gia có nền kinh tế phát triển cùng với sự hiện đại hóa đất nước đã tạo cho họ trở thành những quốc gia có những ngôi nhà cao tầng, chọc trời. Nhưng sự phát triển nhanh chóng đó kéo theo đó là những tai nạn lao động trong khi làm việc và phát triển. Ở Mỹ có số lao động chết người đối với cong nhân ngành xây dựng với hệ số tần suất TNLĐ là K =0.000 công nhân xây dựng) xếp thứ 13 trên tổng số 374 nghề khác nhau, lao động ngành xây dựng chiếm 6% tổng số lao động ở Mỹ nhưng chiếm 19% tổng số người chết và 12% tổng số TNLĐ và BNN của cả nước. TNLĐ ngành xây dựng có tỷ lệ chết người và tàn tật đứng hàng đầu so với các ngành khác.

Về thiệt hại do TNLĐ ở Mỹ ước tính 5 -10 tỉ USD.2 Tình hình tai nạn lao động trong nước từ năm 1995 – 2003 Theo số liệu thống kê từ báo cáo của các tỉnh trong cả nước (không đầy đủ số đơn vị), trong thời gian từ năm 1995 – 2003, số vụ tai nạn lao động xảy ra trong cả nước là 24.845 vụ, trong đó số vụ có người chết là 3094 vụ, chiếm 12,4% tổng số vụ tai nạn. Trong 3094 vụ chết người có 515 vụ có từ 2 người chết trở lên, chiếm 16,6% số vụ chết ngừơi. Số người bị TNLĐ trong những năm này là 25.770 người, trong đó có 3.337 người chết, chiếm 12,9% số người bị nạn và 22.433 người bị thương, chiếm 87,1%. Từ năm 1995 đến 2002, số vụ và người bị TNLĐ tăng qua các năm.

Tuy nhiên, năm 2003 số cả số người bị nạn giảm so với năm 2002. Số vụ và người bị TNLĐ trong cả nước trong những năm qua tăng như sau:  Tổng số vụ TNLĐ tăng 197%.  Số vụ TNLĐ có người chết tăng 104%.  Số vụ TNLĐ có 2 người chết trở lên 34%.

 Số người bị TNLĐ tăng 270%.  Số người bị chết tăng 94%.  Số người bị thương tăng 325%.1: Số vụ TNLĐ xảy ra từ năm 1995 – 2003 12 Hình 1.2: Số người bị TNLĐ trong khoảng thời gian từ 1995 – 2003 1.3 Phân tích các vụ tai nạn lao động 1.1 Các địa phương xảy ra nhiều TNLĐ Các địa phương xảy ra nhiều TNLĐ chết người từ năm 1995 – 2003 là: Thành Phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Quảng Ninh, Đồng Nai, Hải Phòng (xếp theo thứ tự từ cao xuống thấp). Trong các địa phương này, có thành Phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Quảng Ninh là 3 địa phương xảy ra nhiều TNLĐ trong cả 9 năm.

 Thành Phố Hồ Chí Minh xảy ra 3943 vụ TNLĐ, chiếm 19,18%, trong đó có 346 vụ TNLĐ chết người, chiếm 11,18%. Tổng số người chết là 385 người, chiếm 11,53% và số người bị thương là 3766 người, chiếm 20,53%.  Hà Nội xảy ra 1659 vụ TNLĐ, chiếm 8.07%, trong đó có 243 vụ TNLĐ chết người, chiếm 7,85%. Tổng số người chết là 254 người, chiếm 7,61% và số người bị thương là 1474 người, chiếm 8,03%.

 Đồng Nai xảy ra 2958 vụ TNLĐ, chiếm 14,39%, trong đó có 95 vụ TNLĐ chết người, chiếm 3,31%. Tổng số người chết là 99 người, chiếm 3,22% và số người bị thương là 2818 người, chiếm 17,10%.  Hải Phòng xảy ra 1449 vụ TNLĐ, chiếm 7,05%, trong đó có 82 vụ TNLĐ chết người, chiếm 3,24%. Tổng số người chết là 84 người, chiếm 2,94% và số người bị thương là 1437 người, chiếm 7,83%.3: Tình hình TNLĐ ở các địa phương 1.2 Những lĩnh vực xảy ra nhiều tai nạn lao động chết người.

Có 4 lĩnh vực xảy ra nhiều TNLĐ chết người là: xây dựng, lắp đặt, sửa chữa và sử dụng điện; khai thác khoáng sản và sử dụng các thiết bị có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động. Tình hình TNLĐ chết người xảy ra ở các lĩnh vực này trong những năm qua như sau: a) Xây dựng Xảy ra 475 vụ TNLĐ chết người, chiếm 16,58% của tổng các lĩnh vực, làm chết là 547 người, chiếm 17,80% của tổng các lĩnh vực. Trong đó tai nạn do:  Ngã cao: có 362 vụ, chiếm 76,21% của lĩnh vực, làm chết 366 người, chiếm 66,91% của lĩnh vực.  Sụp đổ công trình:có 60 vụ, chiếm 12,63% của lĩnh vực, làm chết 106 người, chiếm 19,37% của lĩnh vực.

 Sập đất: có 30 vụ, chiếm 6,31% của lĩnh vực, làm chết 37 người, chiếm 6,76% của lĩnh vực.  Số vụ TNLĐ và người bị nạn còn lại của lĩnh vực này là do các nguyên nhân khác. b) Lắp đặt, sửa chữa và sử dụng điện Xảy ra 448 vụ TNLĐ chết người, chiếm 15,64% của tổng các lĩnh vực, làm chết là 473 ngừơi, chiếm 15,39% của tổng các lĩnh vực. Trong đó, tai nạn do bị điện giật cao thế là 59 vụ(từ năm 1997 – 2003), chiếm 14,89% của lĩnh vực, làm chết 7 ngừơi, chiếm 1,66%.

c) Khai thác khoáng sản Xảy ra 246 vụ TNLĐ chết người, chiếm 8,85% của tổng các lĩnh vực, làm chết là 353 người, chiếm 14,48% của tổng các lĩnh vực. 14 d) Sử dụng các thiết bị có yêu cầu nghiêm ngặt về ATLĐ Xảy ra 163 vụ TNLĐ chết người, chiếm 5,69% của tổng các lĩnh vực, làm chết là 189 người, chiếm 6,15% của tổng các lĩnh vực. TNLĐ chết người ở 4 lĩnh vực này có số vụ là 1332 vụ, chiếm 46,50% tổng số vụ TNLĐ chết người ở tất cả các lĩnh vực và số người chết là 1562 người, chiếm 50,82% số người chết ở tất cả các lĩnh vực. Xem hình dưới.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ