CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU VỀ AN TOÀN VỆ SINH LAO ĐỘNG CỦA NGÀNH XÂY DỰNG 1.4 Phân tích điều kiện lao động và nguyên nhân chấn thương trong xây dựng 1.1 Tổng quan về điều kiện lao động trong ngành xây dựng Điều kiện lao động phụ thuộc vào điều kiện địa lý tự nhiên của từng nơi và mối quan hệ của con người trong xã hội. Đặc trưng của quá trình lao động là: Tính chất và cường độ lao động, tư thế của con ngừơi khi làm việc, sự căng thẳng của các bộ phận trong cơ thể như tay, chân, mắt … Tình trạng vệ sinh môi trường sản xuất được đặc trưng bởi: điều kiện vi khí hậu ( nhiệt độ, độ ẩm và tồc độ lưu chuyển của không khí ); nồng độ hơi, khí, bụi trong không khí, mức độ tiếng ồn, rung động, độ chiếu sáng… Các yếu tố trên tồn tại riêng lẻ hoặc kết hợp trong những điều kiện nhất định ( vượt quá giới hạn cho phép ) có thể gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người, gây tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp. Đối với các ngành sản xuất khác, trong quá trình sản xuất người công nhân làm việc ở một chỗ hay trong một khu vực nhất định, còn sản phẩm thì chuyển từ nơi này đến nơi khác theo dây chuyền sản xuất. Ngược lại ngành xây dựng thì sản phẩm ( ngôi nhà, hay công trình xây dựng khác như ống khói, tháp nước, trụ cầu…) ở cố định một chỗ, còn công nhân thì lại luôn di chuyển trong quá trình làm việc.
Do đặc điểm trên nên người lao động luôn phải thay đổi tổ chức, sắp xếp bố trí chỗ làm việc cho thích hợp với từng lúc, sự bố trí giữa các thành viên cũng bị xáo trộn, mối quan hệ giữa người với máy móc cũng thay đổi luôn. Tất cả những điều này làm cho quá trình làm việc của họ phức tạp thêm nhiều. Ngành xây dựng là ngành có nhiều nghề và công việc nặng nhọc, khối lượng về thi công cơ giới và lao động thủ công lớn. Công nhân lao động phần lớn phải thực hiên công việc ở ngoài trời, chịu ảnh hưởng xấu của thời tiết, khí hậu nóng gắt, mưa gió và giông bão, khí hậu nóng lạnh thay đổi đột ngột… dễ làm cho người lao động chóng mệt mỏi, mất tập trung và sẽ xảy ra TNLĐ nhiều hơn.2 Nhân lực tham gia vào ngành xây dựng Trong những năm gần đây ngành xây dựng đã có những bứơc tiến rõ nét cả về số lượng lẫn chất lượng, tình hình đô thị hóa và quy hoạch đã tạo cho ngành xây dựng luôn luôn phải đẩy nhanh tiến độ, và kịp thời đáp ứng nhu cầu của xã hội.
Vì vậy lao động trong ngành xây dựng ngày càng đông, sự giải tỏa về vướng mắc cuộc sống là cho họ một công việc. Tham gia hoạt động trong lĩnh vực xây dựng ngoài các doanh nghiệp quốc doanh còn có các doanh nghiệp như các công ty tư nhân, công ty TNHH, công ty cổ phần đã tạo nên một lực lượng thi công hùng hậu, thu hút một lượng lớn lao 10 động trong và ngoài tỉnh. Theo thống kê từ năm 1990 đến năm 2000 thì mỗi năm tổng số công nhân xây dựng tăng lên trung bình 10.000 người, tuy nhiên bên cạnh đó thì tình hình TNLĐ cũng có chiều hướng tăng theo, trong đó thì những vụ TNLĐ chết người cũng tăng lên đáng kể. Môi trường làm việc thì không ổn định và chịu sự tác động trực tiếp của thời tiết và máy móc nên nguy cơ về suy giảm sức khỏe và bệnh nghề nghiệp cũng ngày càng gia tăng.5 Tình hình an toàn lao động-vệ sinh lao động trong và ngoài nước 1.1 An toàn vệ sinh lao động ở nước ngoài Xây dựng là một trong những ngành công nghiệp lớn trên thế giới hoạt động củ nó bao trùm hầu hết các lĩnh vực như tái thiết các công trình bị hủy hoại do những thảm họa gây ra bởi cả con người và tự nhiên, lĩnh vực cung cấp năng lượng, xây nhà ở, cầu cống… mặc dù ở các nước đã có sự cơ khí hóa cao, nhưng ngành xây dựng cũng là ngành còn sử dụng nhiều lao động, chiếm từ 9 – 12%, có khi lên tới 20% lực lượng lao động của mỗi quốc gia.
Để có sự phát triển không ngừng và thỏa mãn hạng mục xây dựng thì ngành phải có sự trả giá. Mặc dù có những khó khăn trong việc thống kê số liệu trong mỗi ngành công nghiệp mà ở đó các TNLĐ thường không được điều tra và khai báo đầy đủ, nhưng ở nhiều nước người ta cũng ghi nhận được những tai nạn nặng và số tai nạn chết người. Những vụ TNLĐ này đã gây ra những tổn thất không nhỏ về người và của. Thông qua những tài liệu tham khảo đã cho thấy được TNLĐ cũng chiếm tỷ lệ cao, đứng thứ 2 sau ngành ngành mỏ, đôi lúc đứng sau ngành lâm nghiệp, gia công gỗ.
Một vài số liệu ở những quốc gia có nền kinh tế phát triển cùng với sự hiện đại hóa đất nước đã tạo cho họ trở thành những quốc gia có những ngôi nhà cao tầng, chọc trời. Nhưng sự phát triển nhanh chóng đó kéo theo đó là những tai nạn lao động trong khi làm việc và phát triển. Ở Mỹ có số lao động chết người đối với cong nhân ngành xây dựng với hệ số tần suất TNLĐ là K =0.000 công nhân xây dựng) xếp thứ 13 trên tổng số 374 nghề khác nhau, lao động ngành xây dựng chiếm 6% tổng số lao động ở Mỹ nhưng chiếm 19% tổng số người chết và 12% tổng số TNLĐ và BNN của cả nước. TNLĐ ngành xây dựng có tỷ lệ chết người và tàn tật đứng hàng đầu so với các ngành khác.
Về thiệt hại do TNLĐ ở Mỹ ước tính 5 -10 tỉ USD.2 Tình hình tai nạn lao động trong nước từ năm 1995 – 2003 Theo số liệu thống kê từ báo cáo của các tỉnh trong cả nước (không đầy đủ số đơn vị), trong thời gian từ năm 1995 – 2003, số vụ tai nạn lao động xảy ra trong cả nước là 24.845 vụ, trong đó số vụ có người chết là 3094 vụ, chiếm 12,4% tổng số vụ tai nạn. Trong 3094 vụ chết người có 515 vụ có từ 2 người chết trở lên, chiếm 16,6% số vụ chết ngừơi. Số người bị TNLĐ trong những năm này là 25.770 người, trong đó có 3.337 người chết, chiếm 12,9% số người bị nạn và 22.433 người bị thương, chiếm 87,1%. Từ năm 1995 đến 2002, số vụ và người bị TNLĐ tăng qua các năm.
Tuy nhiên, năm 2003 số cả số người bị nạn giảm so với năm 2002. Số vụ và người bị TNLĐ trong cả nước trong những năm qua tăng như sau: Tổng số vụ TNLĐ tăng 197%. Số vụ TNLĐ có người chết tăng 104%. Số vụ TNLĐ có 2 người chết trở lên 34%.
Số người bị TNLĐ tăng 270%. Số người bị chết tăng 94%. Số người bị thương tăng 325%.1: Số vụ TNLĐ xảy ra từ năm 1995 – 2003 12 Hình 1.2: Số người bị TNLĐ trong khoảng thời gian từ 1995 – 2003 1.3 Phân tích các vụ tai nạn lao động 1.1 Các địa phương xảy ra nhiều TNLĐ Các địa phương xảy ra nhiều TNLĐ chết người từ năm 1995 – 2003 là: Thành Phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Quảng Ninh, Đồng Nai, Hải Phòng (xếp theo thứ tự từ cao xuống thấp). Trong các địa phương này, có thành Phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Quảng Ninh là 3 địa phương xảy ra nhiều TNLĐ trong cả 9 năm.
Thành Phố Hồ Chí Minh xảy ra 3943 vụ TNLĐ, chiếm 19,18%, trong đó có 346 vụ TNLĐ chết người, chiếm 11,18%. Tổng số người chết là 385 người, chiếm 11,53% và số người bị thương là 3766 người, chiếm 20,53%. Hà Nội xảy ra 1659 vụ TNLĐ, chiếm 8.07%, trong đó có 243 vụ TNLĐ chết người, chiếm 7,85%. Tổng số người chết là 254 người, chiếm 7,61% và số người bị thương là 1474 người, chiếm 8,03%.
Đồng Nai xảy ra 2958 vụ TNLĐ, chiếm 14,39%, trong đó có 95 vụ TNLĐ chết người, chiếm 3,31%. Tổng số người chết là 99 người, chiếm 3,22% và số người bị thương là 2818 người, chiếm 17,10%. Hải Phòng xảy ra 1449 vụ TNLĐ, chiếm 7,05%, trong đó có 82 vụ TNLĐ chết người, chiếm 3,24%. Tổng số người chết là 84 người, chiếm 2,94% và số người bị thương là 1437 người, chiếm 7,83%.3: Tình hình TNLĐ ở các địa phương 1.2 Những lĩnh vực xảy ra nhiều tai nạn lao động chết người.
Có 4 lĩnh vực xảy ra nhiều TNLĐ chết người là: xây dựng, lắp đặt, sửa chữa và sử dụng điện; khai thác khoáng sản và sử dụng các thiết bị có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động. Tình hình TNLĐ chết người xảy ra ở các lĩnh vực này trong những năm qua như sau: a) Xây dựng Xảy ra 475 vụ TNLĐ chết người, chiếm 16,58% của tổng các lĩnh vực, làm chết là 547 người, chiếm 17,80% của tổng các lĩnh vực. Trong đó tai nạn do: Ngã cao: có 362 vụ, chiếm 76,21% của lĩnh vực, làm chết 366 người, chiếm 66,91% của lĩnh vực. Sụp đổ công trình:có 60 vụ, chiếm 12,63% của lĩnh vực, làm chết 106 người, chiếm 19,37% của lĩnh vực.
Sập đất: có 30 vụ, chiếm 6,31% của lĩnh vực, làm chết 37 người, chiếm 6,76% của lĩnh vực. Số vụ TNLĐ và người bị nạn còn lại của lĩnh vực này là do các nguyên nhân khác. b) Lắp đặt, sửa chữa và sử dụng điện Xảy ra 448 vụ TNLĐ chết người, chiếm 15,64% của tổng các lĩnh vực, làm chết là 473 ngừơi, chiếm 15,39% của tổng các lĩnh vực. Trong đó, tai nạn do bị điện giật cao thế là 59 vụ(từ năm 1997 – 2003), chiếm 14,89% của lĩnh vực, làm chết 7 ngừơi, chiếm 1,66%.
c) Khai thác khoáng sản Xảy ra 246 vụ TNLĐ chết người, chiếm 8,85% của tổng các lĩnh vực, làm chết là 353 người, chiếm 14,48% của tổng các lĩnh vực. 14 d) Sử dụng các thiết bị có yêu cầu nghiêm ngặt về ATLĐ Xảy ra 163 vụ TNLĐ chết người, chiếm 5,69% của tổng các lĩnh vực, làm chết là 189 người, chiếm 6,15% của tổng các lĩnh vực. TNLĐ chết người ở 4 lĩnh vực này có số vụ là 1332 vụ, chiếm 46,50% tổng số vụ TNLĐ chết người ở tất cả các lĩnh vực và số người chết là 1562 người, chiếm 50,82% số người chết ở tất cả các lĩnh vực. Xem hình dưới.