Đặt vấn đề Giới thiệu lý do chọn để tài, mục đích nghiên cứu để làm gì, thời gian nghiên cứu để tài diễn ra trong bao lâu và diễn ra ở đâu.2 Chương 2: Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu Nêu lên những khái niệm cơ ban liên quan đến dé tài như khái niệm nghèo, đói; khái niệm hộ nghèo, hộ đói,. và những vấn để chung liên quan đến đề tài như mối quan hệ về XĐGN với phát triển kinh tế XHCN ở nước ta hiện nay, quan niệm đói nghèo ở nước ta và việc XDGN ở Việt Nam. Trình bày phương pháp nghiên cứu trong suốt quá trình nghiên cứu.3 Chương 3: Tổng quan Giới thiệu sơ lược về diéu kiện tự nhiên, tình hình kinh tế, văn hóa, xã hội của địa phương.4 Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận - Phân tích xem điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế, điều kiện xã hội có ảnh hưởng như thế nào đến thực trạng nghèo đói đang diễn ra tại địa phương. - Phân tích so sánh những hộ nghèo với những hộ trung bình, hộ khá xem có sự khác biệt như thế nào về điều kiện sản xuất, điều kiện sinh hoạt.
- Đi vào phân tích những hộ nghèo để tìm ra nguyên nhân. - Kết hợp giữa tiểm năng của địa phương và nguyên nhân, để từ đó đưa ra một số biện pháp nhằm giảm nghèo.5 Chương 5: Kết luận và kiến nghị - Kết luận: trình bày tóm tắt nguyên nhân và thực trạng nghèo tại địa phương. - Kiến nghị: trình bay tóm tắt những biện pháp dé xuất. Hạn chế của dé tài: Do để tài chỉ thực hiện trong một khoảng thời gian khá ngắn (3,5 tháng), cộng với việc thu thập số liệu gặp nhiều khó khăn nên việc phân tích chưa được sâusắc.
Chương 2 CỞ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Quan niệm chung về đói nghèo Trong đời sống thực tiễn cũng như trong nghiên cứu khoa học các vấn để về kinh tế-xã hội, chúng ta thường nghe các khái niệm: đói nghèo hoặc nghèo khổ; giàu nghèo và phân hóa giàu nghèo. Trong xã hội học còn dé cập tới các thuật ngữ: phân tang xã hội, phân hóa giai cấp, phân cực xã hội. Riêng khái niệm đói nghèo nếu phân tích ra và nhận dạng cũng thấy được mối quan hệ mật thiết giữa đói và nghèo, sự khác biệt về mức độ và cấp độ. Da lâm vào tình trạng đói thi di nhiên là nghèo.
Đói ở đây có 2 dạng: đói kinh niên và đói gây gắt. Đây vẫn thuần túy là đói ăn (nằm trong phạm trù kinh tế, vật chất), khác với đói thông tin, đói thụ hưởng văn hóa (thuộc phạm trù đời sống tinh thần). Quan niệm nghèo cũng có 2 dạng: nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối. Dù ở dạng nào thì nghèo cũng có quan hệ mật thiết với đói.
Nghèo là một kiểu đói tiém tàng và đói là một tình trạng hiển nhiên của nghèo. Sự nghèo và khổ kéo dài, nếu không ra khỏi vòng lẩn quẩn của cảnh trì truệ, túng thiếu thì chỉ cần xảy ra những biến cố đột xuất của hoàn cảnh như: thiên tai, đau ốm, bệnh tật, rủi ro, .lầ con người ta dé rơi vào cảnh đói. Ở đây chỉ xem xét hiện tượng đói nghèo ở góc độ đời sống vật chất, góc độ kinh tế, tức là tính vật chất của nó. Chủ thể đói nghèo được xem xét ở đây là con người, từng cá thể cũng như toàn xã hội.
Tức là cộng đồng dân cư được xác định qui mô lớn, nhỏ, rộng, hẹp khác nhau. Với những cách tiếp cận khác nhau, ta hướng mục tiêu nghiên cứu vào người nghèo,. đói nghèo và phân hóa giàu nghèo là những khái niệm kép. Vừa thể hiện về mặt kinh tế vừa thể hiện về mặt xã hội trong nội dung, trong sự phát sinh diễn biến của nó.
Lĩnh vực chính trị văn hóa cũng có phần tác động, gây ảnh hưởng tới hiện trạng, xu hướng và cách giải quyết đói nghèo. Điểu này trong nên kinh tế thị trường, bước chuyển đổi mô hình, cơ chế chính sách quản lý, kể cả những biến đổi của cơ cấu kinh tế và cơ cấu xã hội phù hợp với tình hình nước ta. Tình hình nước ta hiện nay, qua thực tế những nhân tố tạo nên đặc điểm đói nghèo là sự phát triển sản xuất, mức tăng trưởng kinh tế, sự tăng lên của nhu cầu con người, những biến đổi của xã hội. Trong thực tế, các chỉ số xác định đói nghèo và giàu nghèo luôn di động gắn liền với không gian và thời gian.
Ở một thời điểm, với một vùng, một nước thì chỉ số đó được xác định là giàu hoặc nghèo. Nhưng sau một thời điểm khác, so sánh với vùng khác, nước khác, cộng đông dân cư khác thì chỉ số đó có thể mất ý nghĩa. Đây cũng là điểm giải thích khi nghiên cứu lý luận vấn để đói nghèo và phân hóa giàu nghèo gắn với lý luận phát triển. Điều quan trong là phải có quan niệm hiện đại về phát triển lấy đó làm cơ sở, làm điểm tựa cho việc xác định đói nghèo, phân hóa giàu nghèo cũng như XDGN.2 Khái niệm về đói nghèo 2.1 Định nghĩa về đói nghèo Tại Hội Nghị bàn về giảm nghèo đói trong khu vực Châu Á-Thái Bình Dương Escap tổ chức ở Băng-cốc (Thái Lan) vào tháng 09/1993 nhận định: “Nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người đã được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế-xã hội và phong tục tập quán của các địa phương”.2 Khái niệm về đói | Đói là sự khổ tuyệt đối, sự ban cùng, là tình trạng con người không có ăn, không đủ lượng đinh dưỡng tối thiểu cần thiết, sự đứt đoạn trong nhu cầu ăn.
Nói cách khác : đói là tình trạng ăn không đủ no, không đủ năng lượng tối thiểu cần thiết để con người duy trì sự sống hàng ngày và không đủ sức để lao động. - Đói gây gắt kinh niên : là tình trạng thiếu ăn thường xuyên. - Đói gây gắt cấp tính : là đói kinh niên cộng với những hoàn cảnh đột xuất, bất ngờ do thiên tai, bão lụt, mất mùa, bệnh tật rơi vào cùng cực không có gì để sống, không có lương thực thực phẩm để ăn, có thể dẫn đến cái chết, do đó phải cứu trợ khẩn cấp.3 Khái niệm về nghèo Nghèo là tình trạng thu nhập thực tế của người dân chỉ dành cho hầu như là ăn, thậm chí không đủ chí cho ăn, phần tích lữy hầu như không có. Các nhu cầu tối thiểu ngoài ăn ra còn các mặt khác như : nhà ở, mặc, văn hóa, giáo dục, y tế, đi lại, giao tiếp chỉ đáp ứng một phần rất it di, không đáng kể.
Có 2 dạng nghèo: - Nghèo tuyệt đối: là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thỏa mãn các nhu cầu tối thiểu để duy trì cuộc sống. - Nghèo tương đối: là tình trạng dân cư có mức sống dưới mức trung bình của cộng đồng tại địa phương.3 Khuôn khổ khái niệm để phân tích tình trạng nghèo khổ và chất lượng cuộc sống Khuôn khổ khái niệm để phân tích tình trạng nghèo khổ và chất lượng cuộc sống dựa trên các công trình gần đây của một số nhà nghiên cứu quốc tế tập trung vào vấn để “kinh tế hộ bển vững”. Cơ sở của phương pháp này nằm ở chỗ hiểu được cơ cấu kinh tế hộ của người dân bao gồm và phụ thuộc vào 5 loại nguồn lực hay nguồn vốn: Vốn tự nhiên | Vốn nhân lực | Vốn xã hội Vốn tài chính | Vốn vật chất Hộ các loại Lao động Các mạng Thu nhập tién | Nhà ở và tài đất khác nhau | chính và lưới hổ trợ của | mặt và tiết sản trong nhà như đấtcanh | người ăntheo | bạn bè, họ kiệm như dé đạc, tác, rừng, trong hộ hàng, láng dụng cụ nấu vườn, hộ. Giáo dục kiến dụng và vốn Cơ sở tài thức và xóa Hợp tác trong | vay chính thức |Máy móc như nguyên thiên | mù chữ cho sản xuất và và không máy khâu, nhiên của cộng | các thành buôn bán.
chính thức. đồng viên của hộ gia đình Diễn đàn để | Các nguồn dự | Phương tiện di Nguồn nước chia sẻ kiến | trữ tài sản linh | lại như xe cho sinhhoạt | Kỹ năng, sở thức và kinh | hoạt như chăn | đạp, ngựa. và tưới tiêu thích và năng | nghiệm. nuôi và các khiếu của các tài sản sản Công cụ và Nguồn gen thành viên Các nghỉ lễ xuất khác.
các vật dụng động thực vật | trong hộ. truyền thống khác. Sức khỏe thân | như ma chay, phụ (ví dụ Phương tiện thể và tâm lý | cưới xin. buôn bán, thu | thông tin như của các thành nhập các sản | dai, ti-vi.
viên tronghộ | Cơ hội để phẩm phi gỗ và cuộc sống |thamgiavà | trong rừng). tình cảm của | tác động tới họ. các sự việc 6 cơ sở như các cuộc họp. Nguồn: Ngân hàng thế giới, 1999 Chất lượng cuộc sống của người dân phụ thuộc vào cả số lượng và chất lượng của các nguồn vốn khác nhau mà họ có khả năng tiếp cận hay sở hữu.
Ví dụ như số thành viên trong gia đình là lao động chính khoẻ mạnh và được giáo dục tốt. Hay diện tích và độ mau mỡ của khu đất mà họ có. Tính bén vững của các chiến lược kinh tế hộ của họ phụ thuộc vào hiệu quả kết hợp và quản lý các nguồn vốn này theo khả năng của từng hộ.4 Quan niệm về đói nghèo và việc XĐGN ở Việt Nam 2.1 Quan niệm về đói nghèo ở Việt Nam Căn cứ vào tình trạng phát triển kinh tế - xã hội của nước ta và hiện trạng đời sống trung bình phổ biến của dân cư hiện nay, có thể xác lập đánh giá đói nghèo theo 4 chỉ tiêu sau: - Chỉ tiêu thu nhập: ăn, mặc, giáo dục, y tế, văn hóa, di lai,. - Chỉ tiêu nhà ở và tiện nghi sinh hoạt.
- Chỉ tiêu TLSX. - Chỉ tiêu vốn liếng để dành. Trong 4 chỉ tiêu trên, đặc biệt chú ý chỉ tiêu 1 và 2, vì 2 chỉ tiêu này phan ánh trực tiếp mức sống hay mức độ thực hiện các nhu cầu tối thiểu của đời sống. Còn chỉ tiêu 3 và 4: TLSX và vốn liếng để dành nó cho thấy rõ thêm tình cảnh thực sự của người nghèo và các hộ đói nghèo nhất là ở vùng nông thôn.
Trong thực tế khi đã lâm vào cảnh đói nghèo thì thường là TLSX hết sức ít ỏi, nghèo nàn, kém giá trị sử dụng và khai thác để làm ra của cải vật chất.