Chương 1: Trình bày vấn đề nghiên cứu, đưa ra lý do vì sao thực hiện nghiên cứu, trình bày mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu; Chương 2: Trình bày cơ sơ lý luận và phương pháp nghiên cứu. Trong đó tổng quan sâu các lập luận về nghèo đô thị gồm các quan niệm về nghèo đô thị, khác biệt giữa nghèo đô thị và nghèo nông thôn, các phương diện và các yếu tố ảnh hưởng đến nghèo đô thị. Trình bày các lập luận về phương pháp nghiên cứu gồm các phương pháp chọn mẫu, khảo sát thu thập thông tin, phương pháp phân tích, khung phân tích và mô hình kinh tế lượng. Đồng thời cũng trình bày phạm vi, giới hạn của nghiên cứu nhằm hướng đến một nghiên cứu tập trung sâu hơn là một nghiên cứu tổng quan; Chương 3: Trình bày nội dung phân tích các phương diện của nghèo đô thị tại thành phố Trà Vinh.
Kết hợp phân tích mô tả và đánh giá định tính các phương diện của nghèo đô thị, mục tiêu lột tả bức tranh người nghèo tại thành phố Trà Vinh qua tính đa diện của nó; Chương 4: Trình bày nội dung về kết quả phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến nghèo đô thị, phân tích định tính riêng từng yếu tố và cuối cùng là phân tích, thảo luận kết quả hồi quy thông qua mô hình kinh tế lượng; Chương 5: Trình bày kết luận, hạn chế và kiến nghị của nghiên cứu. 123doc 5 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2. Các lý thuyết và khái niệm liên quan Nghiên cứu không nhằm mục tiêu đưa ra bất kỳ định nghĩa mới nào về nghèo cũng như nghèo đô thị, do đó chỉ thực hiện tổng quan một số quan niệm phổ biến về nghèo và tập trung sâu hơn vào tổng quan về nghèo đô thị. Nghèo Một số khái niệm về nghèo đã được công bố và sử dụng từ rất lâu trên thế giới.
Điển hình như khái niệm về người nghèo nổi tiếng được công bố tại hội nghị Thượng đỉnh thế giới và phát triển xã hội tổ chức tại Copenhagen, Đan Mạch năm 1995: “Người nghèo là tất cả những người có thu nhập thấp hơn 1 USD một ngày, số tiền được quy đổi đủ cho mua những sản phẩm thiết yếu để tồn tại”. Cũng theo phương diện thu nhập, một cá nhân hay hộ được coi là nghèo là khi họ “Không có khả năng để đạt được một mức sống tối thiểu được đo bằng nhu cầu tiêu dùng cơ bản hoặc thu nhập cần thiết để thỏa mãn các nhu cầu đó” (Bernstein, 1992). Dựa vào các tiêu chuẩn dinh dưỡng tối thiểu cần thiết cho một cá nhân được quy ra thu nhập để đáp ứng các tiêu chuẩn đó, WB (1990) đã đưa ra ngưỡng 1 đôla/cá nhân/ngày để đánh giá mức độ nghèo ở các quốc gia. Một cá nhân hay hộ gia đình được coi là ở trong điều kiện nghèo tuyệt đối nếu thu nhập của họ dưới ngưỡng nghèo này.
Nghèo còn được hiểu theo hai loại phổ biến gồm nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối. Nghèo tuyệt đối dựa trên định nghĩa về lượng calorie tối thiểu trong thực phẩm và phi thực phẩm cần thiết đủ cho phép con người đáp ứng nhu cầu đối với hoạt động thể chất của cơ thể hàng ngày và phương pháp tiếp cận này yêu cầu xác định con số tối thiểu cần cho mỗi người cần (Anwar, 2006). Nghèo tương đối được xác định dựa vào mức trung bình của một quốc gia hoặc tiêu chuẩn chung của một xã hội. Theo đó, một cá nhân hay hộ gia đình ở vào tình trạng nghèo khổ nếu có mức thu nhập hoặc tiêu dùng thấp hơn so với mức trung bình hay các tiêu chuẩn chung này (Amis và Rakodi, 1994).
123doc 6 Tuy nhiên nghèo là một trạng thái đa phương diện, do vậy nghèo không chỉ thể hiện ở chỗ thiếu thu nhập hoặc không đủ tiêu dùng, mà còn ở các mặt khác như dễ bị tổn thương, không có quyền lực hoặc bị cô lập về nơi ở và mạng lưới xã hội. Rõ ràng, nghèo cần được xem như một hiện tượng nhiều mặt và được định nghĩa như một tình trạng trong đó cá nhân hay hộ gia đình thiếu các khả năng cần thiết và các quyền để thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của họ (IFAD, 1995). World Bank-WB (1990) đưa ra định nghĩa về nghèo được đánh giá là tổng quát hơn như sau: nghèo là tình trạng “không có khả năng có mức sống tối thiểu”. Các nhu cầu này bao gồm tình trạng thiếu thốn các sản phẩm và dịch vụ thiết yếu như giáo dục, y tế, dinh dưỡng.
Nghèo còn là tình trạng bị gạt ra bên lề xã hội hay dễ bị tổn thương: “Xét về mặt phúc lợi, nghèo có nghĩa là khốn cùng. Nghèo có nghĩa là đói, không có nhà cửa, quần áo, ốm đau, không có ai chăm sóc, mù chữ và không được đến trường. Nhưng đối với người nghèo, sống trong cảnh bần hàn còn mang nhiều ý nghĩa hơn thế. Người nghèo đặc biệt dễ bị tổn thương trước những sự kiện bất thường nằm ngoài khả năng kiểm soát của họ.
Họ thường bị các thể chế của nhà nước và xã hội đối xử tàn tệ, bị gạt ra bên lề xã hội và không có tiếng nói, quyền lực trong các thể chế đó” (WB, 2002). Tại Việt Nam, khái niệm nghèo thường được sử dụng (là khái niệm được đưa ra tại hội nghị về chống nghèo đói do Ủy ban kinh tế - xã hội khu vực châu Á - Thái Bình Dương tổ chức ở Thái Lan năm 1993), như sau: “nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu ấy phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội, phong tục tập quán của từng vùng và những phong tục ấy được xã hội thừa nhận”. Hay đơn giản, tại Việt Nam nghèo thường đồng nghĩa với nhà ở bằng tranh, tre, nứa, lá tạm bợ, xiêu vẹo, dột nát; không đủ đất đai sản xuất, không có trâu bò, không có tivi, con cái thất học, ốm đau không có tiền đi khám chữa bệnh… Như vậy, hầu hết những khái niệm, quan niệm về nghèo đều phản ánh ba khía cạnh chủ yếu sau về người nghèo, họ là những người: (1) Có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng dân cư; (2) Không được thụ hưởng những 123doc 7 nhu cầu cơ bản ở mức tối thiểu dành cho con người; (3) Thiếu cơ hội lựa chọn tham gia vào quá trình phát triển của cộng đồng. Tóm lại, nghiên cứu này dựa trên định nghĩa nghèo là trạng thái đa phương diện và là tình trạng “không có khả năng có mức sống tối thiểu” của World Bank (1990) để lập luận tiếp cho các phân tích sau, sâu hơn về nghèo đô thị.
Nghèo đô thị Suy rộng từ khái niệm về nghèo, Baker và Schuler (2004) cho rằng người nghèo ở các đô thị là những người chịu đựng nhiều thiếu hụt như thiếu tiếp cận việc làm, nhà ở, các cở sở hạ tầng, thiếu tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, giáo dục, an toàn cá nhân và an toàn xã hội. Do đó, nghèo ở đô thị được mô tả bằng cách tích lũy các thiếu hụt, một sự thiếu hụt này dẫn đến một sự thiếu hụt khác (WB, 2002). Năm nhóm thiếu hụt cơ bản, hay còn được coi là các phương diện của nghèo đô thị được khái quát hóa bao gồm: (1) thu nhập/tiêu dùng; (2) sức khỏe; (3) giáo dục; (4) an toàn; và (5) trao quyền (WB, 2002). Bảng sau tóm tắt các phương diện của nghèo đô thị, nguyên nhân gây ra và tác động của chúng: 123doc 8 Các phương Nguyên nhân có thể nhìn thấy Nguyên nhân liên quan đến diện của hoặc các yếu tố góp phần gây Tác động lên các phương diện khác của nghèo chính sách nghèo ra nghèo - Phụ thuộc vào tiền mặt dùng để mua các hàng hóa và dịch vụ thiết yếu.
- Khủng hoảng kinh tế vĩ mô - Không có bảo hộ lao động/lao làm giảm thu nhập thực. động tay chân, giản dị. - Thất bại của các dịch vụ công, - Không đủ khả năng để mua nhà và đất, kết quả không có - Tiền lương của lao động không như giáo dục, y tế, cơ sở hạ vốn vật chất. có kỹ năng, trình độ/ thiếu tầng, và giao thông để phục vụ - Không đủ khả năng để mua các dịch vụ công đảm bảo về chứng chỉ, bằng cấp cho các cho người nghèo ở đô thị.
chất lượng và số lượng thiết yếu (ví dụ không đủ nước sạch công việc được trả lương cao- - Hạn chế về các quy định đối để cung cấp có thể khiến cho điều kiện sống tồi tàn, thiếu Thu nhập well paid jobs. với các doanh nghiệp nhỏ hoạt vệ sinh và bệnh tật). - Không có khả năng giữ được động lâu dài trong các khu vực - Nghèo về vốn con người (ví dụ, sức khỏe và giáo dục kém công việc vì lý do sức khỏe phi chính thức-đây là nguồn bởi do áp lực, không đảm bảo về lương thực, không đủ khả kém. công việc có sẵn đối với những năng để sử dụng các dịch vụ về giáo dục và y tế).
- Thiếu tiếp cận với các cơ hội người nghèo, hạn chế tích lũy - Vốn xã hội bị hao mòn do kết quả của bạo lực và tội phạm nghề nghiệp (những người tài sản và tiếp cận tín dụng, làm trong khu vực sống. nghèo ở đô thị thường phải đánh tăng tính dễ tổn thương đối với đổi giữa khoảng cách để có người lao động. được công việc và chi phí dành cho nhà ở). - Sống ở nơi có điều kiện tồi tàn, - Các quy định về đất đai và nhà quá tải và thiếu vệ sinh.
ở có thể khiến cho họ không đủ - Khi khu dân cư và các khu khả năng có được những căn công nghiệp đặt cạnh nhau trong nhà ở phù hợp, bị đẩy ra sống ở - Không có khả năng giữ được công việc. các thành phố, môi trường sống những khu vực dễ bị bệnh tật và - Không có khă năng kiếm tiền. trở nên dễ bị ô nhiễm bởi công ô nhiễm môi trường. - Giảm khả năng đi học của trẻ bởi do bệnh tật (ví dụ ngộ Sức khỏe nghiệp và giao thông.
- Các quy định, chính sách tồi độc chì). - Những người nghèo sống trong tệ, và thất bại của các dịch vụ - Nguy cơ bị thương và tổn thương có liên quan với các cú các thành phố thường định cư ở công cộng như các dịch vụ liên sốc về thu nhập. các vùng đất cận biên, ngoài rìa quan đến môi trường và y tế - Kết quả học tập kém.