Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THU HÚT VÀ SỬ DỤNG NGUỒN HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN CHÍNH THỨC (ODA) 1. Cơ sở lý luận về ODA 1. Nguồn gốc ODA ra đời sau chiến tranh thế giới thứ II cùng với kế hoạch Marshall, để giúp các nước Châu Âu phục hồi các ngành công nghiệp bị chiến tranh tàn phá.
Lúc này, các nước công nghiệp phát triển đã có sự thoả thuận trợ giúp các nước thế giới thứ 3 dưới dạng viện trợ không hoàn lại hoặc cho vay với điều kiện ưu đãi. Ngày 14-2-1960, tại Paris các nước đã ký thoả thuận thành lập tổ chức hợp tác kinh tế và phát triển (Organization for Economic and Development-OECD), tổ chức này bao gồm 20 nước thành viên ban đầu đã đóng góp phần quan trọng nhất trong việc cung cấp ODA song phương và đa phương. Trong khuôn khổ hợp tác phát triển, các nước OECD đã lập ra các ủy ban chuyên môn, trong đó có Ủy ban Hỗ trợ Hợp tác Phát triển (Development Assistance Committee - DAC), nhằm giúp các nước đang phát triển phát triển kinh tế và nâng cao hiệu quả đầu tư. Thành viên ban đầu của DAC gồm 18 nước.
Thường kỳ các nước thành viên của DAC thông báo cho ủy ban các khoản đóng góp của họ cho các chương trình viện trợ phát triển và trao đổi với nhau các vấn đề liên quan đến chính sách viện trợ phát triển. Thành viên của DAC hiện nay gồm có: Áo, Bỉ, Canada, Đan Mạch, Pháp, Đức, Ailen, Italia, Hà Lan, Nauy, Bồ Đào Nha, Thụy Điển, Thụy Sĩ, Vương quốc Anh, Mỹ, Ôtrâylia, Niudilân, Nhật Bản, Luxămbua, Tây Ban Nha và Liên minh Châu Âu - EC. Khái niệm Vốn ODA là một phần của nguồn tài chính chính thức mà Chính phủ các nước phát triển và các tổ chức đa phương dành cho các nước đang phát triển nhằm hỗ trợ phát triển kinh tế và nâng cao phúc lợi xã hội các quốc gia này. Theo cách hiểu chung nhất, ODA là tất cả các khoản hỗ trợ không hoàn lại và các khoản tín dụng ưu đãi dành cho các nước nhận viện trợ.
ODA được thực 8 z hiện thông qua việc cung cấp từ phía các nhà tài trợ các khoản viện trợ không hoàn lại, vay ưu đãi về lãi suất và thời hạn thanh toán. Theo chương trình phát triển của Liên Hợp Quốc: ODA là viện trợ không hoàn lại hoặc là cho vay ưu đãi của các tổ chức nước ngoài, với phần viện trợ không hoàn lại chiếm ít nhất 25% giá trị của khoản vốn vay. Một cách khái quát, ODA là các khoản viện trợ không hoàn lại, có hoàn lại hoặc tín dụng có ưu đãi (về lãi suất thời gian ân hạn và trả nợ) của các cơ quan chính thức thuộc các nước và các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi chính phủ (NGO) cho các nước đang phát triển hoặc chậm phát triển. Một khoản tài trợ được coi là ODA nếu đáp ứng đầy đủ 3 điều kiện: Một là: Được các tổ chức chính thức hoặc đại diện của các tổ chức chính thức cung cấp.
Tổ chức chính thức bao gồm các nhà nước mà đại diện là Chính phủ, các tổ chức liên chính phủ hoặc liên quốc gia, và các tổ chức phi chính phủ hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận. Hai là: Mục tiêu chính là giúp các nước đang phát triển (ĐPT) phát triển kinh tế, nâng cao phúc lợi xã hội. Các lĩnh vực được ưu tiên sử dụng vốn ODA bao gồm: Xoá đói, giảm nghèo, nông nghiệp và phát triển nông thôn; cơ sở hạ tầng kinh tế kỹ thuật như giao thông vận tải, thông tin liên lạc, năng lượng; cơ sở hạ tầng xã hội như giáo dục, y tế, bảo vệ môi trường; các vấn đề xã hội như tạo việc làm, phòng chống dịch bệnh, phòng chống các tệ nạn xã hội; cải cách hành chính, tư pháp, tăng cường năng lực của cơ quan quản lý nhà nước, cải cách thể chế… Ba là: Thành tố hỗ trợ (Grant element - GE) phải đạt ít nhất 25%. Thành tố hỗ trợ, còn được gọi là yếu tố không hoàn lại là một chỉ số biểu hiện tính “ưu đãi” của ODA so với các khoản vay thương mại theo điều kiện thị trường.
Các hình thức Hỗ trợ cán cân thanh toán: Thường là tài trợ trực tiếp thông qua chuyển giao tiền tệ. Nhưng đôi khi lại là hiện vật (hỗ trợ hàng hoá) như hỗ trợ nhập 9 z khẩu bằng hàng hoặc vận chuyển hàng hoá vào trong nước qua hình thức hỗ trợ cán cân thanh toán hoặc có thể chuyển hoá thành hỗ trợ ngân sách. Tín dụng thương mại: Với các điều khoản "mềm" (lãi suất thấp, hạn trả dài) trên thực tế là một dạng hỗ trợ hàng hoá có ràng buộc. Viện trợ chương trình (gọi tắt là viện trợ phi dự án): là viện trợ khi đạt được một hiệp định với đối tác viện trợ nhằm cung cấp một khối lượng ODA cho một mục đích tổng quát với thời hạn nhất định, mà không xác định một cách chính xác nó sẽ được sử dụng như thế nào.
Hỗ trợ cơ bản: chủ yếu là về xây dựng cơ sở hạ tầng. Thông thường, các dự án này có kèm theo một bộ phận không viện trợ kỹ thuật dưới dạng thuê chuyên gia nước ngoài để kiểm tra những hoạt động nhất định nào đó hoặc để soạn thảo, xác nhận các báo cáo cho đối tác viện trợ. Hỗ trợ kỹ thuật: chủ yếu tập trung vào chuyển giao tri thức hoặc tăng cường cơ sở lập kế hoạch, cố vấn nghiên cứu tình hình cơ bản, nghiên cứu khi đầu tư. Chuyển giao tri thức có thể là chuyển giao công nghệ như thường lệ nhưng quan trọng hơn là đào tạo về kỹ thuật, phân tích kinh tế, quản lý, thống kê, thương mại, hành chính nhà nước, các vấn đề xã hội.
Phân theo phương thức hoàn trả: ODA có 3 loại. Viện trợ không hoàn lại: bên nước ngoài cung cấp viện trợ (mà bên nhận không phải hoàn lại) để bên nhận thực hiện các chương trình, dự án theo sự thoả thuận trước giữa các bên. Viện trợ không hoàn lại thường được thực hiện dưới các dạng: + Hỗ trợ kỹ thuật. + Viện trợ nhân đạo bằng hiện vật.
Viện trợ có hoàn lại: nhà tài trợ cho nước cần vốn vay một khoản tiền (tuỳ theo một quy mô và mục đích đầu tư) với mức lãi suất ưu đãi và thời gian trả nợ thích hợp. 10 z Những điều kiện ưu đãi thường là: + Lãi suất thấp (tuỳ thuộc vào mục tiêu vay và nước vay). + Thời hạn vay nợ dài (từ 20 - 30 năm) + Có thời gian ân hạn (từ 10 - 12 năm) ODA cho vay hỗn hợp: là các khoản ODA kết hợp một phần ODA không hoàn lại và một phần tín dụng thương mại theo các điều kiện của tổ chức Hợp tác kinh tế và phát triển. Nếu phân loại theo nguồn cung cấp ODA song phương: Là các khoản viện trợ trực tiếp từ nước này đến nước kia thông qua hiệp định được ký kết giữa hai Chính phủ.
+ Các nước thành viên Hội đồng tương trợ kinh tế (SEV, CMEA). Trước đây là Liên Xô cũ, và các nước Đông Âu + Các nước thuộc tổ chức OECD: gồm 24 nước thành viên, là những nước công nghiệp phát triển, những nước xuất khẩu tư bản: Anh, Áo, Bỉ, Bồ Đào Nha, Canada, Đan Mạch, Đức, Hà Lan, Mỹ, Nhật Bản, Newzealand, Na Uy, Pháp, Phần Lan, Tây Ban Nha, Thụy Điển, Thụy Sĩ… + Các nước đang phát triển: Ấn Độ, Trung Quốc, Đài Loan, Thái Lan, ODA đa phương: là viện trợ chính thức của các tổ chức thuộc hệ thống Liên Hợp Quốc, Liên minh Châu Âu, các tổ chức phi chính phủ (NGOs) và các tổ chức tài chính quốc tế. + Các tổ chức thuộc Liên Hợp Quốc (UN): Hầu hết viện trợ của các tổ chức thuộc hệ thống Liên Hợp Quốc (UNDP, UNESCO, UNICEF, WEP,.) đều được thực hiện dưới hình thức viện trợ không hoàn lại, ưu tiên cho các nước đang phát triển có thu nhập thấp và không ràng buộc về các điều kiện chính trị nặng nề. Viện trợ thường tập trung cho các nhu cầu có tính chất xã hội như xoá đói giảm nghèo, y tế, giáo dục, văn hoá- xã hội, sức khoẻ- dân số, bảo vệ môi trường.
+ Liên minh Châu Âu (EU): 11 z Liên minh Châu Âu là tổ chức có tính chất kinh tế xã hội của 15 nước công nghiệp phát triển ở Châu Âu, EU có quỹ lớn, song chủ yếu ưu tiên viện trợ cho các thuộc địa cũ ở Châu Phi, Nam Thái Bình Dương. Những lĩnh vực mà EU coi trọng là dân số, bảo vệ môi trường, phát triển dịch vụ, phát triển nguồn nhân lực, xoá đói giảm nghèo. + Các tổ chức phi chính phủ (NGOs - Non Governmental Organizations): Trên thế giới hiện có hàng trăm tổ chức NGOs hoạt động theo các tôn chỉ, mục đích khác nhau: nhân đạo, tri thức, y tế, tôn giáo. Các tổ chức phi chính phủ thường có số vốn nhỏ, chủ yếu dựa vào nguồn quyên góp hoặc nhờ sự tài trợ của các chính phủ, thường muốn hoạt động giữa các cá nhân với cá nhân của nước viện trợ và các nước nhận viện trợ.
Quy mô viện trợ thường nhỏ, khả năng cung cấp viện trợ và thực hiện viện trợ thay đổi tuỳ từng thời kỳ nhưng thủ tục viện trợ thường đơn giản, thực hiện lại nhanh. + Các tổ chức tài chính quốc tế: Ngân hàng thế giới (WB - World Bank), Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB - Asian Development Bank), Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF- International Monetary Fund). Phân loại theo điều kiện ODA không ràng buộc: Là việc sử dụng nguồn tài trợ không bị ràng buộc bởi nguồn sử dụng hay mục đích sử dụng. ODA có ràng buộc: + Ràng buộc bởi nguồn sử dụng: Có nghĩa là nguồn ODA được cung cấp dành để mua sắm hàng hoá, trang thiết bị hay dịch vụ chỉ giới hạn cho một số công ty do nước tài trợ sở hữu hoặc kiểm soát (đối với viện trợ song phương), hoặc công ty của các nước thành viên (đối với viện trợ đa phương).
+ Ràng buộc bởi mục đích sử dụng: Nghĩa là nước nhận viện trợ chỉ được cung cấp nguồn vốn ODA với điều kiện là phải sử dụng nguồn vốn này cho những lĩnh vực nhất định hay những dự án cụ thể. 12 z ODA ràng buộc một phần: Nước nhận viện trợ phải dành một phần ODA chi ở nước viện trợ (như mua sắm hàng hoá hay sử dụng các dịch vụ của nước cung cấp ODA), phần còn lại có thể chi ở bất cứ đâu.5 Đặc điểm của ODA 1. Tính ưu đãi của nguồn vốn ODA: - Vốn ODA có thời gian cho vay (hoàn trả vốn), thời gian ân hạn dài.