Phần mở đầu trình bày bối cảnh và tính cần thiết của đề tài, mục tiêu, đối tƣợng nghiên cứu cũng nhƣ phƣơng hƣớng, cách thức và các bƣớc mà tác giả sẽ thực hiện để tìm ra kết quả và các kết luận về bất bình đẳng giới trong thu nhập ở Việt Nam. Chƣơng 1 trình bày tổng quan lý thuyết về giới, bất bình đẳng giới và những tác động của bất bình đẳng giới đến kinh tế xã hội đồng thời trình bày những phƣơng pháp tính toán, phân tích và đánh giá về bất bình đẳng giới trong thu nhập. Phần cuối chƣơng 1 trình bày các kết quả nghiên cứu thực nghiệm về bất bình đẳng giới trong thu nhập đã đƣợc thực hiện trên thế giới và ở Việt Nam. Bằng phƣơng pháp phân tích thống kê mô tả Chƣơng 2 sẽ đƣa ra những đánh giá tổng quan về thực trạng bất bình đẳng giới trong thu nhập ở Việt Nam thông qua 123doc 4 phân tích các số liệu thống kê về dân số, lao động, thu nhập, giáo dục và việc làm… qua đó phân tích các yếu tố ảnh hƣởng đến bất bình đẳng giới trong thu nhập.
Chƣơng 3 trình bày diễn dịch toán học mô hình hồi quy hàm thu nhập Mincer và phƣơng pháp phân tích Oaxaca đồng thời trình bày phƣơng pháp chọn mẫu và cách thức tính toán các biến giải thích. Chƣơng 4 trình bày kết quả ƣớc lƣợng và tính toán các hệ số hồi quy, khoảng cách thu nhập và các hệ số từ mô hình phân tích Oaxaca. Chƣơng 5 kết thúc đề tài bằng việc tóm tắt lại những phát hiện chính của nghiên cứu từ chƣơng 2 đến chƣơng 4. Từ đó tác giả đƣa ra những gợi ý chính sách và hạn chế của đề tài nghiên cứu.
123doc 5 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẤT BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG THU NHẬP Chƣơng 1 trình bày tổng quan lý thuyết về giới, bất bình đẳng giới và những tác động của bất bình đẳng giới đến kinh tế xã hội đồng thời trình bày những phƣơng pháp tính toán, phân tích và đánh giá về bất bình đẳng giới trong thu nhập. Phần cuối chƣơng 1 trình bày các kết quả nghiên cứu thực nghiệm về bất bình đẳng giới trong thu nhập đã đƣợc thực hiện trên thế giới và ở Việt Nam. Bất bình đẳng giới trong thu nhập 1. Một số khái niệm Giới: Là một thuật ngữ xã hội học, nói đến vai trò, trách nhiệm và quan hệ xã hội giữa nam và nữ.
Giới đề cập đến việc phân công lao động, phân chia nguồn lực và lợi ích giữa nam và nữ trong một bối cảnh xã hội cụ thể. Giới đƣợc hình thành qua quá trình học tập và giáo dục, không đồng nhất, khác nhau ở mỗi nƣớc, mỗi địa phƣơng, thay đổi theo thời gian, theo quá trình phát triển kinh tế xã hội2. Lợi ích giới: Là những lợi ích của phụ nữ và nam giới mà khi đƣợc áp dụng sẽ biến đổi thực tế phân công lao động giới theo hƣớng tiến bộ, góp phần nâng cao bình đẳng giới Bình đẳng giới: Theo CEDAW (1978) bình đẳng giới là tình trạng (điều kiện sống, sinh hoạt, làm việc.) mà trong đó phụ nữ và nam giới đƣợc hƣởng vị trí nhƣ nhau, họ có cơ hội bình đẳng để tiếp cận, sử dụng các nguồn lực để mang lại lợi ích cho mình, phát hiện và phát triển tiềm năng của mỗi giới nhằm cống hiến cho sự phát triển của quốc gia và đƣợc hƣởng lợi từ sự phát triển đó. Nhƣ vậy, bất bình đẳng giới hay thuật ngữ "phân biệt đối xử với phụ nữ" có nghĩa là bất kỳ sự phân biệt, loại trừ hay hạn chế nào dựa trên cơ sở giới tính làm ảnh hƣởng hoặc nhằm mục đích làm tổn hại hoặc vô hiệu hoá việc phụ nữ đƣợc công nhận, thụ hƣởng, hay thực hiện các quyền con ngƣời và những tự do cơ bản 2 Bùi Thị Kim (2008) Bình Đẳng Giới, DWC 123doc 6 trong lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá, dân sự và các lĩnh vực khác trên cơ sở bình đẳng nam nữ bất kể tình trạng hôn nhân của họ nhƣ thế nào.
Bất bình đẳng giới trong thu nhập Xét riêng trong lĩnh vực lao động thì sự bất bình đẳng giới thể hiện ở sự phân biệt trong việc tiếp cận các cơ hội, sự phân biệt đối xử trong công việc và nghề nghiệp cũng nhƣ sự phân biệt trong việc thừa hƣởng các thành quả lao động giữa lao động nam và lao động nữ. Đề tài này tập trung nghiên cứu và đi sâu vào vấn đề bất bình đẳng trong việc tiếp cận các cơ hội kinh tế, cụ thể ở đây là bất bình đẳng giới trong thu nhập. Với quan điểm lấy con ngƣời làm trung tâm, bất bình đẳng giới về thu nhập đề cập tới mối quan hệ phân phối thu nhập và giới. Theo đó sự bất bình đẳng giới trong thu nhập là phân biệt trong thu nhập đƣợc hƣởng của lao động nam và lao động nữ mặc dù có cùng các đặc tính năng lực và năng suất lao động nhƣ nhau3 1.
Tác động của bất bình đẳng giới trong thu nhập đối với sự phát triển kinh tế xã hội Theo Ngân hàng Thế Giới (2001), bất bình đẳng giới trong thu nhập vừa là một trong những căn nguyên gây ra nghèo đói vừa là yếu tố cản trở lớn đối với phát triển kinh tế. Ngoài những bất công mà phụ nữ phải chịu do sự bất bình đẳng thì còn có cả những tác động bất lợi đối với gia đình. Thu nhập từ lao động là nguồn lực chủ yếu để ngƣời phụ nữ tái tạo sức lao động không chỉ của bản thân mà còn là nguồn lực đảm bảo chất lƣợng cuộc sống của cả gia đình. Tình trạng bất bình đẳng giới trong thu nhập dẫn đến ngƣời phụ nữ bị hạn chế khả năng tái tạo sức lao động, hạn chế cơ hội tiếp cận với công nghệ, tín dụng, giáo dục và đào tạo cùng với nhiều khó khăn do gánh nặng công việc gia đình, thiếu quyền quyết định trong hộ gia đình là những nguyên nhân làm cho tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh và bà mẹ cao hơn, sức khoẻ gia đình bị ảnh hƣởng và trẻ em ít đƣợc đi học hơn, đặc biệt là trẻ em gái.
The Measurement of Gender Wage Discrimination. The Distributional Approach Revisited 123doc 7 Bên cạnh những cái giá phải trả mang tính cá nhân đó, bất bình đẳng giới trong thu nhập còn làm giảm năng suất trong các nông trại và doanh nghiệp, do đó hạn chế tiềm năng xóa đói giảm nghèo và duy trì tiến bộ kinh tế. Bằng cách cản trở quá trình tích lũy vốn con ngƣời, hạn chế quyền tiếp cận các nguồn lực sản xuất, quyền tham gia vào các hoạt động sản xuất dẫn đến không hiệu quả trong phân bổ các nguồn lực xã hội. Thu nhập thấp hơn nam giới còn là nguyên nhân hạn chế khả năng sáng tạo cũng nhƣ động lực cải tiến và nâng cao năng suất lao động ở ngƣời phụ nữ.
Bình đẳng giới, đặc biệt bình đẳng giới trong thu nhập là mục tiêu hƣớng đến của mọi quốc gia. Bình đẳng giới trong thu nhập cho phép duy trì một xã hội tiến bộ, phồn thịnh và phát triển ổn định, nó thể hiện tính đúng đắn, hiệu quả và cách mạng trong cam kết và thực hiện đƣờng lối cũng nhƣ chính sách của Nhà nƣớc nhằm thực hiện các mục tiêu này. Hay nói cách khác Bất bình đẳng giới trong thu là một trong những nguyên nhân làm suy yếu khả năng quản lý nhà nƣớc của một quốc gia- qua đó đã giảm bớt hiệu lực của các chính sách phát triển. Giải quyết bất bình đẳng giới trong thu nhập là tạo quyền cho phụ nữ bị thiệt thòi và thay đổi các quan hệ và cơ cấu bất bình đẳng.
Phụ nữ và nam giới đƣợc coi là có vị thế bình đẳng nghĩa là để phát huy hết khả năng và thực hiện các nguyện vọng của mình; để tham gia, đóng góp và thụ hƣởng các nguồn lực xã hội và thành quả phát triển; đƣợc bình đẳng trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình. Nhƣ vậy, giải quyết vấn đề này nhằm mục tiêu tiến tới công bằng trong thu nhập để góp phần phát triển kinh tế và phát triển xã hội. Các yếu tố ảnh hƣởng tới bất bình đẳng giới trong thu nhập 1. Yếu tố phi kinh tế Theo Ngân hàng Thế Giới (2001), những quan niệm bất bình đẳng giới hay những định kiến xã hội về giới đang là những cản trở đối với sự phát triển cân bằng giới, quan hệ bình đẳng nam nữ.
Bất bình đẳng giới truyền thống thƣờng xuất phát từ những quan niệm sai lầm và cố hữu về vai trò giới, theo đó nam giới thƣờng tập trung vào vai trò sản xuất, làm kinh tế và có thu nhập nên đƣợc xã hội coi trọng, họ 123doc 8 có quyền tham gia việc ngoài xã hội, thực hiện chức năng sản xuất, gánh vác trách nhiệm và quản lý xã hội, có toàn quyền chỉ huy định đoạt mọi việc lớn trong gia đình. Trong khi phụ nữ đảm nhận vai trò tái sản xuất và cộng đồng, chăm sóc và tái tạo sức lao động, ví dụ nhƣ việc nội trợ, việc chăm sóc con cái, chăm nom ngƣời ốm và các hoạt động cải thiện cộng đồng nhƣ: vệ sinh thôn xóm, đi thăm hỏi, dự các đám cƣới, công tác hòa giải. Đây là các việc "không tên", không tạo ra thu nhập và thƣờng do ngƣời phụ nữ phải đảm nhận và ít đƣợc xã hội đánh giá đúng mức, họ hoàn toàn phụ thuộc vào nam giới, không có bất kỳ quyền định đoạt gì kể cả đối với bản thân. Quan niệm bất bình đẳng giới truyền thống hay định kiến giới qua quá trình xã hội hóa về giới đã có những biến chuyển tích cực hơn song vẫn là rào cản gây khó khăn cho phụ nữ trong tiếp cận công việc, tiếp cận các hoạt động kinh tế- xã hội và là nguyên nhân tạo nên bất bình đẳng giới trong thu nhập.
Các yếu tố kinh tế Nhóm yếu tố đặc điểm ngƣời lao động Nhóm yếu tố đặc điểm của ngƣời lao động gồm những yếu tố liên quan mặt thể chất và giới tính gồm: độ tuổi, tình trạng hôn nhân, sức khoẻ. Bojas (2005)4 qua các bằng chứng thực nghiệm đã cho thấy thu nhập của một ngƣời phụ thuộc vào tuổi tác của ngƣời đó. Tiền lƣơng tƣơng đối thấp đối với ngƣời lao động trẻ, tăng lên khi họ trƣởng thành và tích lũy đƣợc vốn con ngƣời, rồi có thể giảm nhẹ đối với những ngƣời lao động lớn tuổi. Đặc biệt, thu nhập của những lao động nam trẻ thƣờng tăng nhanh hơn thu nhập của ngƣời nữ trẻ.