CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT VỀ THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT VÀ HÀNH TRÌNH ĐỔI MỚI TIỂU THUYẾT CỦA ĐOÀN MINH PHƯỢNG 1. Một số vấn đề lý thuyết về thế giới nghệ thuật 1. Giới thuyết khái niệm Khái niệm “thế giới nghệ thuật” trong sáng tác của các nhà văn có nhiều quan niệm khác nhau. Các tác giả trong Từ điển thuật ngữ văn học quan niệm: “Thế giới nghệ thuật là khái niệm chỉ tính chỉnh thể của sáng tác nghệ thuật (một tác phẩm, một loại hình tác phẩm, sáng tác của tác giả, một trào lưu),… Thế giới nghệ thuật có không gian riêng, thời gian riêng, có quy luật tâm lý riêng, có quan hệ xã hội riêng, quan niệm đạo đức, thang bậc giá trị riêng” [26].
Qua thế giới nghệ thuật, người đọc thấy được tính độc đáo về tư duy nghệ thuật của từng tác giả, tức là thấy được phong cách nghệ thuật và cá tính sáng tạo của người nghệ sĩ: “Khái niệm thế giới nghệ thuật giúp hình dung tính độc đáo về tư duy nghệ thuật của sáng tác nghệ thuật, có cội nguồn trong thế giới quan, văn hoá chung, văn hoá nghệ thuật và cá tính sáng tạo của người nghệ sĩ” [26]. Tác phẩm văn học cũng tái hiện thế giới thực tại, cả vật chất lẫn tinh thần, tự nhiên, đồ vật, con người, tạo thành thế giới nghệ thuật. Tuy là sự phản ánh thế giới khách quan song thế giới nghệ thuật lại không sao chép y nguyên mà vận động dựa trên sự sáng tạo của người cầm bút. Nói cách khác, thế giới nghệ thuật chính là sự phản ánh hiện thực bằng cảm hứng sáng tác, phong cách nghệ thuật với những xúc cảm thẫm mỹ của người nghệ sĩ bằng chất liệu ngôn từ.
Từ những quan niệm trên, ta có thể hiểu thế giới nghệ thuật chính là sự thống nhất của các yếu tố: đề tài, chủ đề, nhân vật, hình tượng không gian, thời gian, kết cấu, ngôn ngữ,… trong một tác phẩm văn học. Tất cả những yếu tố này đã tạo nên một thế giới nghệ thuật trong sáng tác của nhà văn. Đây là cơ sở lý thuyết, lý luận để chúng tôi vận dụng trong quá trình nghiên cứu thế giới nghệ thuật tiểu thuyết Đốt cỏ ngày đồng của Đoàn Minh Phượng. Các yếu tố cơ bản trong thế giới nghệ thuật của tác phẩm văn học Một trong những yếu tố cốt lõi trong thế giới nghệ thuật của tác phẩm chính là nhân vật.
Nhân vật được xem là linh hồn, là yếu tố quan trọng để kiến tạo ý nghĩa 9 của tác phẩm. Nhân vật thể hiện “quan niệm nghệ thuật và lý tưởng thẩm mỹ của nhà văn về con người” [26, tr. 203], qua sáng tác của nhà văn. Theo Từ điển thuật ngữ văn học thì nhân vật văn học được hiểu là: “Con người cụ thể được miêu tả trong tác phẩm văn học.
Nhân vật văn học có thể có tên riêng (…) cũng có thể không có tên riêng (…). Khái niệm nhân vật văn học có khi được sử dụng như một ẩn dụ, không chỉ một con người cụ thể nào cả, mà chỉ một hiện tượng nổi bật nào đó trong tác phẩm” [26, tr. Trong bất kì thể loại văn học nào, nhân vật đều có vai trò tiên quyết, không thể phủ nhận. Nhân vật là sự phản ánh trực tiếp đối tượng mà nhà văn hướng đến.
Nhân vật là hình thức cơ bản để từ đó văn học miêu tả thế giới một cách hình tượng. Việc miêu tả con người, khai thác hành vi, tính cách, trạng thái tinh thần là điều mà mỗi tác giả luôn muốn gieo nhặt vào trong tác phẩm của mình. Thông qua nhân vật, nhà văn tái hiện bức tranh hiện thực đời sống, từ đó khái quát lên thành ý đồ nghệ thuật của mình. Điều đó cũng có ý nghĩa rằng những hình tượng nhân vật sống động trong tác phẩm bao giờ cũng chứa đựng những quan niệm của nhà văn về cuộc sống, về con người.
Xuất phát từ thực tế đời sống, song nhân vật trong các tác phẩm văn học không phải là bản sao của con người trong xã hội. Qua phương thức xử lí của nhà văn, nhân vật trở thành những hình tượng mang ý đồ nghệ thuật của tác giả. Mặt khác, nhân vật trong văn học còn phản ánh năng lực sáng tạo của nhà văn. Chính điều này đã tạo nên thành công trong sáng tác của người cầm bút.
Thế giới nghệ thuật tác phẩm được hoàn chỉnh khi đặt trong không gian và thời gian nghệ thuật. Không gian nghệ thuật là hình thức tồn tại của thế giới nghệ thuật, không có hình tượng nào nằm ngoài không gian và không có nhân vật được tái hiện nếu nằm ngoài nền cảnh. Không gian nghệ thuật không đơn thuần là tái hiện thực tại bằng cảnh vật, nơi chốn, khung hình để nhân vật được hành động, bộc lộ tính cách, suy tư,. mà nó còn chuyên chở quan niệm nghệ thuật của nhà văn dựa trên cơ sở văn hoá.
Mỗi tác giả đều có cách thức xây dựng và kiến tạo không gian nghệ thuật rất riêng. Tuỳ thuộc vào sở trường cũng như cá tính sáng tạo, mỗi nhà văn thường tạo dựng những không gian phong phú, đa dạng mang cảm nhận riêng của mình về con người và thế giới. Lotman, không gian nghệ thuật là một phương tiện biểu nghĩa, một ngôn ngữ [34]. Theo Trần Đình Sử, không gian nghệ thuật “là một mô hình thế giới gồm sự tổ hợp của các tiểu không gian đối lập nhau về tính chất, ý nghĩa và giữa chúng có các đường ranh giới.
Sự dịch chuyển (hay không) của nhân 10 vật qua ranh giới là phương thức tạo nghĩa của tác phẩm văn học” [60]. Chính vì vậy ngoài không gian vật lí, xuất hiện dưới sự quan sát của nhân vật và ngòi bút miêu tả của nhà văn, chúng ta còn cần chú ý đến không gian tâm tưởng. Đó là không gian diễn ra bên trong tâm hồn nhân vật. Nó giúp ta thấu hiểu thêm những ẩn ức trong tâm thức của nhân vật.
Giữa không gian vật lí và không gian tâm tưởng có mối quan hệ tác động và chi phối lẫn nhau. Mượn không gian vật lí, tác giả lí giải góc nhìn thực tại của nhân vật, những tri nhận của nhân vật về thực tế cuộc sống. Mượn không gian tâm tưởng, tác giả đi vào khai thác thế giới nội tâm của nhân vật trong dòng chảy kí ức. Mỗi không gian đều tái thiết một phương diện khác biệt về đời sống tinh thần của nhân vật.
Mặt khác, không gian nghệ thuật còn chuyên chở những đặc trưng về văn hoá, xã hội, lịch sử,… gắn với thế giới quan của tác giả. Không gian mà nhân vật bước qua chính là không gian hiện hữu trong tâm thức của nhà văn. Cũng như không gian nghệ thuật, thời gian nghệ thuật là hình thức bên trong của hình tượng nghệ thuật thể hiện tính chỉnh thế của nó. Thời gian nghệ thuật không phải là thời gian khách quan vận động theo một chiều tuyến tính mà là thời gian được nhào nặn và sáng tạo để trở thành hình tượng nghệ thuật, phù hợp với quan niệm nghệ thuật của nhà văn về con người và thế giới.
Trong tác phẩm văn học, thời gian có lúc chuyển động nhanh, có lúc chậm, có lúc liền mạch lại có lúc đứt quãng. Thời gian được sáng tạo một cách linh hoạt có thể đảo lộn trật tự bằng việc đan xen, nối kết giữa quá khứ, hiện tại và tương lai. Điều này phụ thuộc vào quá trình xử lí của tác giả để thai nghén cho hình tượng nhân vật bộc lộ những quy luật tâm lý của nhân vật hoặc theo trục hồi ức, liên tưởng của người kể chuyện. Nhận xét về mối quan hệ giữa không gian và thời gian nghệ thuật trong chỉnh thể tác phẩm, Trần Đình Sử cho rằng: không gian và thời gian nghệ thuật là hình thức tự nhiên của thế giới nghệ thuật trong tác phẩm [60].
Có thể thấy, trong thế giới nghệ thuật tác phẩm, không gian và thời gian nghệ thuật có mối tương quan chặt chẽ, mật thiết. Đây là hai yếu tố không tách rời mà cộng hưởng trong một chỉnh thể thống nhất là tác phẩm nghệ thuật ngôn từ. Nghiên cứu cấu trúc tự sự không thể bỏ qua bộ phận quan trọng là cấu trúc không - thời gian. Không - thời gian nghệ thuật chính là hình thức nghệ thuật mang tính nội dung của tác phẩm, như tác giả Lại Nguyên Ân đã nêu trong cuốn “150 thuật ngữ văn học”: “Hình tượng văn học, về mặt hình thức, được khai triển trong thời gian (tính tuần tự của văn bản), về mặt nội dung nó tái tạo bức tranh vừa không gian vừa thời gian về thế giới, hơn nữa, lại tái tạo ở bình diện giá 11 trị tư tưởng - tượng trưng của bức tranh ấy” [11, tr.
Không thời gian nghệ thuật có giá trị quan trọng đối với chủ đề của tác phẩm. “Nó là những trung tâm tổ chức những biến cố chính chứa đựng trong tác phẩm. Những nút thắt, mở trong tiểu thuyết, đều nằm trong thời không gian, cho nên nó là đầu não của chủ đề, là nơi xảy ra những màn chính, nó là sự vật chất hoá thời gian trong không gian, nó hiện ra như một trung tâm cụ thể hoá hình ảnh, nó là hiện thân của toàn thể cuốn tiểu thuyết” [11, tr.Gorki “Ngôn ngữ là yếu tố thứ nhất”. Với quan niệm cho rằng tác phẩm văn học là “trò chơi” con chữ, ngôn ngữ đóng vai trò quan trọng trong việc biểu đạt mọi bình diện của văn học.
Mặt khác, sáng tạo ngôn ngữ là một quá trình kiến tạo nên những giá trị mới cho văn chương. Ngôn ngữ văn học vừa là điều kiện vừa là công cụ thể hiện kết quả của sự vận động và phát triển của văn học. Qua đó phản ánh một cách rõ nét sự biến đổi của đời sống văn hoá xã hội, của tư duy và các quan niệm thẩm mĩ. Trong tiến trình vận động và đổi mới của văn học, ngôn ngữ là yếu tố được chú trọng.
Ngôn ngữ tiểu thuyết đến gần hơn với bạn đọc bởi nhà văn đã đưa ngôn ngữ đời sống, lời ăn tiếng nói hằng ngày vào văn chương. Mượn ngôn ngữ để diễn tả thế giới bên trong của con người. Chú trọng vào hiện thực tinh thần của nhân vật, nhà văn đã tổ chức ngôn ngữ đối thoại và ngôn ngữ độc thoại nội tâm để truyền tải trực tiếp những bạo động trong thế giới tâm hồn con người. Sự sắp đặt và tổ chức các yếu tố nhân vật, không gian, thời gian, ngôn từ trong tác phẩm,… chính là kết cấu.
Từ điển văn học (bộ mới) định nghĩa: “Thuật ngữ chỉ sự sắp xếp, phân bố các thành phần hình thức nghệ thuật - tức là sự cấu tạo tác phẩm, tùy theo nội dung và thể tài gọi là kết cấu.