Đặng thị hồng mai phân tích mối tương quan giữa bệnh nhân mắc covid 19 đã được tiêm phòng vắc xin covid 19 và chưa được tiêm phòng về các triệu chứng lâm sàng cận lâm sàng khoá luận tốt nghiệp dược sĩ

Chuyên khảo y tế phân tích Đặng thị hồng mai phân tích mối tương quan giữa bệnh nhân mắc covid 19 đã được tiêm phòng vắc xin, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng

Chuyên ngành

Dược sĩ

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2022

85
3
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

1. MỤC LỤC

1.1. DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

1.2. DANH MỤC CÁC BẢNG

1.3. DANH MỤC CÁC HÌNH MINH HỌA

1.4. ĐẶT VẤN ĐỀ

1.4.1. Tổng quan về bệnh COVID-19

1.4.1.1. Dịch tễ học
1.4.1.2. Vi-rút SARS-CoV-2 và các biến thể của vi-rút SARS-CoV-2
1.4.1.3. Triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng
1.4.1.4. Chẩn đoán và phân loại mức độ
1.4.1.5. Tổng quan về vắc-xin phòng ngừa và thuốc điều trị COVID-19
1.4.1.5.1. Vắc-xin phòng ngừa COVID-19
1.4.1.5.2. Thuốc điều trị COVID-19

1.4.2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1.4.2.1. Đối tượng nghiên cứu. Tiêu chuẩn lựa chọn
1.4.2.2. Tiêu chuẩn loại trừ
1.4.2.3. Thời gian và địa điểm nghiên cứu
1.4.2.4. Phương pháp nghiên cứu
1.4.2.4.1. Thiết kế nghiên cứu
1.4.2.4.2. Quy trình lấy mẫu
1.4.2.4.3. Nội dung nghiên cứu
1.4.2.4.4. Quy ước trong nghiên cứu
1.4.2.4.5. Phương pháp xử lí số liệu
1.4.2.4.6. Đạo đức trong nghiên cứu

1.4.3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

1.4.3.1. Đặc điểm điều trị của bệnh nhân COVID-19 tại cơ sở thu dung, điều trị COVID-19 tầng 1 của Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn
1.4.3.2. Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu
1.4.3.3. Đặc điểm triệu chứng lâm sàng của bệnh nhân COVID-19
1.4.3.4. Đặc điểm chỉ số cận lâm sàng của bệnh nhân COVID-19
1.4.3.5. Đặc điểm sử dụng thuốc trên bệnh nhân COVID-19
1.4.3.6. Mối liên quan giữa bệnh nhân mắc COVID-19 đã được tiêm phòng vắc-xin và chưa được tiêm phòng về các triệu chứng lâm sàng, cận lâm sàng tại cơ sở thu dung, điều trị COVID-19 tầng 1 của Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn
1.4.3.6.1. Mối liên quan giữa bệnh nhân COVID-19 đã được tiêm vắc-xin so với bệnh nhân chưa được tiêm vắc-xin về triệu chứng lâm sàng
1.4.3.6.2. Mối liên quan giữa bệnh nhân COVID-19 đã được tiêm vắc-xin so với bệnh nhân chưa được tiêm vắc-xin về chỉ số cận lâm sàng
1.4.3.6.3. Mối liên quan giữa bệnh nhân COVID-19 đã được tiêm vắc-xin và chưa được tiêm vắc-xin với nguy cơ chuyển nặng
1.4.3.7. Bàn luận về đặc điểm điều trị bệnh nhân COVID-19 tại cơ sở thu dung, điều trị COVID-19 tầng 1 của Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn
1.4.3.7.1. Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu
1.4.3.7.2. Đặc điểm triệu chứng lâm sàng của bệnh nhân COVID-19
1.4.3.7.3. Đặc điểm chỉ số cận lâm sàng của bệnh nhân COVID-19
1.4.3.7.4. Bàn luận về mối liên quan giữa bệnh nhân COVID-19 đã được tiêm chủng vắc-xin và chưa được tiêm phòng về các triệu chứng lâm sàng, cận lâm sàng
1.4.3.7.4.1. Mối liên quan giữa bệnh nhân COVID-19 đã được tiêm so với bệnh nhân chưa được tiêm vắc-xin về triệu chứng lâm sàng
1.4.3.7.4.2. Mối liên quan giữa bệnh nhân COVID-19 đã được tiêm so với bệnh nhân chưa được tiêm vắc-xin về chỉ số cận lâm sàng
1.4.3.7.4.3. Mối liên quan giữa bệnh nhân COVID-19 đã được tiêm vắc-xin và chưa được tiêm vắc-xin với nguy cơ chuyển nặng
1.4.3.8. Ưu điểm và hạn chế của nghiên cứu
1.4.3.8.1. Ưu điểm của nghiên cứu
1.4.3.8.2. Một số hạn chế của nghiên cứu

1.4.4. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT

1.4.5. TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.4.6. PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Mối Tương Quan Giữa Bệnh Nhân COVID 19 Đã Tiêm Vắc Xin

Bệnh COVID-19, do vi-rút SARS-CoV-2 gây ra, đã trở thành một trong những thách thức lớn nhất đối với sức khỏe cộng đồng toàn cầu. Việc tiêm vắc xin COVID-19 đã được chứng minh là một biện pháp hiệu quả trong việc giảm tỷ lệ mắc bệnh và tử vong. Tuy nhiên, mối tương quan giữa bệnh nhân đã tiêm vắc xin và chưa tiêm vắc xin vẫn cần được nghiên cứu sâu hơn. Nghiên cứu này nhằm phân tích các triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng giữa hai nhóm bệnh nhân này.

1.1. Đặc Điểm Bệnh Nhân COVID 19 Đã Tiêm Vắc Xin

Bệnh nhân đã tiêm vắc xin COVID-19 thường có triệu chứng nhẹ hơn so với những người chưa tiêm. Nghiên cứu cho thấy rằng tỷ lệ bệnh nhân không có triệu chứng cao hơn ở nhóm đã tiêm vắc xin. Điều này cho thấy vắc xin có tác dụng bảo vệ đáng kể.

1.2. Đặc Điểm Bệnh Nhân COVID 19 Chưa Tiêm Vắc Xin

Người chưa tiêm vắc xin có nguy cơ mắc bệnh nặng cao hơn. Các triệu chứng như khó thở, sốt cao và đau ngực thường gặp hơn ở nhóm này. Việc không tiêm vắc xin làm tăng khả năng nhập viện và tử vong.

II. Vấn Đề Về Tình Trạng Sức Khỏe Của Bệnh Nhân COVID 19

Tình trạng sức khỏe của bệnh nhân COVID-19 có thể bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố, bao gồm tình trạng tiêm chủng. Việc phân tích mối tương quan giữa bệnh nhân đã tiêm và chưa tiêm vắc xin là cần thiết để hiểu rõ hơn về tác động của vắc xin đối với sức khỏe.

2.1. Tác Động Của Vắc Xin Đến Triệu Chứng Lâm Sàng

Nghiên cứu cho thấy rằng bệnh nhân đã tiêm vắc xin có triệu chứng nhẹ hơn, ít phải nhập viện hơn. Điều này cho thấy vắc xin có thể làm giảm mức độ nghiêm trọng của bệnh.

2.2. Nguy Cơ Chuyển Nặng Ở Bệnh Nhân Chưa Tiêm Vắc Xin

Bệnh nhân chưa tiêm vắc xin có nguy cơ chuyển nặng cao hơn. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng tỷ lệ nhập viện và tử vong ở nhóm này cao hơn nhiều so với nhóm đã tiêm vắc xin.

III. Phương Pháp Nghiên Cứu Mối Tương Quan Giữa Hai Nhóm Bệnh Nhân

Nghiên cứu này sử dụng phương pháp phân tích hồi quy để đánh giá mối tương quan giữa bệnh nhân đã tiêm và chưa tiêm vắc xin. Dữ liệu được thu thập từ Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn, nơi điều trị cho bệnh nhân COVID-19.

3.1. Thiết Kế Nghiên Cứu

Nghiên cứu được thiết kế theo phương pháp hồi cứu, phân tích dữ liệu từ bệnh nhân COVID-19 đã được điều trị tại bệnh viện. Các triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng được ghi nhận và phân tích.

3.2. Quy Trình Lấy Mẫu

Quy trình lấy mẫu bao gồm việc thu thập thông tin từ bệnh nhân, bao gồm tình trạng tiêm vắc xin, triệu chứng lâm sàng và kết quả xét nghiệm cận lâm sàng.

IV. Kết Quả Nghiên Cứu Về Mối Tương Quan Giữa Hai Nhóm Bệnh Nhân

Kết quả nghiên cứu cho thấy có sự khác biệt rõ rệt giữa bệnh nhân đã tiêm và chưa tiêm vắc xin. Những bệnh nhân đã tiêm vắc xin có triệu chứng nhẹ hơn và ít có nguy cơ chuyển nặng hơn.

4.1. So Sánh Triệu Chứng Lâm Sàng

Bệnh nhân đã tiêm vắc xin có tỷ lệ triệu chứng nhẹ cao hơn, trong khi bệnh nhân chưa tiêm có nhiều triệu chứng nghiêm trọng hơn. Điều này cho thấy hiệu quả của vắc xin trong việc giảm triệu chứng.

4.2. So Sánh Kết Quả Cận Lâm Sàng

Kết quả cận lâm sàng cho thấy bệnh nhân đã tiêm vắc xin có chỉ số SpO2 cao hơn và ít có tổn thương phổi hơn so với nhóm chưa tiêm. Điều này khẳng định vai trò của vắc xin trong việc bảo vệ sức khỏe.

V. Kết Luận Về Mối Tương Quan Giữa Bệnh Nhân COVID 19 Đã Tiêm Vắc Xin và Chưa Tiêm

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc tiêm vắc xin COVID-19 có tác động tích cực đến tình trạng sức khỏe của bệnh nhân. Bệnh nhân đã tiêm vắc xin có triệu chứng nhẹ hơn và ít có nguy cơ chuyển nặng hơn.

5.1. Tương Lai Của Nghiên Cứu Về COVID 19

Nghiên cứu này mở ra hướng đi mới cho các nghiên cứu tiếp theo về hiệu quả của vắc xin và các biện pháp phòng ngừa khác trong việc kiểm soát dịch bệnh.

5.2. Đề Xuất Chính Sách Tiêm Vắc Xin

Cần có chính sách tiêm vắc xin mạnh mẽ hơn để bảo vệ sức khỏe cộng đồng. Việc nâng cao nhận thức về lợi ích của vắc xin là rất cần thiết.

14/08/2025
Đặng thị hồng mai phân tích mối tương quan giữa bệnh nhân mắc covid 19 đã được tiêm phòng vắc xin covid 19 và chưa được tiêm phòng về các triệu chứng lâm sàng cận lâm sàng khoá luận tốt nghiệp dược sĩ

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ COVID-19 là một bệnh truyền nhiễm do vi-rút SARS-CoV-2 gây ra. Các trường hợp đầu tiên xuất hiện tại thành phố Vũ Hán, tỉnh Hồ Bắc Trung Quốc, vào cuối tháng 12 năm 2019. Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã chính thức công nhận COVID-19 là đại dịch vào ngày 11 tháng 3 năm 2020. Sự lây lan nhanh chóng của vi-rút đã gây ra những hậu quả to lớn về xã hội, kinh tế và sức khỏe, và buộc các quốc gia phải áp dụng các biện pháp giãn cách xã hội đặc biệt để ngăn chặn sự lan tràn, cũng như cấu trúc lại hệ thống chăm sóc sức khỏe.

Tính đến tháng 2 năm 2022, tổng số ca nhiễm COVID-19 trên toàn thế giới đã lên tới 418 triệu người và số ca tử vong là 5,8 triệu người [73]. Ở tại Việ ṭ Nam tính đến tháng 2 năm 2022 đã có 2,36 triệu ca nhiệ̂̃m và có trên 38000 ca tử vong do COVID-19, đứng thứ 34/225 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong khi với tỷ lệ số ca nhiễm/ 1 triệu dân, Việt Nam đứng thứ 145/225 quốc gia và vùng lãnh thổ (bình quân cứ 1 triệu người có 23889 ca nhiễm) [63]. Trong đó đợt dịch lần thứ tư (từ ngày 27/4/2021) đã gây những hậu quả nghiêm trọng trên toàn đất nước. Các biểu hiện lâm sàng thường gặp ở COVID-19 rất giống với bệnh cúm mùa với các triệu chứng phổ biến như: sốt, nhức đầu, khó thở, ho, đau cơ và mệt mỏi.

Mức độ bệnh ở hầu hết những người mắc bệnh là không triệu chứng, mức độ nhẹ đến trung bình. Trong khi những bệnh nhân có các triệu chứng nghiêm trọng như: khó thở, đau ngực và mất khả năng nói hoặc cử động cần được chăm sóc y tế khẩn cấp [63]. Hiện nay, vắc-xin được xem như là biện pháp tốt nhất để kiểm soát đại dịch COVID-19. Tại Mỹ, vắc-xin COVID-19 mRNA bao gồm BNT162b2 (vắc-xin Pfizer- BioNTech) và mRNA-1273 (vắc-xin Moderna) và vắc-xin vector adenovirus COVID- 19 Ad26.

Ở nước ta, Bộ Y tế đã cấp phép sử dụng khẩn cấp cho 9 loại vắc-xin bao gồm: AstraZeneca, Gam-COVID-Vac (tên khác là SPUTNIK V), Vero Cell, Comirnaty của Pfizer/BioNTech, Spikevax (tên khác là Moderna), Janssen, Hayat-Vax, Abdala và Covaxin. Tính đến đầu tháng 2/2022 số mũi vắc-xin đã tiêm trên toàn quốc là hơn 183 triệu mũi, tỉ lệ tiêm phủ đạt trên 90% [62]. Vắc-xin COVID-19 cho thấy hiệu quả tốt trong các thử nghiệm lâm sàng và hiệu quả trong dữ liệu thực tế, một nghiên cứu trên 5,6 triệu người lớn đã tiêm đủ liều vắc- xin COVID-19 tại New York cho thấy hiệu quả vắc-xin trong giảm tỷ lệ nhập viện là trên 80% [47]. Ngoài ra một nghiên cứu tổng quan hệ thống đánh giá hiệu quả thực tế của vắc-xin cũng ghi nhận hiệu quả chống lại nhiễm COVID-19, nhập viện liên quan đến COVID-19, nhập viện vào ICU và tử vong lần lượt là 89,1%, 97,2%, 97,4% và 99,0% [60].

Có rất nhiều nghiên cứu trên thế giới cho thấy vắc-xin làm giảm mắc 1 COVID-19 mức độ nặng và giảm tỷ lệ tử vong, tuy nhiên một số người đã tiêm chủng nhưng vẫn có thể bị nhiễm SARS-CoV-2; các triệu chứng ở người đã được tiêm vắc-xin ít xuất hiện hơn có sự khác biệt so với người chưa được tiêm vắc-xin [24], [36]. Tại Việt Nam hiện chưa có nghiên cứu nào phân tích mối tương quan của người nhiễm COVID- 19 đã tiêm so với người chưa tiêm vắc-xin về các triệu chứng lâm sàng, cận lâm sàng. Theo các công văn số 411/QĐ-BYT năm 2021 của Bộ Y tế và 4093/QĐ-UBND Thành phố Hà Nội đã quyết định thành lập các cơ sở thu dung, điều trị COVID-19 theo ba tầng, trong đó tầng một là cơ sơ thu dung, điều trị COVID-19 không triệu chứng và mức độ nhẹ. Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn được Sở Y tế Hà Nội giao phụ trách cơ sở thu dung và điều trị các bệnh nhân COVID-19 tầng 1 tại Khu kí túc xá Phenikaa với các bệnh nhân có triệu chứng nhẹ và không triệu chứng, giai đoạn thực hiện từ tháng 11/2021- thời điểm tại Hà Nội dịch bắt đầu bùng phát và chưa có đủ vắc-xin để thực hiện tiêm chủng mở rộng.

Trên cơ sở đó, nhóm nghiên cứu tiến hành thực hiện đề tài: “Phân tích mối tương quan giữa bệnh nhân mắc COVID-19 đã được tiêm phòng vắc-xin COVID- 19 và chưa được tiêm phòng về các triệu chứng lâm sàng, cận lâm sàng” nhằm hai mục tiêu: 1. Mô tả đặc điểm điều trị bệnh nhân COVID-19 tại cơ sở thu dung, điều trị COVID- 19 tầng 1 của Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn. Phân tích mối liên quan giữa bệnh nhân mắc COVID-19 đã được tiêm phòng vắc-xin và chưa được tiêm phòng về các triệu chứng lâm sàng, cận lâm sàng tại cơ sở thu dung, điều trị COVID-19 tầng 1 của Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn. Tổng quan về bệnh COVID-19 1.

Dịch tễ học 1. Nguồn lây nhiễm Các nguồn lây nhiễm của COVID-19 là vật chủ động vật và người bị nhiễm bệnh. Dơi được coi là vật chủ ban đầu có khả năng nhất của COVID-19, trong khi đó tê tê có thể là vật chủ trung gian. Tương tự như vậy, cả bệnh nhân có triệu chứng và không có triệu chứng đều là những nguồn truyền nhiễm bệnh [7], [52].

SARS-CoV-2 là vi-rút gây bệnh COVID-19 và sự tương đồng về trình tự gen của vi-rút này với β-coronavirus được phân lập từ các loài dơi có thể lên tới 89,0 - 96,2%; điều này cho thấy SARS-CoV-2 có thể có nguồn gốc từ một loài coronavirus tiền thân là dơi. Trong khi đó tê tê cũng được coi là loại động vật có khả năng làm vật chủ trung gian lây nhiễm bệnh. Một nhóm nghiên cứu từ Đại học Nông nghiệp Nam Trung Quốc đã xác định được một chủng coronavirus từ tê tê, có 99% tương đồng trình tự gen với SARS-CoV-2 [7], [52]. Với việc đóng cửa chợ hải sản Huanan và các chợ buôn bán động vật ở hầu hết các khu vực của Trung Quốc, động vật hoang dã đã không còn là nguồn lây nhiễm chính.

Đối tượng người bị nhiễm SARS-CoV-2 hiện đang là nguồn lây nhiễm chính. Đặc biệt, bệnh nhân không có triệu chứng tạo thành một nguồn lây nhiễm khó có thể xác định và không thể khoanh vùng kịp thời điều này làm cho vi-rút càng lây lan rộng hơn [7], [52]. Đường lây nhiễm Lây truyền trực tiếp qua đường hô hấp từ người sang người là phương tiện lây truyền chính của COVID-19. Có ba cách chính mà COVID-19 có thể lây lan bao gồm [15]: - Hít thở không khí mang theo các giọt bắn hoặc các hạt aerosol có chứa vi-rút SARS-CoV-2 khi ở gần người bị nhiễm bệnh hoặc trong không gian thông gió kém với người bị nhiễm bệnh.

- Các giọt và hạt có chứa vi-rút SARS-CoV-2 rơi vào mắt, mũi hoặc miệng đặc biệt là thông qua các giọt bắn do ho hoặc hắt hơi. -Chạm vào mắt, mũi hoặc miệng bằng tay có các hạt vi-rút SARS-CoV-2 có ở trên đó. Các giọt bắn có chứa vi-rút SARS-CoV-2 được giải phóng khi người mắc COVID-19 hắt hơi, ho hoặc nói chuyện. Các giọt lây nhiễm có thể rơi vào miệng hoặc mũi của những người ở gần hoặc có thể được hít vào phổi.

Khoảng cách tối thiểu khi tiếp xúc để tránh nhiễm COVID-19 được WHO khuyến cáo là 1 mét, trong khi CDC khuyến cáo duy trì khoảng cách tối thiểu là 1,8 mét [15]. 3 Các giọt bắn chứa vi-rút có thể rơi xuống tay, đồ vật hoặc bề mặt xung quanh người khi họ ho hoặc nói chuyện, và mọi người sau đó có thể bị nhiễm COVID-19 do chạm tay vào đồ vật hoặc bề mặt có giọt bắn, sau đó chạm vào mắt, mũi hoặc miệng của mình. Ngoài ra, lây truyền có thể xảy ra từ những người có triệu chứng nhẹ hoặc từ những người không có triệu chứng bệnh [15]. Một số trường hợp nhất định có thể làm tăng nguy cơ lây nhiễm COVID-19 như không gian thông gió kém do trong không gian kín thông gió kém, nồng độ các hạt vi- rút thường cao hơn ngoài trời.

Các yếu tố khác có liên quan đến tăng nguy cơ COVID- 19 bao gồm thời gian tiếp xúc dài với những người bị nhiễm COVID-19, tiếp xúc gần với người bị nhiễm bệnh và bất kỳ hoạt động nào khác dẫn đến tiếp xúc với một lượng lớn các giọt và hạt hô hấp có chứa vi-rút [15]. Vi-rút SARS-CoV-2 và các biến thể của vi-rút SARS-CoV-2 Từ tháng 02/2020 Ủy ban quốc tế về phân loại vi-rút chính thức đặt tên cho vi- rút gây ra dịch bệnh COVID-19 là SARS-CoV-2 [34]. SARS-CoV-2 là một vi-rút thuộc họ Coronaviridae (phân họ Coronavirinae) thuộc bộ Nidovirales. Đặc điểm nổi bật nhất của vi-rút corona là các protein có bề mặt lồi ra thành các gai glycoprotein bao quanh bộ gen.

Bên trong vỏ của virion là nucleocapsid sợi đơn dương đối xứng xoắn ốc. Bộ gen mã hóa 4 protein cấu trúc chính là: protein spike (S), màng (M), vỏ (E) và nucleocapsid (N). Ngoài 4 protein chính trên, vi-rút còn có protein hemagglutinin-esterase (HE) [7], [52], [67]. Giống như các vi-rút RNA khác, SARS-CoV-2 liên tục tiến hóa thông qua các đột biến ngẫu nhiên.

Các đột biến mới có khả năng làm tăng hoặc giảm khả năng lây nhiễm và độc lực của vi-rút. Ngoài ra, đột biến có thể làm tăng khả năng của vi-rút để tránh các phản ứng miễn dịch có được từ việc nhiễm SARS-CoV-2 trong quá khứ hoặc tiêm chủng. Điều này có thể làm tăng nguy cơ tái nhiễm hoặc giảm hiệu quả của vắc- xin. Có bằng chứng cho thấy một số biến thể SARS-CoV-2 đã làm giảm tính nhạy cảm với huyết tương từ những người trước đó đã bị nhiễm hoặc tiêm chủng, cũng như một số kháng thể đơn dòng đang được xem xét để phòng ngừa và điều trị COVID-19 [43], [72].

Kể từ tháng 12/ 2020, một số biến thể đã được WHO gọi tên theo các chữ cái của Hy Lạp. Các biến thể SARS-CoV-2 được xác định là biến thể đáng lo ngại (VOC) nếu chúng có một số đặc điểm nhất định, chẳng hạn như tăng khả năng lây truyền hoặc thay đổi độc lực của vi-rút [43]. Các biến thể đáng lo ngại của COVID-19 [39], [43], [65] Tên gọi Nơi phát theo hiện đầu Các đặc tính đã biết WHO tiên + Tăng khả năng lây truyền cao hơn khoảng 50-75% và tăng mức độ nặng dựa trên tỷ lệ nhập viện và tử vong so với loại vi-rút hoang dại. + Ảnh hưởng lên tính trung hòa của các kháng thể đơn dòng Alpha Vương ở mức độ tối thiểu.7) quốc Anh - Bamlanivimab-etesevimab: Không thay đổi độ nhạy cảm - Casirivimab-imdevimab: Không thay đổi độ nhạy cảm - Sotrovimab: Không thay đổi độ nhạy cảm.

+ Ảnh hưởng lên tính trung hòa của huyết thanh phục hồi sau nhiễm COVID-19 và sau tiêm chủng mức độ tối thiểu.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ