chương 1 thì chương 2 sẽ là chương giới thiệu về khái niệm lý thuyết của các yếu tố quan trọng của nghiên cứu như Trí tuệ cảm xúc, Hiệu quả công việc và mối quan hệ. Chương 2 còn giới thiệu mô hình nghiên cứu của các tác giả trước.1 Trí tuệ cảm xúc 2.1 Khái niệm trí tuệ cảm xúc Những nghiên cứu và định nghĩa về trí tuệ cảm xúc đã xuất hiện rất sớm từ những năm 1990. Năm 1983, trong cuốn sách Những cơ cấu của nhận thức: Lý thuyết về thông minh bội (Frames of Mind: The Theory of Multiple Intelligences) của Howard Gardner đã giới thiệu ý tưởng về những thông minh bội mà trong đó bao gồm “Trí tuệ giữa các cá nhân” (khả năng hiểu những ý định, động cơ và mong muốn của người khác) và “Trí tuệ trong cá nhân” (khả năng hiểu ai đó, tán đồng cảm nhận của người đó, cảm giác sợ hãi và động cơ thúc đẩy). Wayne Payne là người đầu tiên sử dụng thuật ngữ Trí tuệ xúc cảm trong luận văn tiến sỹ của ông với đề tài "Nghiên cứu về xúc cảm: Phát triển trí tuệ xúc cảm" vào năm 1985.
Những định nghĩa tương tự cũng xuất hiện sau đó từ các nhà nghiên cứu, nhà tâm lý học như Greenspan (1989), Salovey và Mayer (1990), Goleman (2004), Bar-on (1997), Leuner (1996) …và rất nhiều định nghĩa khác nhau từ các nhà nghiên cứu trên thế giới cho đến ngày nay. Mỗi nhà nghiên cứu, tâm lý học đã đưa ra những quan điểm và tranh luận khác nhau về thuật ngữ trí tuệ cảm xúc. Đầu tiên là định nghĩa từ hai nhà tâm lý học Mỹ, Salovey và Mayer (1990), họ cho rằng trí tuệ cảm xúc là “khả năng giám sát cảm giác và xúc cảm của một người nào đó và những người khác, phân biệt giữa chúng và sử dụng thông tin này để dẫn dắt suy nghĩ và hành động của người đó”. Hay nói cách khác theo Salovey và Mayer (1990) thì một người có trí tuệ cảm xúc sẽ hiểu và thể hiện cảm xúc của mình, biết những cảm xúc khác, kiểm soát hiệu quả và sử dụng tâm trạng và cảm giác để thúc đẩy hành vi thích hợp.
Đến năm 2004, Goleman, tiến sĩ tâm lý học của đại học Harvard đã nêu quan điểm của mình về trí tuệ cảm 8 xúc thông quan quyển sách “Trí tuệ cảm xúc: Tại sao có thể quan trọng hơn IQ”. Goleman (2004) đã xác định trí tuẹ̛ cảm xúc là sự hiểu rõ cảm xúc bản tha̛n, có sự đồng cảm với cảm xúc của người khác và có sự điều chỉnh cảm xúc theo cách na̛ng cao đời sống. Goleman (2004) cũng cho rằng “Mô hình trí tuệ cảm xúc dựa trên lý thuyết này có thể ứng dụng trực tiếp vào hiệu quả quản lý và hoàn thành công việc từ người bán hàng đến công việc quản lý. Những nghie̛n cứu của Goleman khơng chỉ dừng lại ở viẹ̛c xác định bản chất của trí tuẹ̛ cảm xúc mà ơng còn đưa ra những biẹ̛n pháp để giáo dục trí tuẹ̛ cảm xúc.
Đến năm 2000, Goleman mô tả trí tuệ cảm xúc là khả năng nhận ra cảm xúc của chúng ta và những người khác, động viên bản thân của chúng ta và quản lý cảm xúc của bản thân trong các mối quan hệ xã hội. Theo Bar-On (1997), trí tuệ cảm xúc được định nghĩa là “mảng về khả năng, năng lực và kỹ năng không nhận thức, ảnh hưởng đến khả năng của một người để thành công trong việc đối phó với nhu cầu và áp lực môi trường”. Do đó, trí tuệ cảm xúc là một trong những yếu tố quan trọng nhất quyết định sự thành công của một người trong cuộc sống và ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe tinh thần của một người. Đặc biệt, trong công việc Bar-On (2000) cho rằng, trí tuệ cảm xúc liên quan đến mối quan hệ tốt đẹp giữa chính nhân viên với người khác, và sự thích ứng với môi trường làm việc của họ để trở nên thành công hơn trong công việc.
Hơn nữa, trí tuệ cảm xúc còn đề cập đến cảm xúc của bản thân người lao động. Dulewicz & Higgs (1999) chỉ ra rằng trí tuệ cảm xúc là một sự thông minh về nhận thức, quản lý cảm xúc cá nhân và cảm giác. Họ nhấn mạnh rằng nó cũng là sự nhạy cảm và có tác động ảnh hưởng đến người khác, thúc đẩy và tạo động lực cho sự tự giác, chính xác và hành vi đạo đức. Ngoài ra, Mayer et.
(2000) đã xác định trí tuệ cảm xúc là khả năng hiểu được cảm xúc và sự hiểu biết này sẽ giúp cá nhân giải quyết vấn đề trong cuộc sống của họ. Theo đó, trí tuệ cảm xúc được tạo nên cũng được xem như là khả năng của một người để cảm nhận và thể hiện cảm xúc, hiểu và xác định mục đích với cảm xúc đó, đồng hóa cảm xúc trong suy nghĩ, quản lý cảm xúc đối với những người khác. Tuy nhiên, Najib, (2000) cho biết rằng trí tuệ cảm xúc là sự phản ánh của một người nào đó về một phản ứng hoặc phản ứng thông qua vật gì đó hoặc tình huống đã trải qua. Và trí thông minh cảm xúc sẽ tạo thành giá trị cá nh ân và 9 cũng là giá trị trong cộng đồng.
Trí tuệ cảm xúc cũng được định nghĩa là một bộ năng lực của một người có liên quan đến quản lý cảm xúc (Wonga & Law, 2002). Nelson and Low (2003) đã xác định trí trí tuệ cảm xúc như một sự kết hợp của các kỹ năng và khả năng nhận biết chính xác bản thân, cảm thấy tự tin và sẵn sàng hành xử một cách có trách nhiệm như một giá trị về nhân phẩm, xây dựng và duy trì một loạt các mối quan hệ lành mạnh, mạnh mẽ và hiệu quả trong giao tiếp, làm việc tốt với người khác, quản lý nhu cầu và áp lực hàng ngày hiệu quả. Muyia (2008), đã nói rằng trí tuệ cảm xúc là khả năng của một người nào đó thành công trong việc đáp ứng các yêu cầu về môi trường và áp lực chịu ảnh hưởng bởi sự kết hợp giữa năng lực phi nhận thức, năng lực, kỹ năng. Salim và Nasir (2010) đã chỉ ra trí tuệ cảm xúc đề cập đến khả năng cùng với năng lực thể hiện và điều khiển cảm xúc bởi một cá nhân trong bất kỳ tình huống nào.
Vì vậy, những cá nhân có năng lực hoặc có khả năng sử dụng cảm giác của bản thân và hiểu được cảm xúc của người khác là những người có trí trí tuệ cảm xúc cao. Tóm lại, có thể thấy mặc dù các nhà nghiên cứu ở trên đã giải thích trí tuệ cảm xúc theo một cách khác nhau nhưng đều chỉ ra rằng trí tuệ cảm xúc có một vài điểm chung và định nghĩa rằng đó là khả năng tự nhận thức cảm xúc của chính cá nhân đó và của người khác, điều chỉnh, phân biệt chúng và sử dụng chúng hiệu quả bằng đưa ra những suy nghĩ và hành động đúng đắn, hợp lý.2 Cấu trúc của trí tuệ cảm xúc Có nhiều quan niệm khác nhau về cấu trúc của trí tuệ cảm xúc và cho đến nay nó vẫn đang được nghiên cứu. Theo Salovey và Mayer (1990) thì trí tuệ cảm xúc bao gồm bốn khía cạnh khác nhau. Đó là đánh giá cảm xúc bản thân, đánh giá tình cảm của người khác, quản lý cảm xúc và sử dụng cảm xúc.
Cụ thể: 10 Đánh giá cảm xúc bản thân: là đánh giá và thể hiện cảm xúc trong bả n thân. Là khả năng của cá nhân để hiểu được sâu sắc của cảm xúc của họ và có thể thể hiện những cảm xúc đó một cách tự nhiên. Những người có khả năng tuyệt vời trong lĩnh vực này sẽ xác định và thừa nhận cảm xúc của họ đúng cách trước những người khác. Đánh giá cảm xúc của người khác: là khả năng đánh giá và nhìn nhận cảm xúc ở người khác.
Điều này liên quan đến khả năng của cá nhân để nhìn và hiểu những cảm xúc của những người xung quanh họ. Những người có khả năng này sẽ nhạy cảm hơn với cảm xúc và cảm xúc của người khác và đọc suy nghĩ của người đó. Quản lý cảm xúc: là khả năng của con người có thể quản lý cảm xúc của họ. Sử dụng cảm xúc: là việc sử dụng cảm xúc của cá nhân.
Cá nhân sử dụng cảm xúc của họ bằng cách hướng đến các hoạt động xây dựng và hoạt động cá nhân. Dulewicz & Higgs, (1999) cho rằng trí tuệ cảm xúc có bảy kỹ năng đó là: Tự nhận thức về bản thân là hiểu về cảm giác của bản thân. Khả năng xác định, quản lý và kiểm soát cảm xúc. Những kỹ năng này bao gồm khả năng tự tin trong việc quản lý cảm xúc và kiểm soát tác động lên môi trường làm việc.
Khả năng phục hồi cảm xúc là khả năng duy trì sự nhất quán của cảm xúc trong tình huống căng thẳng và có thể thích ứng với bất kỳ tình huống nào. Tính chính xác và toàn vẹn là khả năng tập trung vào các hành động hoặc các nhu cầu cụ thể mặc dù gặp phải những thách thức hoặc những lời chỉ trích. Động lực là áp lực hoặc sức mạnh để đạt được cái gì đó xác định rõ ràng, và có ảnh hưởng và cân bằng giữa những mục tiêu đó là ngắn và dài hạn. Tính nhạy cảm giữa các cá nhân là khả năng biết và xem xét các nhu cầu và nhận thức của người khác khi ra quyết định và đưa ra các khuyến nghị cho một vấn đề hoặc thách thức (Dulewicz & Higgs, 1999).
Ảnh hưởng là khả năng thuyết phục người khác thay đổi quan điểm của họ về một vấn đề và khuyến khích thay đổi hợp lý. 11 Trực giác là khả năng sử dụng lý luận và trực giác (cảm xúc) là thích hợp để đưa ra những quyết định có hiệu quả. Sự tận tâm và liêm chính là khả năng cam kết trong khi phải đối mặt với những thách thức, hành động một cách nhất quán và để hiểu được nhu cầu của đạo đức (Dulewicz & Higgs, 1999). Theo những cơ sở lý luận của Bar-On (2000) thì trí tuệ cảm xúc bao gồm các thành phần chính về cảm xúc bao gồm tính cá nhân, giao tiếp, khả năng thích ứng, quản lý căng thẳng và tâm trạng chung.
Cụ thể: Tính cá nhân đang đề cập đến nhận thức về tình cảm, lòng tự trọng, sự quyết đoán, tự chủ và sự độc lập (Bar-On, 2000). Cá nhân với những đặc điểm này sẽ liên hệ với cảm xúc và cảm thấy tích cực về những gì họ làm trong cuộc sống. Họ cũng là người độc lập, có thể thể hiện cảm xúc của họ, mạnh mẽ, và sau đó họ có thể truyền tải những ý tưởng và niềm tin đến với người khác.