Chương 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở lý thuyết của nghiên cứu Dựa theo đối tượng nghiên cứu là các “mối quan hệ xã hội” tác động đến việc tìm kiếm việc làm của sinh viên hiện nay, đề tài tập trung trình bày các học thuyết quan trọng với mối quan hệ xã hội của từng cá nhân. Có rất nhiều công trình nghiên cứu đã được nghiên cứu và thực nghiệm về những học thuyết này như: thuyết chức năng về “vốn xã hội”, lý thuyết nguồn lực xã hội, “thuyết mạng lưới xã hội”, … 1. Lý thuyết phân tích mạng lưới xã hội Phan Thị Kim Dung (2016) đã chỉ ra rằng thuyết phân tích mạng lưới quan hệ xã hội dựa trên điều kiện và sự kết nối giữa các “nút”.
“Nút” là một mạng lưới xã hội hay còn gọi là cấu trúc xã hội của một cá nhân hay một tổ chức được gắn kết với nhau hay phụ thuộc lẫn nhau (VD: bạn bè, họ hàng, quan hệ trao đổi kinh tế…). “Nút” ở đây chính là các cá nhân tham gia vào mạng lưới, còn sự kết nối giữa các nút chính là tần suất hay là sự liên hệ giữa những các “nút” với nhau. Có nhiều loại kết nối giữa các nút tập hợp lại thành một mạng xã hội chính là một bản đồ của tất cả các quan hệ giữa các nút với nhau nơi mà các nút sẽ là các điểm còn mối quan hệ chính là các dòng kết nối giữa các điểm với nhau9. Hình 1: Sơ đồ mô tả một mạng lưới của “Nút” (Phan Thị Kim Dung, 2016).
Nhìn vào sơ đồ trên ta có thể thấy được ở trong một mạng lưới thì các “nút” chính là các điểm A,B,C,D,…và các đoạn thẳng như AB,AD,BE,… chính là nói đến các mối liên hệ 9 Phan Thị Kim Dung. Nghiên cứu mạng lưới xã hội dưới cách tiếp cận xã hội học. Tạp chí khoa học – Trường ĐH Quy Nhơn, ISSN: 1859-0357, tập 10, số 3, Tr 29-35 15 giữa các nút với nhau còn độ đậm nhạt của mũi tên chỉ sự liên kết đó là mạnh yếu của mối liên hệ ấy. Giữa những các nút cần có sự tương, tác tin tưởng,…chia sẻ thông tin với nhau thì sự liên kết của mạng lưới mới được củng cố bền chặt hơn.
Trong một hệ thống các mạng lưới thì các mạng lưới nhỏ thường có sự liên kết chặt chẽ hơn giữa các thành viên nhưng đem lại lợi ích ít hơn so với các mạng lưới lớn, liên kết lỏng lẻo. Tuy nhiên mạng lưới lớn thường có tính cởi mở hơn, nhiều kết nối xã hội hơn sẽ mang lại nhiều cơ hội mới hơn cho các thành viên hơn. Và khi một nhóm các cá nhân nếu có mối liên hệ với một nhóm trong mạng lưới khác cũng sẽ đem lại nhiều cơ hội hơn cho toàn bộ mạng lưới của họ. Lý thuyết về mạng lưới xã hội Lý thuyết về mạng lưới xã hội là một vấn đề của phương pháp luận liên quan đến các nghiên cứu về xã hội học, nhân khẩu học và nhiều chuyên ngành khoa học xã hội.
Người đầu tiên đã đặt nền móng cho chủ đề nghiên cứu mạng lưới xã hội là Sundt (1856) trong cuộc nghiên cứu tổ chức xã hội của người nông dân trong cộng đồng. Sundt đã chỉ ra rằng mối quan hệ giữa các gia đình được tạo nên thông qua các dịp đặc biệt như: ma chay, cưới hỏi…Bài nghiên cứu này chính là nền móng để cho các nhà khoa học xã hội khác như Barnes, Wolf và George Simmel, Jacos Moreno… tiếp tục đi sâu vào nghiên cứu. Barnes lần đầu tiên công bố bài viết về thuyết mạng lưới xã hội trên tạp chí “Quan hệ con người”. Những tư tưởng tiên phong liên tiếp xuất hiện trong triết học xã hội của Georg Simmel (đầu thế kỷ XX), tư tưởng tâm lý xã hội của Moreno (đầu những năm 30), nhân học cấu chức chức năng của Radcliffe Brown, nhân học cấu trúc của Claude Levis-Strauss, ngôn ngữ học của Roman Jakobson và các lý thuyết toán học (đại số tuyến tính, ma trận và các lý thuyết về đồ thị).
Nghiên cứu mạng lưới hoàn chỉnh và dựa vào lý thuyết về biểu đồ và ma trận để thể hiện và phân tích các dữ liệu về quan hệ nhằm làm rõ các đặc tính cấu trúc mạng lưới. Đặc điểm về mặt cấu trúc của một mạng lưới xã hội dựa trên các yếu tố: đặc điểm của mối quan hệ (loại tương tác) định hướng – không định hướng, đối xứng – phi đối xứng, trực tiếp gián tiếp, tính đồng nhất: sự tương đồng về đặc 16 điểm giữa các nhân tố trong mối quan hệ, sức mạnh của các quan hệ, tần xuất tương tác v. và đặc điểm của cấu trúc: kiểu quan hệ, mật độ của các mạng lưới, khoảng cách giữa các thành viên trong mạng lưới, các dạng thức tập trung, những lỗ hổng cấu trúc v. (1957), “Mạng lưới xã hội được hiểu là một cấu trúc xã hội hình thành bởi những cá nhân hay tổ chức.
Trong đó, các cá nhân thường được gắn kết bởi sự phụ thuộc lẫn nhau thông qua những nút thắt như tình bạn, quan hệ họ hàng, sở thích, trao đổi tài chính, quan hệ tình dục, mối quan hệ về niềm tin, kiến thức và uy tín. Những điểm nút gắn kết cá nhân với xã hội chính là mối liên hệ xã hội của mỗi cá nhân. Trong đó, mạng lưới xã hội cũng có thể được dùng như nguồn vốn xã hội và giá trị mà cá nhân có được thông qua nó”. Fitchter đồng thời nhấn mạnh đến mạng lưới xã hội bao gồm nhiều mối quan hệ đôi.
Mạng lưới xã hội có cấu trúc gồm các cá nhân hay tổ chức. Trong đó các cá nhân được liên kết với nhau thông qua các mối quan hệ giữa người thân trong gia đình, hàng xóm, bạn bè thân thiết, có sự trao đổi tài chính…dựa trên niềm tin, kiến thức và uy tín. Fichter (1957) cho rằng mạng lưới xã hội gồm nhiều mối quan hệ hai hay ba và không ai trong đó có mối liên kết với tất cả mọi người. Cũng có quan điểm khác cho rằng mạng lưới xã hội bao gồm các mối quan hệ giữa các thực thể xã hội.
Nó bao gồm các nhóm xã hội, tổ chức, liên hiệp,. và cả các quốc gia. Các mối quan hệ có thể mang nhiều nội dung thông qua trao đổi hàng hóa, sự tương trợ, trao đổi thông tin…Lê Minh Tiến (2006). Lý thuyết nguồn lực xã hội.
Vốn xã hội là một nguồn lực nằm trong mạng lưới quan hệ xã hội, Lin (1999) cho rằng: “Một cá nhân khi tham gia vào một mạng lưới xã hội mà ở đó các thành viên của mạng lưới đang sở hữu, kiểm soát nguồn lực cần thiết cho mục tiêu của cá nhân thì đó chính là một nguồn lực xã hội”. Nguồn lực chính là bộ phận trung tâm của VXH, nó chỉ “các đường dây” trong mạng lưới hay còn chỉ đến khối lượng và mức độ của các mối quan hệ gồm các mạng lưới kết nối giữa con người với con người. 17 Vốn xã hội cấu trúc thể hiện mối liên hệ giữa các thành viên trong mạng lưới quan hệ giúp cho việc hoạt động trao đổi, chia sẻ thông tin và ra quyết định nhanh chóng. Các cấu trúc được đặt ra bằng những quy tắc, quy định và luật lệ.
Đồng thời, nó còn giúp thúc đấy sự tương tác xã hội giữa các yếu tố với nhau. Vốn xã hội tri nhân chỉ ra các nút trong mạng lưới như: các chuẩn mực, lòng tin, trách nhiệm và sự kì vọng của mỗi cá nhân tham gia mạng lưới. Trong khi đó, lòng tin được xem như là yếu tố quan trọng nhất của khía cạnh vốn xã hội tri nhân, nó thể hiện ở chỗ một cá nhân họ cho rằng mình có thể tin tưởng vào người khác, tin vào những thông tin họ nhận được khi tham gia mạng lưới (Putnam,1995; Fukuyama, 1995). Cơ bản nhất là lòng tin, nó được thể hiện qua việc các cá nhân trong mạng lưới cho rằng có thể tin tưởng vào người khác.
Đây chính là một loại chất bôi trơn của những cuộc giao tiếp nó tạo nên lòng tin tổng quát và lòng tin cụ thể với từng cá nhân trong vốn xã hội. Vì vậy vốn xã hội chỉ đầy đủ khi bao gồm cả vốn xã hội cấu trúc và vốn xã hội tri nhận (Van Deth, 2008). Hình 2: Các khía cạnh của vốn xã hội (Van Deth, 2008). Trong nghiên cứu, các nhà khoa học thường chia vốn xã hội theo ba chức năng: liên kết (bonding), bắc cầu (briding) và kết nối (linking): Vốn xã hội liên kết thường tập trung tìm hiểu sự đồng nhất trong các mạng lưới xã hội thông qua thành phần (compotision) và chức năng (funcition) của chúng.
Nó ám chỉ những mối liên hệ gần gũi, liên hệ mạnh liên kết với nhau như những mối liên hệ gần gũi 18 thân quen trong gia đình, bạn bè, hàng xóm…Ở đây, nó giúp liên kết những người có sự tương đồng trong đặc điểm nhân loại học hình thể hay cùng cấp độ tài chính- xã hội với nhau. Đây là một loại mạng lưới có tính hướng nội, liên kết chặt chẽ theo chiều sâu và chiều ngang, củng cố thêm về sự đồng nhất và đặc trưng riêng của mạng lưới. Về mặt cấu trúc đây là một loại mạng lưới đóng kín theo tổ chức phi chính thức; xét về mặt tri nhận đây là mạng lưới gắn với lòng tin về kinh nghiệm, kiến thức của từng cá nhân. Mặt tích cực nó giúp liên kết gắn bó tạo nên lòng tin giữa gia đình, hàng xóm, bạn bè…nhưng nó cùng tiềm ẩn nguy cơ cho xã hội bởi khuyết điểm “siêu kết dính”, tạo sự kháng cự đối với những thành viên khác nhóm, đồng thời cũng tạo áp lực, làm mất sự tự do trong mạng lưới (Portes, 1998).
Vốn xã hội bắc cầu chỉ những mối liên hệ giữa những người hay nhóm người không cùng chung đặc trưng về nhân học hình thể nhưng lại có cùng cấp độ tài chính- xã hội như nhau. Nó kết nối nhiều nhóm xã hội với nhau theo chiều ngang và ngược lại với sự loại trừ những người ngoài nhóm như vốn xã hội liên kết. Nó kết nối cho nhưng mối quan hệ mới như bạn bè mới quen, đồng nghiệp mới vào,…thúc đẩy sự kết nối với các nguồn lực bên ngoài. Có thể nói “vốn xã hội bắc cầu” đã dẫn đến “lòng tin tổng quát” trong định nghĩa vốn xã hội.
Đa số các tổ chức đều có “lỗ hổng cấu trúc” trong các kênh kết nối với nhau, những người có thể liên kết các lỗ hổng giữa các hội nhóm với nhau sẽ tích lũy thêm được nhiều vốn xã hội (Burt 1992).