Chương 1: Giới thiệu vấn đề nghiên cứu. Chương 2: Tổng quan nghiên cứu liên quan đến ý định lựa chọn sàn TMĐT để xuất khẩu của doanh nghiệp của SME. Chương 3: Kết quả nghiên cứu và bình luận. Chương 4: Kết quả và khuyến nghị.
Ý nghĩa nghiên cứu Về lý luận: Đề tài này góp phần bổ sung và phát triển kiến thức về ý định hành vi của các SME trong lĩnh vực TMĐT quốc tế. Đề tài này cũng đóng góp vào việc xây dựng và kiểm chứng một mô hình lý thuyết mới về ý định lựa chọn nền tảng TMĐT của các SME dựa trên sự kết hợp giữa mô hình chấp nhận công nghệ (TAM) và thuyết hành vi dự định (TPB). Mô hình lý thuyết này có thể được áp dụng cho các nghiên cứu sau này về cùng chủ đề hoặc các chủ đề liên quan. Đối với thực tiễn: Đề tài này giúp các SME hiểu được các yếu tố ảnh hưởng đến ý định lựa chọn nền tảng TMĐT để xuất khẩu hàng hóa, từ đó có thể lựa chọn 5 được nền tảng phù hợp nhất với hoạt động kinh doanh của mình.
Đồng thời, đề tài này cũng giúp các nhà hoạch định chính sách và các nhà quản lý có được cái nhìn tổng quan về thực trạng và xu hướng của TMĐT quốc tế ở Việt Nam, từ đó có thể hỗ trợ và khuyến khích các SME tham gia vào TMĐT quốc tế một cách hiệu quả và bền vững. 6 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN Ý ĐỊNH LỰA CHỌN SÀN TMĐT ĐỂ XUẤT KHẨU CỦA SME 2. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan 2. Các công trình về "xuất khẩu của SME" Trong nghiên cứu về xuất khẩu của SME tại Việt Nam, đã có sự quan tâm đáng kể từ cộng đồng nghiên cứu khoa học và các nhà nghiên cứu trong nhiều năm qua.
Các công trình nghiên cứu này đã giúp làm sáng tỏ các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu của SME và đóng góp kiến thức quý báu cho lĩnh vực này. Nghiên cứu “Digitalization and SMEs’ Export Management: Impacts on Resources and Capabilities” của Benjamin Dethine, Manon Enjolras, Davy Monticolo tập trung vào mối liên hệ giữa sự số hóa và quốc tế hóa của SME. Trong đó, nghiên cứu đã xác định rõ ảnh hưởng lý thuyết của các yếu tố số hóa đối với thực tiễn xuất khẩu của các công ty. Bằng việc kết hợp giữa tài nguyên số hóa và việc sử dụng chúng thông qua các khả năng cụ thể, các yếu tố hỗ trợ số hóa đã được phân loại thành ba loại chính: TMĐT, tiếp thị điện tử và kinh doanh điện tử.
Phân tích dữ liệu từ các thực hành xuất khẩu tốt nhất đã chỉ ra các ảnh hưởng khác nhau tùy thuộc vào loại yếu tố hỗ trợ và thực hành xuất khẩu được xem xét. Nghiên cứu của Gashi, Petrit, Iraj Hashi, and Geoff Pugh (2014) đã đóng góp cho sự chuyển đổi bằng cách điền vào khoảng trống quan trọng trong việc hiểu quá trình quốc tế hóa của SMEs và xác định một bộ biến số toàn diện để giải thích hành vi xuất khẩu của các doanh nghiệp trong các Nước chuyển đổi (TCs). Nghiên cứu “SME innovation, exporting and growth: A review of existing evidence” (2015) cũng đã tóm lược và tổng hợp các bằng chứng về sự đổi mới của SME (SMEs), xuất khẩu và tăng trưởng, tập trung đặc biệt vào các yếu tố nội và ngoại (hệ sinh thái) hỗ trợ, cũng như tương tác giữa sự đổi mới và xuất khẩu trong quá trình phát triển của SMEs. (2016), Các SME (SMEs) từ các thị trường mới nổi ở Latin America ngày càng tham gia vào các hoạt động liên quan đến xuất khẩu.
Nghiên cứu này đề xuất và kiểm tra một mô hình khái niệm bao gồm các yếu tố thúc đẩy và ngăn chặn chính của độ tăng cường xuất khẩu cho các SMEs đến từ Chile. Mô hình này sử dụng phân tích yếu tố xác nhận (CFA) để phát triển 7 các cấu trúc đa mục tiêu cơ bản và mô hình phương trình cấu trúc (SEM) để kiểm tra mô hình. Kết quả cho thấy cam kết xuất khẩu của quản lý cũng như các nguồn lực và khả năng quản lý tổ chức là những yếu tố thúc đẩy độ tăng cường xuất khẩu. Ngoài ra, kết quả cũng cho thấy nhận thức của quản lý về các rào cản nội bộ, như thiếu kinh nghiệm và kiến thức quốc tế của quản lý, đóng vai trò quan trọng làm rào cản đáng kể trong việc phát triển xuất khẩu.
Tuy nhiên, khác với các kết quả trước đây từ các nước phát triển, không có bằng chứng về các rào cản chi phí bên ngoài có ảnh hưởng đáng kể đến độ tăng cường xuất khẩu, có thể là một dấu hiệu về một môi trường kinh doanh cạnh tranh tại Chile. Nghiên cứu của Pickernell và cộng sự (2016) cho thấy các yếu tố quyết định cho việc xuất khẩu của SME bao gồm ngành công nghiệp, độ tuổi và đặc điểm của chủ SME, cùng với các nguồn lực có sẵn của doanh nghiệp, bao gồm vốn nhân lực của chủ doanh nghiệp, sử dụng công nghệ và sở hữu trí tuệ. Trong khi việc tập trung vào đổi mới liên tục được liên kết tích cực với việc xuất khẩu, thì việc tập trung vào tăng trưởng lại không có mối liên kết. Những kết quả này cung cấp thông tin quan trọng cho cả thực tiễn và chính sách, vì hoạt động xuất khẩu của SMEs vẫn liên kết chặt chẽ với chính sách phát triển kinh tế.
Một nghiên cứu của Luong, Nguyen và Phan (2017) đã khảo sát 200 SME Việt Nam hoạt động trong lĩnh vực dệt may để nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố nội bộ và ngoại bộ đến khả năng xuất khẩu của họ. Nghiên cứu này đã sử dụng mô hình hồi quy logistic kết hợp với phân tích nhân tố khám phá. Kết quả cho thấy rằng các yếu tố nội bộ như kích thước doanh nghiệp, năng lực quản lý, năng lực sản xuất, năng lực đổi mới và năng lực tài chính đều có tác động tích cực đến khả năng xuất khẩu của SME, trong khi các yếu tố ngoại bộ như thị trường đích, thị trường nội địa, cạnh tranh quốc tế và chính sách thương mại đều có tác động tiêu cực. Nghiên cứu này cũng đã đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao khả năng xuất khẩu của SME Việt Nam trong lĩnh vực dệt may (Luong, Nguyen, & Phan, 2017).
Một nghiên cứu của Leonidou, Katsikeas, Palihawadana và Spyropoulou (2007) đã khảo sát 1.024 SME Anh hoạt động trong các lĩnh vực khác nhau để nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố chiến lược, tác động và kiểm soát đến hiệu quả xuất khẩu của họ. Nghiên cứu này đã sử dụng mô hình cấu trúc phương sai kết 8 hợp với phân tích nhân tố xác nhận. Kết quả cho thấy rằng các yếu tố chiến lược như định hướng xuất khẩu, định hướng khách hàng, định hướng đổi mới và định hướng hợp tác đều có tác động tích cực đến hiệu quả xuất khẩu của SME, trong khi các yếu tố tác động như rào cản xuất khẩu, cạnh tranh quốc tế và sự hỗ trợ của chính phủ đều có tác động tiêu cực. Nghiên cứu này cũng đã chỉ ra rằng các yếu tố kiểm soát như kích thước doanh nghiệp, kinh nghiệm xuất khẩu, ngành kinh doanh và thị trường đích đều có ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa các yếu tố chiến lược, tác động và hiệu quả xuất khẩu của SME (Leonidou, Katsikeas, Palihawadana, & Spyropoulou, 2007).
Một nghiên cứu của Love, Roper và Zhou (2016) đã khảo sát 2.500 SME ở 18 quốc gia châu Âu hoạt động trong các lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ để nghiên cứu ảnh hưởng của các hoạt động đổi mới đến hiệu quả xuất khẩu của họ. Nghiên cứu này đã sử dụng mô hình hồi quy Tobit kết hợp với phân tích đường cong ROC. Kết quả cho thấy rằng các hoạt động đổi mới như đổi mới sản phẩm, đổi mới quy trình, đổi mới tổ chức và đổi mới tiếp thị đều có tác động tích cực đến hiệu quả xuất khẩu của SME, nhưng mức độ ảnh hưởng khác nhau tùy thuộc vào ngành kinh doanh, thị trường đích và khu vực địa lý. Nghiên cứu này cũng đã đề xuất một số khuyến nghị nhằm khuyến khích các hoạt động đổi mới của SME châu Âu để nâng cao hiệu quả xuất khẩu của họ (Love, Roper, & Zhou, 2016).
Các công trình về "ý định lựa chọn sàn TMĐT" Đã có nhiều nghiên cứu về ý định sử dụng sàn TMĐT nhưng số lượng nghiên cứu về “ý định lựa chọn sàn TMĐT” hay “ý định lựa chọn sàn TMĐT để xuất khẩu” còn hạn chế. Dưới đây là một số công trình nghiên cứu liên quan. Theo Ahmad và cộng sự (2015), việc áp dụng TMĐT trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs) tại Malaysia bị ảnh hưởng bởi lợi thế tương đối được nhận thức, sự tương thích được nhận thức, kiến thức và chuyên môn của người quản lý/chủ sở hữu, các đặc điểm quản lý và yếu tố người ảnh hưởng từ bên ngoài. Nghiên cứu này đóng góp vào việc nâng cao hiểu biết về các yếu tố xác định việc áp dụng TMĐT trong các SMEs và cung cấp một góc nhìn thú vị từ Malaysia.
Những bên quan tâm đến việc quảng bá doanh nghiệp của họ trực tuyến có thể thấy kết quả này hữu ích để hướng dẫn cho nỗ lực của họ. 9 Nghiên cứu “Anticipated emotion in consumers’ intentions to select eco- friendly restaurants: Augmenting the theory of planned behavior” đã chỉ ra rằng quy chuẩn chủ quan, thái độ, nhận thức kiểm soát hành vi đều có ảnh hưởng theo từng mức độ khác nhau tới ý định lựa chọn nhà hàng thân thiện với môi trường. Trong đó mức độ ảnh hưởng từ cao đến thấp như sau: quy chuẩn chủ quan, thái độ, nhận thức kiểm soát hành vi. Trong nghiên cứu "Ý định lựa chọn sàn TMĐT của người tiêu dùng khi mua hàng hóa ngoài lãnh thổ Việt Nam" (2021), tác giả phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến ý định chọn sàn TMĐT của người tiêu dùng khi mua hàng ngoại quốc bằng cách kết hợp phân tích cả định tính và định lượng.
Nghiên cứu chỉ ra có 4 yếu tố quan trọng tác động đến việc lựa chọn sàn TMĐT khi mua hàng ngoại lãnh thổ Việt Nam: Kỳ vọng hiệu quả, Lòng tin, Thói quen và Hiệu ứng "cái đuôi dài". Trong số này, Thói quen có ảnh hưởng mạnh nhất, trong khi Lòng tin có ảnh hưởng thấp nhất. Từ những kết quả này, nhóm tác giả đưa ra những đề xuất hỗ trợ các doanh nghiệp kinh doanh sàn TMĐT tại thị trường Việt Nam và các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ mua hàng xuyên biên giới nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động. Nghiên cứu của Quân, N.